4. Nước Cha Trị Đến
Ta có thể và rất tự nhiên coi lời nguyện cho “Nước Cha trị đến” như lời cầu xin chính của Kinh Lạy Cha, vì Nước Thiên Chúa chắc chắn là sứ điệp và là lời công bố chính của Chúa Giêsu. Khi kể lại lần đầu tiên Chúa Giêsu xuất hiện nơi công chúng, phúc âm Mác-cô đã tóm tắt sứ điệp của Người như sau: “thì giờ đã đến và Nước Thiên Chúa đã gần kề; hãy ăn năn và tin vào phúc âm” (Mc 1:14; xem Mt 4:17). Phần thánh Luca, ngài thuật lại việc Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải tiến về phía trước ra sao: “Ta còn phải rao giảng tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành thị khác nữa, vì Ta được sai đến vì mục tiêu này” (Lc 4:43). Việc công bố Nước Thiên Chúa vì thế không là gì khác mà là chính mục tiêu của việc Chúa Giêsu bước vào trần gian. Tính trung tâm của ý niệm Vương Quốc càng trở nên rõ ràng khi ta biết rằng thuật ngữ Nước Thiên Chúa hay Nước Trời xuất hiện 46 lần trong Phúc Âm Mátthêu, 16 lần trong Phúc Âm Máccô và 38 lần trong Phúc Âm Luca.
1. Nước hay triều đại
Mà nếu lời cầu xin này chính yếu như thế, ta cần hiểu nghĩa của nó một cách rõ ràng. Ở đây, ta thấy có chữ Nước. Chữ này tương đương như chữ kingdom (vương quốc) của tiếng Anh mà ngày nay phần đông người ta hiểu như một lãnh thổ hay một khu vực lãnh thổ dưới quyền cai trị của một chính phủ hay một vị vua nào đó. Như Nước Anh, vương quốc Bỉ… Nhưng trong Tân Ước, nước không phải là một lãnh thổ, mà đúng hơn là triều đại của Thiên Chúa. “Nước Thiên Chúa đã gần kề” chỉ có nghĩa là “Thiên Chúa sắp sửa khởi đầu triều đại của mình; vương quyền của Người nơi trần gian sắp sửa bắt đầu”. Tưởng cũng nên nhấn mạnh ở đây, lời cầu xin này trong bản tiếng La-tinh như sau: “Adveniat Regnum tuum”. “Regnum” quả có nghĩa là triều đại và đã có lần Hội Đồng Giám Mục Việt-Nam đã cho đọc thử bản dịch mới của Kinh Lạy Cha trong đó, thuật ngữ Triều Đại đã được sử dụng thay thế cho thuật ngữ Nước. Không hiểu vì sao, việc đọc thử ấy đã không biến thành việc đọc thật sự trong phụng vụ và việc cầu nguyện hàng ngày.
Điều thứ hai, Tân Ước sử dụng đến hai thuật ngữ: Nước Chúa và Nước Trời. Hai thuật ngữ ấy cùng chỉ một thực tại, tìm cách phân biệt hai thuật ngữ này là điều sai lầm. Có điều, Phúc Âm Mátthêu ít khi nói Nước Chúa, trái lại hầu như lúc nào cũng nói đến Nước Trời. Trái lại hai phúc âm nhất lãm kia, tức các Phúc Âm Máccô và Luca, thì hầu như không bao giờ nói tới Nước Trời, mà luôn nói đến Nước Chúa. Lý do có thể là vì người Do Thái ngoan đạo ít khi dám nhắc đến tên Thiên Chúa trên môi miệng mình. Nếu có thể, họ thích dùng kiểu nói vòng vo (periphrasis) đầy tôn kính. Mà chữ vòng vo tôn kính chỉ Thiên Chúa đối với họ chính là Trời. Phúc Âm Mátthêu hiển nhiên được coi có tính Do Thái hơn tất cả các phúc âm kia, cho nên để tránh nói Thiên Chúa, soạn giả đã dùng chữ Trời thay thế. Nên không nói Nước Thiên Chúa mà nói Nước Trời. Trái lại, hai soạn giả phúc âm Máccô và Luca, vì ít có tính Do Thái hơn, nên chả ngần ngại gì không nói Nước Thiên Chúa.
2. Định nghĩa hay không định nghĩa
Mặt kkác, xem ra không ai bận tâm đến việc định nghĩa chữ Nước hay Triều Đại. Nước hay Triều Đại ấy được mô tả bằng hình ảnh và loại suy cũng như bằng các đòi hỏi và hiệu quả của nó, chứ không bằng nhiều lời định nghĩa. Tuy nhiên, để hiểu nó, bắt buộc ta phải tìm ra một định nghĩa để làm việc.
Văn chương Hi-bá-lai nổi tiếng về việc năng sử dụng lối song đối. Thói quen của họ là nói đến sự việc hai lần: vế thứ hai của song đối nhắc lại, hay khuếch đại, hoặc giải thích vế đầu. Đặc điểm ấy dễ thấy nhất trong các Thánh Vịnh. Như Thánh Vịnh 46:8:
Chúa các đạo binh ở với chúng ta;
Chúa Gia-cóp là nơi trú ẩn của ta.
Hay Thánh Vịnh 121:5:
Chúa là Đấng gìn giữ con;
Chúa là bóng che bên tay phải con.
Trong Kinh Lạy Cha, hai lời cầu xin sau đây đã được đặt song song bên cạnh nhau:
Nước Cha trị đến
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời (Mt 6:10).
Theo phép song đối của văn chương Hi-bá-lai, thì vế thứ hai trên đây quả đã giải thích và định nghĩa cho vế thứ nhất, như thế, ta có định nghĩa sau đây: Nước Chúa là một xã hội trên trần gian trong đó ý Chúa được thể hiện cách hoàn hảo giống như ở trên trời. Nghĩa là thể hiện ý Thiên Chúa và hiện diện trong Nước (của Người) chỉ là một điều, cùng là một điều. Là công dân một nước hay thần dân một vương quốc, nhất thiết bao hàm việc vâng theo luật lệ của nước ấy hay các sắc chỉ của vua ấy. Là thành viên Nước Thiên Chúa nhất thiết bao gồm việc chấp nhận ý Thiên Chúa.
Định nghĩa trên giúp ta hiểu vị thế của Chúa Giêsu trong Nước Chúa và đồng thời giải thích được một số câu nói lạ lùng trong Tân Ước. Mátthêu 11:1 cho biết Chúa Giêsu phán thế này: “Ta bảo thật các ông, trong số những người do phụ nữ sinh ra, không ai trọng hơn Gioan Tẩy Giả; ấy thế nhưng người thấp kém nhất trong Nước Trời cũng cao trọng hơn ông ta” (xem thêm Luca 7:28). Hệ luận là với việc Chúa Giêsu và Nước Trời xuất hiện, một điều gì đó hoàn toàn mới đã bước vào cuộc đời. Điều mới ấy là điều gì? Ta hãy nhớ lại định nghĩa trên đây về Nước Trời: hiện diện trong Nước ấy là hoàn toàn chấp nhận và thi hành ý Thiên Chúa.Chúa Giêsu Kitô là người và là người duy nhất từng chấp nhận và thi hành trọn vẹn ý Thiên Chúa. Cho nên, Nước Chúa đã xuất hiện cùng với Chúa Giêsu. Nước Chúa đến trong chính Người. Người nhập thể và nhập thân Nước ấy. Chúa Giêsu không chỉ công bố Nước Chúa; mà Người là chính Nước Chúa thể hiện trong cuộc sống con người. Người mang tới cho con người cả sứ điệp lẫn sự tỏ hiện của Nước Chúa.
Như thế ngay lập tức ta nhìn Nước Thiên Chúa bằng hạn từ ý Thiên Chúa, và do đó Nước Thiên Chúa trở thành một việc bản thân. Nước ấy đầu hết không phải là ý niệm bao gồm quốc gia, dân tộc và xứ sở. Nước Thiên Chúa là một điều gì đó bắt đầu với chính tôi. Nói về Nước ấy không phải để đưa ra một lý thuyết thần học, dựng ra một chương trình chính trị, nhưng là đặt mình đối diện với một thách đố bản thân trong đó ta chấp nhận hay từ khước ý Thiên Chúa dành cho ta. Nước Thiên Chúa, do đó, bao hàm việc cá nhân chấp nhận ý Thiên Chúa. Cầu xin cho “Nước Cha trị đến” có nghĩa là cầu xin “Lạy Chúa, xin giúp con thực hiện ý Chúa”.
Điều này càng rõ hơn khi ta xem hai đoạn Tân Ước song song sau đây. Trong Máccô 9:43, ta thấy:
Nếu tay con làm cớ cho con phạm tội thì hãy cắt bỏ nó đi; thà cụt tay mà vào được Nước Thiên Chúa còn hơn là đủ hai tay mà phải vào hỏa ngục.
Còn trong Máccô 9:47, ta thấy:
Nếu mắt con làm cớ cho con phạm tội, thì hãy móc bỏ nó đi; thà một mắt mà vào được Nước Thiên Chúa còn hơn là đủ hai mắt mà phải vào hỏa ngục.
Trong hai đoạn văn trên sự sống và Nước Chúa chỉ là một điều, cùng là một điều. Ta chỉ tìm thấy sự sống trong vâng phục Thiên Chúa. Thể hiện ý Người, ta tìm được bình an cho ta. Chỉ trong Nước Thiên Chúa, mới có sự sống, vì rõ ràng sự sống chỉ là điều nó có nghĩa khi nó được sống trong vâng phục ý Thiên Chúa.
3. Ý nghĩa Nước Chúa
Khi đã hiểu được mối liên hệ gắn bó giữa Nước Chúa với ý Chúa và sự sống, ta sẽ hiểu được rất nhiều các đoạn văn, hình ảnh và ý niệm của Tân Ước.
i. Trước hết, Nước Chúa phải bắt đầu bằng lời mời. Đó là lời mời đích danh Thiên Chúa ngỏ với mỗi người để họ chấp nhận ý Người, ý đã được biểu lộ trong Chúa Giêsu Kitô. Chính vì thế, nó đã được lên hình tượng như một bữa tiệc hay bàn tiệc được chủ nhà mời khách đến dự. Khách có thể chấp nhận hay từ chối lời mời ấy và do đó lãnh nhận vẻ vang hay điếm nhục (Mátthêu 22:1-14; Luca 14:16-24). Bước vào Nước Chúa là chấp nhận lời mời Thiên Chúa gửi cho khách mời của Người, và khách mời phải luôn luôn chấp nhận luật lệ của gia đình nơi ông bước vào.
ii. Chính vì lẽ trên, Nước Chúa và thống hối luôn luôn đi đôi với nhau. Sứ điệp tiên khởi của Chúa Giêsu là lời kêu gọi thống hối vì Thiên Chúa sắp sửa khởi đầu triều đại của Người (Máccô 1:14; Mátthêu 4:17). Xét theo chiểu tự, thống hối có nghĩa là thay đổi tâm trí (metanoia); còn ăn năn trở lại có nghĩa là quay lại và hướng về phía ngược lại. Đối với cuộc đời, bản năng tự nhiên của con người là muốn biến ý chí, ước muốn và hoài mong riêng của mình thành lực lượng chủ chốt và chuyển dịch mọi sự khác ở trên đời. Khi người nào đó bước vào Nước Chúa, họ phải có được sự thay dạ đổi lòng giúp họ thôi không còn vâng theo ý chí riêng của mình nữa, mà là theo ý Thiên Chúa, là thôi không còn nhìn vào mình mà là nhìn vào Chúa. Kitô hữu là người biết chấp nhận rằng họ không còn bao giờ làm điều họ thích nữa; nhưng luôn luôn điều Chúa thích. Cuộc sống Kitô giáo bắt đầu với họ, họ khởi sự bước vào Nước Chúa, khi họ lên tiếng hỏi, như Thánh Phaolô trên đường tới Đamát đã hỏi: “Lạy Chúa, con phải làm gì?” (Công Vụ 22:10).
iii. Đó cũng là lý do tại sao Nước Chúa nhất thiết khởi đầu từ những khởi sự nhỏ nhất. Người ta không bước vào Nước Chúa như những đám đông; họ phải bước vào đó như những cá nhân; vì cái lúc bước vào ấy bao giờ cũng là một chấp nhận ý Chúa có tính bản thân và cá thể. Đó là lý do tại sao việc hạt mù tạt, một thứ hạt nhỏ nhất trong các hạt, lớn thành một cây to lại là biểu tượng của Nước Chúa (Mátthêu 13:31, 32). Đó là lý do tại sao, nếu một ai đó được đặt vào một môi trường thù nghịch hay thờ ơ với lời mời gọi của Thiên Chúa, họ không nên coi đó như điều đáng tiếc và đáng ghét, nhưng là đặc ân và là thách thức làm hạt nhỏ xíu từ đó phát sinh ra Nước Chúa.
iv. Điều đó cũng giải thích tại sao người ta không còn xa Nước Chúa. Chúa Giêsu từng nói với Thầy Thông Luật khôn ngoan và nhiều hiểu biết rằng ông ta không xa Nước Thiên Chúa (Máccô 12:28-34). Người ta có thể ở trong tình thế hiểu biết ý Chúa và phần nào đó muốn chấp nhận ý ấy, nhưng lại run sợ trước viễn ảnh phải vâng phục hoàn toàn. Đó chính là lý do tại sao một trong các cản trở không vào được Nước Chúa là thiếu khả năng thực hiện một quyết định dứt khoát. Chúa Giêsu từng nói với những kẻ muốn dấn bước theo chân Người rằng: “Ai đã đặt tay vào chiếc cày mà còn nhìn lại phía sau không xứng đáng với Nước Chúa” (Luca 9:61, 62). Không thể có bất cứ điều gì gọi là trung lập tốt lành đối với Nước Chúa được. Ta có thể đang ở ngưỡng cửa của nó, nhưng vẫn không vào được trong nó cho đến lúc chịu quyết định dứt khoát chấp nhận ý Thiên Chúa.
v. Điều đó cũng giải thích tại sao hoàn cảnh do Nước Chúa tạo ra chủ yếu lại có sự pha trộn. Có đến hơn một dụ ngôn của Chúa Giêsu nhắc đến điểm này. Lúa mì và cỏ dại cùng mọc với nhau (Mátthêu 13:24-30). Lưới vét gom đủ thứ cá (Mátthêu 13:47). Nếu việc vào Nước Chúa và việc chấp nhận ý Chúa đều là một việc và cùng là một việc, thì quả có đủ loại đáp ứng đối với các đòi hỏi của Nước Chúa ấy. Có thể có thẳng thừng và cố ý từ khước ý Thiên Chúa. Mà cũng có thể có ước muốn chấp nhận ý ấy nhưng lại thiếu khả năng tùng phục cần thiết. Rất có thể có hàng loạt mức độ tiếp nhận khác nhau đi từ việc chấp nhận có tính dò chừng, sợ sệt đến việc cam kết hoàn toàn có tính hào hiệp và mạo hiểm. Sự pha trộn trong hoàn cảnh con người là một điều có sẵn trong thân phận họ, trong các liên hệ của họ với Thiên Chúa và ý muốn của Người.
vi. Chính ở đây, ta thấy có sự khác biệt trong ý niệm Nước Thiên Chúa do Chúa Giêsu đem tới cho con người. Chúa nói với Philatô: “Nước tôi không thuộc thế gian này” (Gioan 18:36). Người Do Thái quan niệm Nước Chúa theo nghĩa thịnh vượng vật chất, quyền uy chính trị, sự vĩ đại của quốc gia. Vì thế trong Nước Thiên Chúa, họ mong chờ một thế giới đầy rẫy cái đẹp và dư thừa mới; họ hy vọng cuối cùng dân Do Thái sẽ chiếm vị trí lãnh đạo thế giới. Cho đến tận nay, vẫn còn lối giải thích Nước Chúa theo nghĩa cải cách xã hội và phúc lợi vật chất. Đã đành tất cả những thứ ấy đều là thành phần của Nước Chúa, nhưng chúng là kết thúc chứ không phải là khởi đầu của Nước Chúa; chúng không phải là chính Nước Chúa cho bằng là hoa trái của Nước ấy. Chúa Giêsu từng phán: “Nước Ta ở trong (hay ở giữa) các con” (Luca 17:21). Chúa Giêsu hết sức rõ ràng về điểm này: sự thay đổi tiên khởi phải xẩy ra trong con người, vì nếu nó không xẩy ra, thì bất cứ hoàn cảnh mới nào cũng rơi trở lại hoàn cảnh cũ. Đòi hỏi khác được Chúa Giêsu đưa ra là các cá nhân phải chấp nhận ý Thiên Chúa trước khi có bất cứ sự thay đổi nào trong xã hội. Nước Chúa phải trị đến trong tâm hồn con người trước cả khi Nước ấy bắt đầu trị đến trong thế giới nói chung.
4. Các cố gắng cần thiết để vào Nước Chúa
Còn nhiều điều phải nói về cá nhân và Nước Chúa. Nhưng dù sao ta cũng đã nắm được sự thật căn bản này là hiện diện trong Nước Chúa và chấp nhận để thực thi ý Người chỉ là một và là cùng một điều, và chúng là điều duy nhất dẫn đến sự sống theo nghĩa Thiên Chúa muốn hiểu. Chính dưới ánh sáng của sự thật này, ta hiểu được các lời của Chúa Giêsu liên quan đến cường độ các cố gắng cần có để vào Nước Chúa.
i. Vào Nước Chúa là điều đáng cố gắng. Chúa Giêu từng phán: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Chúa và sự chính trực của người” (Mátthêu 6:33). Và người ta đã dẫn giải câu ấy như sau: “Hãy đặt Nước Chúa làm đối tượng cho mọi cố gắng của ngươi”. Luca và Mátthêu đều có dịch bản riêng một câu nói khó hiểu của Chúa Giêsu. Trong Luca 16:16, ta thấy “Cho đến thời Gioan, có Lề Luật và các tiên tri; còn từ thời đó, Tin Mừng Nước Chúa được loan báo, và ai cũng dùng bạo lực mà vào”. Thuật ngữ “dùng bạo lực mà vào”là dịch chữ biazesthai, đây là động từ thường dùng để chỉ hành động quân đội lao như vũ bão vào một thành phố trong quyết tâm xâm nhập cho bằng được. Mátthêu nhắc lại điều này như sau: “Từ thời Gioan Tẩy Giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với bạo lực, ai có bạo lực thì chiếm được nó” (Mátthêu 16:16). Rất có thể, nhất là trong bản văn Mátthêu, câu này có ý nói đến cuộc bách hại và tấn công đầy bạo lực mà Nước Chúa đang phải chịu đựng. Nhưng cũng rất có thể, nhất là trong bản văn Luca, câu này muốn nói tới ý niệm người ta phải lao như vũ bão mà vào Nước Chúa như toán quân anh dũng lao như vũ bão vào một thành phố. Có tác giả như Denny đã viết đâu đó rằng: “Nước Trời không dành cho người nhanh chí (well-meaning) mà là cho người bền chí gắng gượng (desperate)”. Kitô hữu tài tử (dilettante) sẽ chẳng bao giờ vào được Nước Chúa. Chỉ những ai khát vọng sâu sắc mới vào được đó. Ta chả cần phải nhìn đâu xa hơn thảm kịch trong Vườn Diệt-si-ma-ni để thấy Chúa Giêsu đã phải khó khăn xiết bao trong việc chấp nhận ý Thiên Chúa và hành động theo nó. Ý nghĩa của thảm kịch ấy rất đơn giản: thực thi ý Chúa là việc đáng để ta cố gắng, để ta phải “hấp hối”, phải đổ máu và mồ hôi. Làm công dân và thành viên Nước Trời cũng thế.
ii. Nước Chúa đáng giá mọi sự. Chúa Giêsu từng kể một dụ ngôn kép về của báu chôn dấu ngoài đồng và chuỗi trân châu đáng giá ngàn vàng (Mátthêu 13:44-46). Ở cả hai trường hợp, người khám phá đã hiến mọi sự để mà chiếm lấy. Xem ra, để trở nên thành viên của Nước Chúa, người ta phải trả một giá rất đắt. Họ có thể phải hy sinh mọi tiện nghi và dễ chịu họ đang hưởng. Họ có thể phải để qua một bên mọi tham vọng bản thân họ đã đạt được. Có khi họ còn phải hy sinh cả các mối liên hệ bản thân gần gũi và thân thiết nhất, vì Chúa Giêsu từng đòi hỏi rằng lòng trung thành với Người phải vượt trên cả lòng trung thành với cha mẹ, anh em, vợ chồng… vốn có sẵn trong trái tim con người nhân bản (Mátthêu 10:37; Luca 14:26). Nghĩa là chẳng có giá nào quá cao đến không trả được để trở nên thành viên của Nước Thiên Chúa và thực thi ý muốn của Thiên Chúa.
iii. Bước vào Nước Chúa đáng giá bất cứ hy sinh nào. Bàn tay, con mắt, bàn chân nào làm cớ cho ta phạm tội cũng cần phải cắt bỏ vất đi (Mátthêu 10:29, 30). Không một hy sinh nào quá triệt để và quá đau như mổ xẻ đến không làm được, nếu đó là giá phải trả để vào được Nước Thiên Chúa và thực thi ý Người muốn.
5. Đặc tính của người bước vào
Cũng cần chú ý một điều chả có chi phải xấu hổ khi phải chật vật lắm mới thực thi được ý Chúa. Hãy nhìn vào Chúa Kitô trong Vườn Diệt-si-ma-ni là đủ an ủi rồi. Trò không hơn Thầy. Chỉ xấu hổ khi thua trận mà thôi. Điều nữa: Thiên Chúa không bất công, vì chiến trận càng khốc liệt, đắng cay, thì phần thưởng càng lớn, có khi gấp cả trăm lần (Luca 18:29; Máccô 10:28-30; Mátthêu 19:27-30). Cuộc chiến không phải là để không có gì, cho nên cần đối diện với nó cách hào hiệp và hân hoan. Giờ đây, ta hãy xét xem người bước vào Nước Chúa cần những đặc tính gì. Ta thấy có hai đặc tính rút từ Các Mối Phúc Thật:
i. Nước Trời và các ơn phúc của nó thuộc người nghèo khó trong tinh thần (Mátthêu 5:3). Chữ trong tiếng Hy Lạp là ptochos dùng để chỉ người không những chỉ nghèo mà thôi mà là tuyệt đối và hoàn toàn xác xơ. Nó dịch chữ ani của tiếng Hi-bá-lai vốn miêu tả kẻ nghèo hèn, trong cảnh vô vọng của mình chỉ còn biết trông cậy vào Thiên Chúa. Điều ấy có nghĩa là Nước Thiên Chúa thuộc những ai biết nhìn nhận sự xác xơ toàn diện của mình và biết đặt trọn lòng cậy trông vào Thiên Chúa. Vào Nước Trời thuộc những ai biết khiêm hạ đặt sự nghèo khó của mình trong sự giầu có của Chúa, đặt sự dốt nát của mình trong sự khôn ngoan của Chúa, đặt tội lỗi mình trong lòng xót thương của Chúa, đặt sự thất bại luân lý và cuộc chiến chống cám dỗ của mình trong ơn thánh của Người. Nó thuộc những ai biết nhìn nhận bổn phận phải thực thi ý Chúa, đồng thời cũng nhìn nhận việc mình hoàn toàn không có khả năng làm việc ấy nếu không có sự trợ giúp của Chúa.
ii. Nước Trời và các ơn phúc của nó thuộc những ai bị bách hại vì “lòng ngay” (Mátthêu 5:10). Người bách hại rõ ràng là người yêu mến ý Chúa hơn sự dễ chịu bản thân, hơn danh tiếng bản thân, hơn tham vọng bản thân, hơn yên ổn an toàn bản thân, hơn cả chính sự sống mình. Sự đe dọa mà việc vâng theo ý Chúa ngày nay đem lại cho phần lớn người ta không hẳn là mất mạng sống hay tự do. Mà đôi khi chỉ là mất nổi tiếng, bị chê cười, đơn độc, phải từ bỏ nguyên tắc. H.G. Wells có lần nói rằng đặc điểm của thời đại này là trong nó tiếng nói của người lân cận nhiều khi át cả tiếng nói của Thiên Chúa. Đối với người bước vào Nước Chúa, tiếng nói của Chúa phải là tiếng nói thúc đẩy nhất trên thế gian.
iii. Hơn một lần, Chúa Giêsu đặt ra một trong những điều kiện tối cao để vào Nước Chúa là phải có tinh thần như trẻ em (Mátthêu 18:2,3; Máccô 10:14, 15; Mátthêu 19:14; Luca 18:16, 17). Trẻ em có hai đặc tính vĩ đại sau đây: khiêm nhường và tín thác. Một em bé bình thường không muốn nổi nang, địa vị và tiếng tăm. Một em bé bình thường không bao giờ hoài nghi người nhà không có đó chờ em về; em sẽ lên đường cùng cha mẹ làm cuộc hành trình mà chả cần biết đường đi và cũng chẳng phải lo lắng việc trả tiền lộ phí chi hết mà vẫn tín thác hoàn toàn. Khiêm nhường và tín thác là giấy thông hành để vào Nước Trời.
iv. Có một đoạn gây ngạc nhiên trong Bài Giảng Trên Núi ở Mátthêu 5:17-20. Ở đó, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến Lề Luật; không một chữ hay một nét của nó lại trở thành vô giá trị bao giờ. Bất cứ ai lỏng lẻo trong các đòi hỏi của nó sẽ chỉ được chỗ thấp nhất trong Nước Trời. “Ta bảo thật các ông, trừ khi sự công chính của các ông vượt xa sự công chính của các luật sĩ và Pharisêu, các ông sẽ không vào được Nước Trời”. Điều này có nghĩa gì?
Câu này có nghĩa là ai muốn tham gia làm thành phần Nước Trời thì bổn phận phải khó hơn bổn phận của Luật Sĩ và Pharisêu. Ta biết các luật sĩ và Pharisêu là những người đặt căn bản cuộc sống của họ trên việc vâng theo luật. Mà đặc tính chính của luật là người ta có thể thoả mãn nó. Khi người ta đã làm điều luật đòi hỏi, đã trả hết nợ phải trả theo luật, đã chịu ra tòa và trả hết hình phạt, thì luật chả còn đòi hỏi nào khác đối với họ. Nhưng đặc điểm cuộc sống trong Nước Chúa là luật yêu thương, mà đặc điểm của yêu thương là chả có ai thỏa mãn được hết các đòi hỏi của nó. Không ai đã từng yêu trừ khi họ cảm nhận rằng dù cho người yêu cả trăng sao mặt trời vẫn chưa đủ. Được yêu là tự đặt mình vào một món nợ đến “xuống tuyền đài chưa tan” như Nguyễn Du của Việt-Nam từng nói. Thành ra sự trói buộc đặt cho người Kitô hữu là một trói buộc không một luật sĩ hay người Pharisêu nào có thể hiểu nối. Luật Nước trời là yêu thương, và do đó trách nhiệm của các thành viên Nước Chúa đối với Thiên Chúa và đồng loại là không có biên giới.
6. Các cản trở
Đã có những đặc tính cho người muốn vào Nước Chúa, thì cũng có những cản trở khiến người ta không thể vào đó được.
i. Phục vụ ngoài môi cản trở người ta không vào được Nước Chúa. Không phải người nói Lạy Chúa, Lạy Chúa vào được Nước Trời nhưng là người thực hành ý Thiên Chúa” (Mátthêu 7:21). Tuyên xưng mà không mang ra thực hành có lẽ là lỗi lầm thông thường nhất trong lòng Giáo Hội. Lời cầu nguyện viết cho Hội Nghị Lambeth (của Anh Giáo) năm 1948 có đoạn như sau: “Lạy Chúa toàn năng, xin ban cho chúng con ơn không những biết nghe mà còn biết thực thi lời Chúa, không những biết thán phục mà còn biết vâng theo học lý của Chúa, không những tuyên xưng mà còn thực hành tôn giáo của Chúa, không những yêu mà còn sống phúc âm của Chúa. Nên xin Chúa ban ơn này cho chúng con là điều gì chúng con học được về vinh quang của Chúa chúng con biết tiếp nhận trong lòng và biểu lộ ra bằng cuộc sống chúng con”. Đó là đường dẫn vào Nước Trời.
ii. Tinh thần không tha thứ cản trở người ta không vào được Nước Trời. Chúa Giêsu nói rõ điểm này trong dụ ngôn tên đầy tớ độc ác không biết tha nợ (Mátthêu 18:23-35). Người không biết xót thương là người chẳng có liên hệ gì với Thiên Chúa đầy lòng thương xót. Một trái tim hận thù tự động đóng cửa với tình yêu Thiên Chúa. Người không chịu tha thứ không thể vào trước thánh nhan Thiên Chúa là Đấng mà ý muốn duy nhất là sẵn sàng tha thứ. Người muốn được tha thứ phải học biết tha thứ. Trong Nước Chúa, không có chỗ nào cho người có trái tim nuôi dưỡng hận thù đối với đồng loại mình, người mà lúc còn sống đã có rạn nứt không được hàn gắn giữa họ và người khác.
iii. Giầu có làm cho việc bước vào Nước Trời trở nên rất khó khăn. Chúa Giêsu từng nói: “Ta bảo thật các con, thật khó cho một người giầu vào được Nước Trời. Ta nói thật đó, con lạc đà chui qua lỗ kim khâu còn dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Chúa” (Mátthêu 19:23, 24; Máccô 10:23-27; Luca 18:24, 25). Tại sao? Có hai lý do chính:
Thứ nhất, sở hữu nhiều của cải vật chất có khuynh hướng cột chặt tâm tư tình cảm của con người ta vào trần gian này. Họ có quá nhiều quyến luyến với trần gian đến không thể ngước mắt quá cái trần gian ấy được.
Thứ hai, sự giầu có có thể trở nên điều một số người gọi là “ơn cứu rỗi cạnh tranh”. Nó có thể tạo ra cảm thức an ổn giả tạo; nó có khuynh hướng khiến người ta nghĩ rằng họ có thể mua được đường vào đường ra bất cứ điều gì. Nó làm người ta nghĩ rằng họ có thể đương đầu với cuộc đời một cách tốt đẹp, chả cần chi tới Thiên Chúa.
Chúa Giêsu không bao giờ tuyên bố rằng sự giầu có ngăn cản người ta không vào được Nước Chúa, nhưng quả Người có nói nó làm cho việc vào Nước Chúa trở nên rất khó khăn, vì nó làm người ta quên khuấy cả việc có Nước trời.
Cũng còn nhiều điều khác có thể nói về Nước Chúa. Nước ấy bao hàm việc đánh bại đau khổ, bệnh hoạn và sự chết (Mátthêu 4:23; 10:1, 7, 8; 11:1-6; Máccô 6:7; Luca 7:19-23; 9:11). Chúa Giêsu cho hay nếu nhờ bàn tay Thiên Chúa mà Người trừ được ma qủy, thì Nước Chúa đã đến rồi (Mátthêu 12:8). Nước Chúa nhất thiết là việc đánh bại sự ác và quyền lực của nó.
Kết luận
Nước Thiên Chúa là phổ quát. Phúc âm của Nước Trời sẽ được rao giảng khắp thế giới (Mátthêu 24:14), và người ta sẽ từ bắc, từ nam, từ đông, từ tây đến ngồi trong Nước ấy (Mátthêu 8:11; Luca 13:29). Không có phân biệt chủng tộc, không có tối huệ quốc… Nước Chúa sẽ đến. Một cách bí mật, âm thầm, nhưng không tài nào ngăn chặn được, hạt giống cứ thế phát triển (Máccô 4: 26-29). Con người có thể làm chậm Nước ấy, họ có thể cản trở Nước ấy, nhưng sau cùng Nước ấy sẽ đến.
Sự phát triển ấy không phải là phát triển bất tận, không cùng; nhưng là một phát triển tới chỗ hoàn thiện. Nước Chúa bắt đầu trong thời gian, nhưng có tận cùng khi vĩnh cửu sau cùng sẽ ló dạng trên thời gian và khi các vương quốc trần gian sẽ trở thành Vương Quốc Thiên Chúa và Đấng Kitô của Người.
Nước Cha trị đến, quả là lời cầu xin có ý nghĩa! Nó không phải là lời cầu xin cho một điều gì đó xẩy ra cho thế giới mà ta chỉ là kẻ bàng quan. Nó là lời cầu xin cho ta biết chấp nhận ý Thiên Chúa; cho ta biết bằng lòng trả giá cho việc chấp nhận ấy; cho ta thanh tẩy hết các trở ngại đối với việc chấp nhận ấy; cho ta có được những điều làm thông hành để vào Nước ấy. Không ai cần phải cầu lời cầu xin này trừ khi họ sẵn sàng trao phó con người mình cho ơn thánh Chúa để ơn thánh ấy biến họ thành tạo vật mới. Đây không phải là lời cầu xin dành cho người muốn dậm chân tại chỗ.
Viết theo William Barclay, The Plain Man Looks At The Lord’s Prayer, Fontana Books, 1964.
(Còn tiếp)