BÀI NÓI CHUYỆN VỚI CÁC EM DỰ TU
CỦA GIÁO PHẬN PHÚ CƯỜNG VỀ GIÁO DỤC NHÂN BẢN
SỰ CẦN THIẾT
CỦA GIÁO DỤC NHÂN BẢN
I. GIÁO DỤC NHÂN BẢN:
1. Dẫn chứng:
Nếu một người muốn làm võ sĩ, anh ta phải đi học nghề võ. Ở trong trường dạy võ đó, anh ta học các thế đánh, các thế đỡ, các thế tránh đòn... Nhưng ở đó, anh ta còn phải học một tư thế hết sức quan trọng, trở thành căn bản của con nhà võ, đó là gì, bạn có biết không? Là đạo đức võ sinh!
Vì sao tôi lại gọi đạo đức võ sinh là một tư thế? Là bởi vì đạo đức mới là điều kiện trước hết cho một người trở thành võ sinh hay võ sĩ, chứ không phải các thế đánh, thế đỡ của anh ta. Nếu có đánh hay, đỡ giỏi, hoặc cho dù là nổi tiếng khắp thế giới đi nữa, mà ngoạm vào lỗ tai người ta một cái, lập tức cả thế giới lên án (chắc bạn hiểu tôi muốn nói tới ai rồi. Đó là một võ sĩ giỏi, lừng danh, là thần tượng của rất nhiều người, nhưng trong một trận đấu huyền anh nào đó, nhằm bảo vệ uy danh của mình, bảo vệ chức vô địch của mình, anh ta đã vô liêm sĩ cho đến mức cắn đứt lỗ tai của đối phương. Anh ta thậm chí chẳng nghĩ ra nỗi một điều rất đương nhiên là, nhằm bảo vệ uy danh của mình bằng một trò bẩn thiểu, anh ta đã tự vuột mất uy danh của chính mình. Anh ta đã tự đạp đổ thần tượng của mình nơi lòng nhiều người).
Làm võ sĩ theo cách nghĩ của rất nhiều người, chỉ là để đánh nhau mà còn phải có đạo đức, huống chi làm một con người, nhất là làm người đang ấp ủ lý tưởng linh mục trong tim mình như trường hợp của các bạn đây.
2.Vậy giáo dục nhân bản là gì?
Giáo dục thì ai cũng hiểu rồi, nhưng mà nhân bản thì sao? Có thể đã hiểu, nhưng điều cần phải nói ở đây là hiểu như thế nào?
Tôi thiển nghĩ:
Nhân bản là cái gốc của con người.
Nhân bản là thái độ sốn, thái độ nhìn đời, thái độ cư xử của một người.
Nếu nhân bản là cái gốc của con người, thì giáo dục nhân bản là giáo dục để một người hiểu biết bản tính của mình là người, chứ không phải cây tre, cái ghế...
Nếu nhân bản là thái độ sống, thái độ nhìn đời, thái độ cư xử của một người, thì giáo dục nhân bản là giáo dục một bản tính người có thái độ sống, thái độ nhìn đời, thái độ cư xử "hợp qui tắc" như mọi người thừa nhận.
Giáo dục nhân bản còn là giáo dục một người từ lúc chưa ý thức mình là người, trở thành một bản tính người có nhân cách.
Một em bé mới sinh ra, nó chưa biết mình là người. Nhưng nó lớn trong một nhân cách gia đình: cha mẹ tốt, anh chị em tốt, ông bà tốt thì đứa bé sẽ dễ thừa hưởng những cái tốt.
Em bé cũng lớn lên trong một nhân cách xã hội: bạn bè, lối xóm, môi trường xung quanh... tốt hay xấu đều ảnh hưởng trên đứa bé.
Và trên hết, đó là một nhân cách giáo dục. Bởi đó không lạ gì, khi đứa bé đến trường học, điều đầu tiên, khi đón nhận đứa bé, người ta phải ý thức ngay rằng, nguyên tắc giáo dục phải là "Tiên học lễ, hậu học văn". Những lời nói, những hành động của cha mẹ, thầy cô, những tư tưởng trong sách vỡ..., làm cho đứa bé tiếp thu, hiểu và đọng lại trong suy nghĩ, trong tiềm thức, đều chạm tới nhân cách của em bé đó.
Một nhân cách sinh ra từ thủơ thiếu thời như thế, sẽ bám lấy một con người cho đến khi con người đó trưởng thành, rồi thành người lớn và theo mãi suốt cả cuộc đời của họ.
Đó là những gì cần để làm sáng tỏ hai chữ GIÁO DỤC NHÂN BẢN. Nhưng điều quan trọng mà chúng mình nhắm tới không phải chỉ là nhân bản mà là nhân bản Kitô giáo.
II. NHÂN BẢN KITÔ GIÁO:
Nhân bản Kitô giáo, hay nói cho rõ là học nhân bản theo cái nhìn của Kitô giáo. Đó là một Kitô giáo nhân bản. Dĩ nhiên Kitô giáo không chỉ có nhân bản mà còn có siêu nhiên nữa. Không chỉ có con người mà còn có Thiên Chúa nữa. Tuy nhiên ở đây, ta chỉ nói đến khía cạnh con người theo giáo huấn của Kitô giáo.
Điều ưu tiên trên hết mọi ưu tiên mà Kitô giáo dạy là TÌNH YÊU: yêu bản thân và yêu tha nhân.
1.Yêu bản thân:
Yêu chính mình là một đòi hỏi căn bản nhất của con người. Sẽ không tưởng tượng nỗi, nếu một ai đó tuyên bố: "Tôi không thể yêu mình". Bởi vì lòng yêu thương bản thân là một thứ tình yêu sâu xa, một vết khắc sâu trong bản tính con người. Nếu bản thân mình mà còn không biết yêu thương, tôn trọng, ngược lại còn ghét bỏ, thì khó mà nghĩ đến lòng yêu thương tha nhân. Bản thân mình mà còn không thể yêu thương, nói gì đến tha nhân.
Thánh Kinh cũng đề cao lòng yêu thương bản thân khi nói: "Hãy yêu tha nhân như chính mình"(Mt 22, 39). Điều cần nói ở đây là "yêu như chính mình". Khi nói điều này, Chúa Giêsu đương nhiên chấp nhận tình yêu bản thân. Do đó Người mới lấy nó làm đối chiếu cho tình yêu tha nhân.
Nhưng yêu bản thân là yêu như thế nào?
Phải yêu bản thân một cách có trách nhiệm:
Vài thập niên gần đây, những xáo trộn về đời sống luân lý trong giới trẻ trở thành vấn đề làm nhức nhối tất cả những ai thành tâm, thiện chí. Người ta nói đến các quan hệ nam nữ ngoài hôn nhân, tự tử, nghiện ngập, đồng tính luyến ái, phạm pháp... nhưng ai dám nói rằng, khi sa vào con đường tự hủy diệt mình, những người trẻ không còn yêu mình nữa? Họ đang yêu đấy chứ. Yêu mình thái quá nữa là khác. Chính vì yêu như vậy, họ tự chìu chuộng mình, chìu chuộng những đòi hỏi của bản năng, của đam mê, để rồi từ chỗ yêu bản thân, biến họ trở thành một kẻ bệnh hoạn phạm pháp.
Do đó điều cần thiết cho tất cả mọi người là phải yêu chính mình một cách có trách nhiệm. Yêu có trách nhiệm mới có thể phân biệt đâu là xấu, đâu là tốt.
2.Yêu tha nhân:
Xét một nghĩa nào đó, yêu bản thân cách có trách nhiệm cũng là yêu tha nhân. Vì khi làm khổ mình, sẽ dễ làm khổ lây đến người khác. Nói cho đúng, yêu mình có trách nhiệm là bước sơ khởi của tình yêu tha nhân.
Đối với Thánh Kinh, giáo huấn về lòng yêu thương là đỉnh cao của mọi giáo huấn. Giáo huấn về lòng yêu thương của Thánh Kinh lớn cho đến mức có người dám nói rằng, nếu phải tóm lại nội dung của Thánh Kinh, người ta sẽ chỉ nói đến hai chữ mà thôi, đó là hai chữ "TÌNH YÊU" . Nơi đó, tình yêu tha nhân là thước đo của lòng yêu mến Thiên Chúa. Nói theo ngôn ngữ của môn Giáo dục nhân bản: nhân bản là phản ánh của mối tương quan siêu nhân bản. Thánh Kinh mang một chiều sâu về giáo dục nhân bản, thì cũng mang một chiều cao, rất cao, để khi một người có nhân bản nhờ hấp thụ nền Giáo dục nhân bản của Thánh Kinh, người ấy cũng nhận ra một chiều kích thánh thiêng nơi bản thân mình và giữa những con người.
Nếu trong Tin Mừng theo thánh Matheo, Chúa Giêsu nói: "Hãy yêu tha nhân như chính mình", thì trong Tin Mừng theo thánh Gioan, tình yêu đó được nâng lên đến mức tuyệt vời: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em" (Ga 13, 34). Yêu như Thầy!!! Tình yêu không còn lấy mình làm đối chiếu nữa, nhưng là lấy chính THẦY. "Yêu nhau như Thầy yêu anh em", nghĩa là anh em cũng phải hạ mình xuống mà tha thứ, mà phục vụ như Thầy đã hy sinh đến tột cùng cho anh em, hiến dâng mạng sống vì anh em.
"Hãy yêu như Thầy yêu", trước hết là ngay trong chính gia đình mình, để không còn cảnh cha mẹ mắng con là "súc sinh". Nếu con cái là súc sinh thì cha mẹ, những người đẻ ra chúng là gì? Và cũng không còn cảnh con cái đem cha, đem mẹ ra mà chửi (xin lỗi bạn) - "Đ.M. mày", điều mà ta vẫn thường gặp trong cuộc sống quanh mình.
Do đó nhân bản Kitô giáo đẹp lắm, đẹp đến mức tuyệt hảo. Giáo dục nhân bản, trước hết phải là giáo dục tình yêu. Nhưng tình yêu này được đẩy lên rất cao: Có tấm gương Chúa Giêsu là kiểu mẫu để mọi người soi lòng mình mà tự vấn chính mình về tình yêu.
III. NHÂN BẢN TRONG ĐỜI TU:
Kỷ luật rèn nhân bản. Trong đời sống hằng ngày, nếu để ý, bạn sẽ nhận ra rất nhiều thứ luật: luật đi đường, luật pháp, luật lái xe, luật trong công ty, xí nghiệp... Nếu một ngày nào, tôi và bạn không tự giới hạn bản thân mình, nghĩa là không có một nguyên tắc, một kỷ luật theo lý tưởng mà mình sống, hay lý tưởng mà mình đang hướng tới, ngày đó báo hiệu đời tu xuống dốc.
Những luật lệ, đúng hơn là những bổn phận mà ta cần phải nghiêm chỉnh thực hiện hằng ngày đó là:
- Đọc kinh Phụng vụ.
- Nguyện gẫm.
- Ăn uống điều độ.
- Tiếp khách đúng nơi, đúng chỗ, và liệu sao cho việc tiếp khách đừng chiếm quá nhiều thời gian.
- Không tự do đi sớm về khuya.
- Siêng năng viếng Thánh Thể.
- Siêng năng lần chuỗi Mân Côi.
- Dâng thánh lễ và hiệp lễ mỗi ngày.
Điều mà bạn cần chú ý trước hết đó là hãy ghi nhớ rằng: TRƯỚC KHI LÀ LINH MỤC PHẢI LÀ MỘT NGƯỜI CÓ NHÂN CÁCH.
Tôi dám nói mạnh rằng, bạn không là một người tốt, nếu có làm linh mục chắc chắn sẽ là một linh mục tồi.
Nhân cách mà một người sống trong đời tu cần phải có, có thể kể ra như sau:
- Khả năng giao tiếp.
- Khả năng hòa hợp cá tính.
- Biết giữ lời hứa.
- Biết sống tế nhị.
- Tế nhị và lịch sự trong lời nói, cách ăn mặc, khi đi đứng, làm việc...
- Khiêm tốn, hiền hòa, biết chịu đựng và nhịn nhục...
- Sống bác ái
- Biết tự chủ, nhất là làm chủ tư tưởng , ngũ quan...
Nhưng để cho một người có nhân cách, thì không phải một sớm, một chiều mà anh ta có được. Anh ta phải tập luyện, phải để ý trong từng câu, từng lời, từng cử chỉ của mình. Để một chủng sinh có nhân cách của một nhà tu, học nhân bản chưa đủ mà cần phải tập nhân bản.