3. Nguyện Danh Cha Cả Sáng
Trong tất cả các lời cầu xin của Kinh Lạy Cha, thì lời cầu xin “Chúng con nguyện danh Cha cả sáng” là lời cầu xin người ta khó hiểu nghĩa chính xác hơn cả. Nên thiển nghĩ cần phải tìm ra nghĩa của các từ ngữ trong lời cầu xin này.
1. Các Bản Dịch
Hai bản Thánh Kinh Phổ Thông cũ và mới đều dịch lời cầu xin này là “Sanctificetur nomen tuum”. Các bản Thánh Kinh tiếng Pháp thường dịch là “Que votre nom soit sanctifié”; và các bản Thánh Kinh tiếng Anh quen dịch là “Hallowed be thy name”… Nói chung, trong các môi trường ấy, lời trong Thánh Kinh ra sao, thì lời trong kinh đọc hàng ngày và cả trong Phụng Vụ nữa cũng như thế. Duy trong môi trường tiếng Việt, thì lời trong các bản Thánh Kinh có khác với lời trong kinh đọc hàng ngày, kể cả kinh đọc trong Phụng Vụ. Thực vậy, bản Kinh Thánh Tin Lành dịch cụt lủn là: “Danh Cha được thánh”. Bản Kinh Thánh của Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch với lời cầu xin rõ ràng: “Ước gì Danh Cha hiển thánh”. Bản Kinh Thánh Tân Ước của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ cũng có lời cầu xin rõ ràng: “Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển”. Còn bản Tân Ước của Cha An Sơn Vị dài hơn một chút: “Xin Cha cho mọi người biết Danh Cha Chí Thánh”.
Bạn đọc chắc chắn thấy có nhiều dị biệt trong các lối phiên dịch sang tiếng Việt trích ở trên: tuy bản nào cũng có chữ “thánh”, nhưng ba bản dịch kia đặt chữ thánh làm thuộc từ thì Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ lại đặt chữ thánh làm định từ cho chữ “tên” và thêm “vinh hiển” làm thuộc từ. Ngoài ra, chữ “danh” đều được viết hoa ở ba bản kia, riêng bản của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ lại viết chữ thường. Trong bản của Tin Lành, chữ “danh” viết hoa vì nằm ở đầu câu, nên không có gì đáng nói, chỉ là làm đúng phép chính tả. Ba bản còn lại, bản viết hoa bản không viết hoa, chắc chắn không phải vì vô tình, mà là cố ý. Điều ấy đủ cho thấy lời cầu xin này chẳng dễ hiểu như người ta vốn nghĩ. Nó lại càng nên được đọc cẩn trọng hơn khi lời dịch Thánh Kinh khác với lời Kinh đọc thành tiếng: “chúng con nguyện danh Cha cả sáng” (Sách Lễ Rôma, Nghi Thức Thánh Lễ). Ở đây, không có chữ “thánh” mà ba bản tiếng nước ngoài và bốn bản tiếng bản xứ trên đây đều có. Thay vào đó là chữ “sáng”. Chữ “danh” cũng không viết hoa, giống như ba bản tiếng nước ngoài và bản của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Hẳn cũng cố ý chứ không phải vô tình như có người tưởng.
Thực ra các bản dịch Thánh Kinh tiếng nước ngoài cũng có nhiều dị biệt. Trong khi bản La Bible de Jérusalem dịch câu này như sau: “Que ton Nom soit sanctifié’ thì bản Le Nouveau Testament en Francais Courant của Alliance Biblique Universelle, có “imprimatur” của Đức Hồng Y Pierre Eyt, Chủ Tịch Ủy Ban Tín Lý Hội Đồng Giám Mục Pháp, lại dịch là: “Que chacun reconnaisse que tu es le Dieu saint” (chớ chi mọi người nhận biết cha là Thiên Chúa thánh thiện), gần giống như bản của Cha An Sơn Vị.
Các bản tiếng Anh cũng dịch câu này khá khác nhau. Thực thế, lối dịch “hallowed be thy name” được coi là cổ nhất, có từ thời Alfred the Great “Sic gehalyed dhin noma”, và Wicliffe “Halewed be thy name”. Và sau đó đã được truyền lại cho các thế hệ sau nhờ Tyndale, Coverdale, the Great Bible, the Geneva Bible, the Authorised Version, và the Revised Version. Trong các bản dịch hiện đại của Ronald A. Knox và E.V. Rieu, lối dịch này cũng đã được dùng. Tuy nhiên không thiếu bản dịch đã loay hoay đi tìm lối dịch khác, như bản của Moffatt và Goodspeed: “Thy name be revered”, hay bản của Kenneth Weust: “Let your name be venerated”. Có hai bản dùng chữ honoured, như bản của J. B. Phillips: “May your name be honoured” và bản Good News Bible của American Bible Society: “may your holy name be honoured” giống bản tiếng Việt của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Thành thử tìm nghĩa chính xác cho các chữ trong lời cầu xin này không hẳn là việc dư thừa.
2. Danh Cha
Thời Thánh Kinh, tên không phải chỉ là tên để gọi một người nào đó theo nghĩa hiện nay. Nó biểu tượng cho toàn thể đặc tính của một con người đã được biết đến, được biểu lộ ra hay được mạc khải. Như Origen đã nói khi bình luận về lời cầu xin này, tên là một hạn từ tóm tắt và nói lên đặc tính bản thân của người mang tên (Về Kinh Nguyện 24:2,3). Tên thay thế cho “đặc điểm có tính bản thân và không thể truyền đạt được” của một người. Do đó, tên của Chúa thay thế cho bản tính và đặc điểm cũng như phẩm cách (personality) của Thiên Chúa như đã được mạc khải cho con người. Điều ấy sẽ rõ ràng hơn nếu ta nhìn vào cách Thánh Kinh sử dụng tên.
Thánh Vịnh 9:10 viết rằng: “Những kẻ biết danh Chúa đều đặt lòng tin cậy vào Chúa”. Điều này rõ ràng không có nghĩa là những người biết tên Chúa theo nghĩa bây giờ sẽ sẵn sàng tin cậy vào Chúa; mà có nghĩa là những ai biết đặc điểm và bản tính cũng như phẩm cách của Thiên Chúa, tức những ai biết Thiên Chúa là Đấng nào như Người từng tự mạc khải mình ra, sẽ sẵn sàng đặt niềm tin cậy vào Người.
Ở một đoạn khác, tức Thánh Vịnh 20:7, soạn giả viết: “Kẻ tự hào vì xe, kẻ tự hào vì ngựa; nhưng chúng con, chúng con tự hào vì danh Chúa, là Thiên Chúa chúng con”. Điều này muốn nói: người coi xe kẻ coi ngựa là sở hữu có sức mạnh hơn cả, nhưng đối với chúng ta, điều cao cả hơn hết là bản tính Thiên Chúa như Người đã mạc khải cho ta.
Trong Phúc Âm Gioan (17:6), Chúa Giêsu phán rằng: “Con đã tỏ danh Cha cho những kẻ Cha đã ban cho con từ giữa thế gian”. Điều này hiển nhiên có nghĩa là Chúa Giêsu đã tỏ cho các môn đệ hay Thiên Chúa là Đấng như thế nào, bản chất và đặc điểm cũng như phẩm cách của Người thực sự ra sao. Tên thay thế cho chính Thiên Chúa. Vì thế Cựu Ước mới đề cập đến tội “phạm đến thánh Danh” (Lv 24:16). Bản Revised Standard Version cũng như bản La Bible de Jérusalem đều viết hoa chữ Danh này. Và thiết tưởng đó cũng là chủ ý của các bản Nguyễn Thế Thuấn và An Sơn Vị khi dịch Kinh Lạy Cha.
Như thế, rõ ràng tên Thiên Chúa chính là Thiên Chúa vậy. Danh ấy được yêu mến (Tv 5:12), được ca tụng (Tv 7:18), được tuyên xưng (Is 29:23), được kính sợ (Đnl 28:58), vĩnh cửu (Tv 135:13). Chính để “cho danh cao cả của Người” (Gs 7:9) và vì danh Người (Ed 20:9) mà Người hậu đãi Israel, nghĩa là để Người được vinh quang và được nhìn nhận là cao cả và thánh thiện. Đền thờ chính là nơi Thiên Chúa “đã đặt Danh Người ngự trị” (Đnl 12:5), chính nơi đó, người ta đến trước mặt Ngài (Xh 34:23), trong đền thờ “mang Danh Người”(Gr 7:10, 14). Chính Tên Chúa từ xa đến dùng sàng-hủy-diệt mà gạn lọc chư dân (Is 30:27: Bản Phổ Thông ghi rõ: ecce nomen Domini venit de longinquo ardens furor eius et gravis ad portandum labia eius repleta sunt indignatione et lingua eius quasi ignis devorans. Bản của Nhóm CGKPV không dịch là Tên mà dịch: Này Đức Chúa từ xa đang thân hành ngự đến)…Dù sao, khi nhắc đến tên Chúa, các dịch giả Việt Nam không một ai không dùng chữ danh trang trọng, dù trong một câu ngắn ngủi, nhất là trong Kinh Lạy Cha, tất cả các chữ đều là chữ Việt, chỉ có chữ này là chữ Hán mà thôi. Lủng củng không quan trọng bằng lòng trọng kính.
3. Cả sáng
Chữ sáng chắc chắn không phải là hán tự. Vì theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh, sáng chỉ có nghĩa là bắt đầu, dựng lên, không hề liên quan đến nghĩa trong Kinh Lạy Cha. Như thế hẳn nhiên, sáng là chữ Việt, với nghĩa là rạng tỏ (Từ Điển Tiếng Việt của Minh Tân, Thanh Nghị và Xuân Lãm, Nhà Xuất Bản Thanh Hóa). Chữ sáng đây như thế cùng nghĩa với chữ sáng trong kinh Sáng Danh, được dùng trao đổi với chữ vinh trong kinh Vinh Danh. Dùng các chữ sáng và vinh như thế để dịch chữ “gloria” của La-tinh thì quá chỉnh. Nhưng để dịch chữ “sanctificetur”, hiển thánh hay chí thánh hay được thánh, xem ra có vẻ không chỉnh. Vì chữ thánh theo truyền thống Hi Bá Lai có nội dung hết sức đặc biệt, nội dung mà Chúa Giêsu hiển nhiên có ở trong đầu khi Người soạn ra Kinh này, nhất định không phải chỉ có nghĩa vinh hiển. Hẳn các nhà phụng vụ học của Việt Nam có nhiều dữ liệu để soi sáng điểm này.
Ngay trong các bản Tân Ước tiếng Anh và tiếng Pháp sau này, như trên đã nói, chữ “thánh” (sanctifié,hallowed) cũng có khi đã được thay thế bằng những chữ khác, trong đó, không thiếu các chữ hàm nghĩa tôn vinh, tôn kính của chữ “sáng” Việt Nam. Ta hãy xét ngữ nguyên của nó xem sao. Trong tiếng Hy Lạp, hạn từ “cả sáng” là hagiazein, do chữ hagios (thánh) mà phát xuất. Trong Hy Ngữ thế tục, hạn từ hagiazein hầu như không có, nhưng trong Hy Ngữ Thánh Kinh, ta thấy có rất nhiều tư liệu để xác định ý nghĩa của nó.
Nó có hai nghĩa căn bản. Nghĩa thứ nhất: làm cho một sự vật tầm thường, phàm tục thành thánh thiện, nhờ một nghi thức nào đó hay nhờ mang nó đến tiếp xúc với những sự việc thánh thiện. Hiển nhiên đây không phải là nghĩa trong Kinh Lạy Cha. Vì con người không thể làm gì để có thể làm cho Danh Chúa trở nên thánh thiện theo nghĩa này được, vì điều đó hàm nghĩa Danh Chúa vốn không thánh thiện. Nghĩa thứ hai: hagiazein còn có nghĩa là đối xử là thánh, coi là thánh hay tin là thánh. Nhưng điều ấy có nghĩa gì? Muốn hiểu rõ hơn, ta nên xem nghĩa chữ hagios (thánh). Chữ này là một tĩnh từ mà ý niệm căn bản phía sau nó là sự khác biệt. Thánh là khác với những sự việc tầm thường; thánh là thuộc một lãnh vực phẩm chất và hữu thể khác. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa là Đấng Thánh tối cao, vì Người thuộc một lãnh vực sống và hiện hữu tối cao khác hẳn.
Nghĩa này càng rõ hơn khi ta xem đến các cách dùng nó. Có giới răn phải nhớ ngày Sa-bát mà coi đó là ngày thánh (Xh 20:8) nghĩa là phải coi và giữ ngày Sa-bát khác với các ngày khác. Lại có huấn lệnh phải thánh hiến (consecrate) các thầy cả (Lv 21:8). Ở đây ta thấy hạn từ hagiazein đã được sử dụng với nghĩa phải để riêng thầy cả ra để ông khác với người khác, khác với dân thường (lay men). Từ chỗ khác ấy mà có ý niệm tôn kính, vì cái khác kia có liên hệ trực tiếp với lãnh vực thần thiêng cao cả. Một trong các biến cố Cựu Ước rất đáng được ta xem sét ở đây là đoạn kể lại lúc con cái Israel đang lưu lạc nơi hoang địa, gần như kiệt sức vì khát và than van. Thương hại, Thiên Chúa truyền cho Mô-sen ra lệnh cho đá phun ra nước cho dân uống. Nhưng thay vì “nói với đá” như lời Chúa truyền, Mô-sen lại giận dữ nổi khùng mà “lấy gậy đập vào tảng đá hai lần”. Thiên Chúa nghiêm khắc phán với ông: “Bởi vì các ngươi đã không tin vào Ta để biểu dương sự thánh thiện của Ta, nên các ngươi sẽ không được đưa đại hội này vào đất Ta ban cho chúng” (Ds 20:1-11). Biểu dương sự thánh thiện chính là thuật ngữ hagiazein của Kinh Lạy Cha. Bản Phổ Thông đã dịch câu ấy như sau: “Dixit Dominus ad Mosen et Aaron quia non credidistis mihi ut sanctificaretis me coram filiis Israhel non introducetis hos populos in terram quam dabo eis”. Sự bất tín của Mô-sen đụng chạm đến sự thánh thiện của Thiên Chúa, và do đó là một bất kính to lớn. Cho nên, hagiazein ai cũng là tỏ lòng tôn kính người đó.
Chính các giáo phụ Hy Lạp cũng đã dùng những hạn từ khác thay thế cho hagiazein. Như Thánh Chrysostom chẳng hạn đã coi nó tương đương như chữ doxazein với nghĩa tôn vinh hay tôn kính. Origen coi nó tương tự như hupsoun với nghĩa tán dương và tôn lên cao. Và sau đó, dần dần hagiazein còn được thay thế bằng eulogein với nghĩa chúc tụng, ngợi khen nữa. Thành thử ra, hagiazein Danh Chúa là tỏ lòng tôn kính, vinh dự, vinh quang, ngợi khen, tán dương mà bản tính Người đòi buộc nơi ta. Một nhà thần học Cải Cách, là Calvin, từng nói: “Nguyện xin cho Danh Chúa được hiển thánh không có nghĩa gì khác hơn là phải dành cho Chúa vinh dự riêng mà Người xứng đáng, đến độ con người lúc nào cũng phải nghĩ và nói về Người một cách cung kính tột độ”.
4. Ướt át ủy mị
Tóm lại, cha ông chúng ta lúc dịch Kinh Lạy Cha không hẳn là không có lý, khi dùng “cả sáng” mà dịch “sanctificetur”. Sự tôn vinh trong ý niệm “thánh” này đã hóa giải nguy cơ ủy mị của hạn từ “cha” nhất là hạn từ Cha trong viễn tượng “abba”. Không học lý nào dễ bị ướt át hóa bằng học lý tình phụ tử của Thiên Chúa. Nhưng như ta đã biết, một ướt át hóa như thế không bao giờ có trong tôn giáo và việc thờ phượng của người Do Thái. Đối với họ, Thiên Chúa bao giờ cũng là Một Đấng Hoàn Toàn Khác một cách siêu việt; không một người Do Thái nào nói tới Thiên Chúa mà không tôn kính.
Bởi thế mặc dù xưng Thiên Chúa là Cha, người Do Thái luôn thêm vào đó những hạn từ khác để bảo tồn sự uy nghi và vinh quang của Thiên Chúa. Sách Huấn Ca 23:1 đã thưa với Chúa như sau: “Lạy Chúa, là Cha và là Đấng Cai Trị đời con”. Câu sau đó cũng vậy: “Lạy Chúa, là Cha và là Thiên Chúa đời con” (Hc 23:4). Trong sách 3 Macabê 6: 2-4 (không có trong quy điển Kitô giáo), trước khi soạn giả thưa với Thiên Chúa: “Lạy Cha”, ông đã cẩn thận tuyên xưng Thiên Chúa là Vua quyền uy, Đấng cao cả, Thiên Chúa toàn năng, Đấng cai quản muôn tạo vật một cách đầy yêu thương nhân hậu! Trong các kinh nguyện của người Do Thái như Kinh Shermoneh ‘Esreh, ba tước hiệu Cha, Vua và Chúa luôn được dùng thay đổi nhau để xưng hô với Thiên Chúa. Vào ngày thứ mười của Lễ Xá Tội, người Do Thái xướng kinh Abinu Melkenu (Lạy Cha và là Vua chúng con). Kinh này có đến 44 lời cầu xin, và lời nào cũng bắt đầu bằng câu Lạy Cha và là Vua chúng con. Sau đây là một vài lời “Lạy Cha và là Vua chúng con, chúng con đã phạm tội trước nhan Cha. Lạy Cha và là Vua chúng con, chúng con không có vua nào khác ngoài Cha ra. Lạy Cha và là Vua chúng con, xin Cha hãy đem chúng con trở về với Cha trong thống hối ăn năn. Lạy Cha và là Vua chúng con, xin đoái thương viết tên chúng con và Sổ Cứu Chuộc. Lạy Cha và là Vua chúng con, xin nghe lời chúng con, dù trong chúng con không hề có việc làm nào tốt cả. Chúng con cũng sẽ hiển thánh danh Cha khắp thế giới, Ôi lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng con, xin hãy thống trị khắp thế giới trong vinh quang”.
Trong Kinh Lạy Cha cũng thế, chúng ta không chỉ cầu nguyện với Cha chúng ta, nhưng là với Cha chúng con ở trên trời; Và xin Cha ấy nhận sự tôn kính mà đặc điểm cùng bản tính siêu việt của Người đáng được và đòi buộc phải có.
5. Tôn kính ra sao?
Trên thực tế, ta phải làm gì để tôn vinh Danh Thiên Chúa? Điều tiên quyết của lòng tôn kính này đã được Thư Do Thái (11:6) xác định như sau: “Ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người”. Nghĩa là, lòng tôn kính không thể có được nếu không có hai niềm tin căn bản sau đây: thứ nhất, Thiên Chúa có thật, và thứ hai, Thiên Chúa quan tâm đến thái độ và hành vi của con người đối với Người.
Thánh Kinh không bao giờ loay hoay với việc chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Trong hình học, có một số chân lý gọi là định đề (axioms). Định đề không tự chứng minh được, chúng là những chân lý căn bản làm nền tảng cho mọi lý luận và chứng minh. Đối với các soạn giả Thánh Kinh, Thiên Chúa là một định đề. Hơn thế nữa, Người là định đề duy nhất, là sự kiện mà sự hiện hữu đã trở thành sự kiện căn bản của cuộc đời. Các soạn giả này dường như muốn nói họ không cần phải chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa cũng như họ chả cần chi phải chứng minh sự hiện hữu của vợ con và bằng hữu thân thiết nhất của họ. Không cần chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, vì họ gặp gỡ Thiên Chúa hàng ngày; họ không cần tranh luận về Thiên Chúa, vì họ gặp gỡ Người hàng ngày, hàng giờ. Còn đối với sự kiện Thiên Chúa quan tâm đến đáp trả và phản ứng của con người đối với Ngài, thì người Kitô hữu chỉ cần nhìn đến mầu nhiệm Nhập Thể là quá đủ. Sự quan tâm ấy mạnh mẽ đến nỗi Chúa Giêsu Kitô đã bước vào trần gian để đem con người về với Ngài. Do đó, họ tin chắc rằng “có Thiên Chúa và Người tưởng thưởng những ai tìm kiếm Người”. Có niềm tin căn bản như thế rồi, họ sẽ phát biểu lòng tôn kính Danh Chúa ra sao? Các nhà chú giải lời cầu xin này thường nêu ra ba điểm sau đây:
a. Về phương diện tiêu cực, không được phỉ báng mà luôn xưng hô Chúa cách tôn kính. Đây là điểm nhỏ hẹp liên quan đến cách nói năng của chúng ta.
b. Tích cực hơn một chút, ta phải dùng ngôn từ để ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa. Nói cách khác là dùng các lời cầu nguyện và ca ngợi trong phụng vụ cũng như trong các hành vi thờ phượng theo nghĩa hẹp mà tôn kính Danh Thiên Chúa. Đây vẫn là điểm nhỏ hẹp, giới hạn trong việc thờ phượng Thiên Chúa trong Giáo Hội.
c. Thiên Chúa phải được tôn kính trong tâm hồn và con người phải dùng tác phong đi đứng nói năng bên ngoài mà liên tục biểu lộ lòng tôn kính nội tâm ấy ra để người khác được khích lệ mà tôn kính Thiên Chúa nữa. Nghĩa là, ta tôn kính Thiên Chúa và làm Danh Người hiển thánh bằng hành động của cuộc sống hàng ngày.
Dĩ nhiên lối giải thích sau cùng là giải thích đúng nhất. Sự tôn kính không phải chỉ trong lời nói; cũng không thể chỉ đóng khung trong phụng vụ và ca khen của Giáo Hội, dù phụng vụ và ca khen ấy có huy hoàng và long trọng đến đâu. Sự tôn kính ấy phải được sống và chứng tỏ trong từng giây phút đời ta, cả trong Giáo Hội lẫn ngoài thế gian.
6. Lòng tôn kính nơi các giáo phụ
Các giáo phụ quan niệm lòng tôn kính kia theo ba hướng khác nhau:
a. Ta tôn kính Thiên Chúa khi các niềm tin của ta về Thiên Chúa xứng hợp với Người. Nghĩa là phải có học lý và giáo huấn chân thực về Thiên Chúa. Đây là quan điểm đặc trưng của Origen (Về Cầu Nguyện, 24). Thiên Chúa tự mạc khải mình là Đấng Tự Hữu (Xh 3:14). Vậy mà giờ đây, ai cũng đưa ra đủ thứ giả định về Thiên Chúa. Vì quả thực con người, vì là người, chỉ có thể hiểu được rất ít về sự thánh thiện của Thiên Chúa. Và, vì ta rất dễ sai lầm, và lầm tưởng sự thật phiến diện là sự thật toàn vẹn, nên ta luôn phải cầu xin “để quan niệm của ta về Thiên Chúa được hiển thánh giữa chúng ta”. “Kẻ đem vào quan niệm Thiên Chúa những ý niệm không có chỗ đứng trong đó quả đã kêu danh Thiên Chúa vô ích”. Vì Danh Chúa là chính bản tính và đặc điểm của Thiên Chúa, nên ai đem vào ý niệm của mình về Thiên Chúa các tư tưởng và quan điểm xa lạ với đặc điểm chân thực về Thiên Chúa là phạm tội bất kính và quả đã không hiển dương Danh Người.
Điển hình là người Hy Lạp cổ: với những câu truyện về chiến tranh, chiến trận, tranh chấp, cãi cọ, yêu thương và giận ghét, rù quyến và ngoại tình gán cho các thần minh, họ quả đã phạm tội bất kính, vì họ đã mang vào ý niệm Thiên Chúa những điều không có chỗ đứng ở đó. Các Kitô hữu xem ra cũng chả khá hơn gì. Nhiều khi họ cũng nghĩ về Chúa như dã man, ưa trả thù, độc ác và tàn bạo, thật khác xa với Đấng Thiên Chúa ta thấy nơi Chúa Giêsu Kitô. Nhiều người quan niệm một Thiên Chúa đùa dỡn với thuyết tiền định: muốn đầy ải người này mà tha cho người nọ khỏi hình phạt muôn kiếp. Lại cũng có khi họ miêu tả một Thiên Chúa ham chiến tranh, một thứ đồng minh cho chủ nghĩa duy dân tộc. Họ vẽ ra một Thiên Chúa phù hợp với lý thuyết ưu việt tính về dòng giống riêng của họ. Cũng có người dựng lên một Thiên Chúa làm rào cản cho tiến bộ xã hội hay biến tôn giáo thành thuốc phiện ngu dân, hay duy trì nguyên trạng bất công thoái hóa. Cho phép những quan điểm ấy về Thiên Chúa quả là đã không hiển thánh Danh Người. Ta chỉ có thể hiển thánh Danh ấy, nếu ta có quan niệm Kitô giáo chân thực về Thiên Chúa.
b. Ta tôn kính Thiên Chúa và hiển thánh Danh Người, khi ta sống sao đó để đem được vinh dự lại cho Thiên Chúa và lôi kéo người khác đến với Người. Các thánh như Cyril thành Giêrusalem (Giảng Giáo Lý, 23) cho hay danh Chúa là danh thánh ngay trong nó và ngay trong bản tính của nó bất kể ta nói hay làm gì hay không nói và không làm gì với Danh ấy. Lời cầu xin vì thế không thể nào làm cho Danh Chúa từ không thánh trở thành thánh được. Ta phải cầu lời xin ấy để Danh Chúa “nên thánh trong chúng ta, khi ta được nên thánh và làm những việc xứng với sự nên thánh ấy”. Thánh Cyprian (Về Kinh Lạy Cha, 12) cho hay hiển nhiên không thể có chuyện ta mong Danh Chúa nhờ lời cầu xin của ta mà được hiển thánh. Điều ta thực sự cầu xin là “Danh Người hiển thánh trong chúng ta”. Tertullian (Về Cầu Nguyện, 3) cũng nói hệt như thế. Thánh Augustine (Bài Giảng Trên Núi, 5:19) cũng vậy: Không phải Danh Chúa không thánh thiện, mà là con người phải coi danh ấy là thánh thiện, nghĩa là Thiên Chúa trở nên gần gũi và thân thiết với chúng ta đến độ ta không còn coi sự gì thánh thiện hơn Danh Người và không sợ gì bằng xúc phạm đến Danh ấy. Nhưng không ai nói hay hơn Thánh Gregory thành Nyssa trong bài giảng thứ ba của ngài về Kinh Lạy Cha. Ta cầu kinh nguyện này vì bản tính nhân loại tự nó yếu đuối đến độ không thể thực hiện được điều nó biết rõ mình phải thực hiện. Điều tốt chỉ có thể được thực hiện trong ta với ơn Chúa giúp. Và trong mọi điều tốt, quan trọng nhất là điều này: Thiên Chúa được tôn vinh qua cuộc sống chúng ta.
Điều ấy, theo thánh Gregory, sẽ rõ ràng hơn nếu trước hết ta nhìn đến khía cạnh tiêu cực của nó. Thánh Phaolô, trong thư Rôma (2:24), lên án những kẻ vì họ “Danh Thiên Chúa bị phỉ báng nơi dân ngoại”. Người Kitô hữu vốn sống trong môi trường ngoại giáo; và nếu người ngoại giáo thấy người Kitô hữu sống một cuộc sống vô luân, vô tôn giáo và vô yêu thương, chắc chắn họ sẽ gán sự xấu xa của cuộc sống ấy không phải cho các cá nhân Kitô hữu mà là cho chính Kitô giáo mà các cá nhân Kitô hữu kia chỉ là đại diện. Bởi thế, lời cầu xin thực sự có nghĩa là: “Xin cho Danh Cha hiển thánh trong con, để mọi người thấy việc làm tốt của chúng con mà vinh danh Cha chúng con ở trên trời”.
Rồi thánh Gregory mô tả lối sống có thể hiển thánh được Danh Chúa: “Người sống lối sống này sẽ mạnh mẽ phản công các cuộc tấn kích của dục vọng; vì họ chỉ tham dự vào các đòi hỏi của đời một cách tối thiểu cần thiết, nên họ sẽ không để mình mềm nhũn trong xa hoa thân xác mà sẽ là khách hoàn toàn xa lạ với ganh tị và lười lĩnh cũng như khoe khoang khóac lác. Họ đụng đất nhưng chỉ nhẹ nhàng với đầu ngón chân, vì họ không để mình bị tràn ngập với vui hưởng đời này, mà đứng trên những lừa dối do giác quan đem lại. Và do đó, dù vẫn trong thân xác, họ cố vươn tới cuộc sống không duy vật. Họ coi việc chiếm hữu nhân đức như của cải độc nhất, việc thân mật với Chúa như nét thanh cao vô nhị. Đặc ân và uy quyền duy nhất của họ là làm chủ bản thân mình để hết còn là nô lệ cho dục vọng con người nữa. Họ sẽ rất buồn khi thấy cuộc sống trên dương gian cứ kéo dài lê thê; giống như người say sóng muốn mau tới hải cảng để được nghỉ ngơi”. Ngài bảo rằng, khi cầu kinh nguyện này, ngài thực sự muốn xin “cho con, nhờ ơn Chúa giúp, được trong sạch, công chính và đạo hạnh, tránh được mọi sự dữ, chỉ nói điều chân thật và làm điều công chính. Xin cho con bước theo đường ngay, điều độ, không trụy lạc, đầy khôn ngoan khéo léo. Xin cho con biết suy niệm những điều ở trên cao và khinh chê những điều trần tục, biểu lộ lối sống như thiên thần… Vì con người không thể tôn vinh Thiên Chúa cách nào khác hơn là bằng nhân đức của mình, một nhân đức chứng minh rằng Quyền Lực Thiên Chúa chính là nguyên nhân tạo ra sự tốt lành nơi họ”.
Các giáo phụ nhấn mạnh đến điểm trên vì các ngài sống trong môi trường ngoại giáo, một môi trường trong đó Kitô giáo chỉ có thể truyền bá và chinh phục được thế giới bằng cuộc sống tốt lành của các cá nhân Kitô Hữu mà thôi. Chúng ta đang sống trong một môi trường còn thù nghịch Kitô giáo hơn thế nữa: thù nghịch đến độ Kitô giáo và Giáo Hội Kitô đã gần như bị gạt ra ngoài, trở thành chẳng còn chi ăn nhậu với xã hội này nữa. Nếu các cá nhân Kitô hữu tiếp tục sống như những kẻ không tin, cũng sầu buồn, nản chí, bất mãn, lắng lo, xao xuyến, căng thẳng, lăng xăng, bất lương, tự đi tìm mình, cân đo mọi sự bằng giá trị vật chất… thì ai mà ham cái thứ Kitô giáo của họ, vì nào có khác gì đâu. Câu nói của Nietschze vẫn còn vang vọng bên tai: “Hãy cho tôi xem các anh được cứu độ ra sao, tôi sẽ tin vào đấng cứu độ các anh”.
c. Bây giờ thì đã rõ: lời cầu xin này không phải chỉ về phía ta mà còn về phía Chúa nữa. Vì lời cầu xin này, nếu không có ơn phù trợ của Chúa, ta không thể nào chu toàn được. Nếu chúng ta muốn hiển thánh Danh Chúa, trước nhất ta phải đặt Chúa lên ngôi trong trái tim ta. Trong bài bình luận của ông về lời cầu xin này, Origen có một đoạn hết sức đẹp và nhìn xa trông rộng (Về Cầu Nguyện, 24:4). Ông đồng hóa hiển thánh Danh Chúa với tán dương Danh Chúa. Ông trích Thánh Vịnh 30:1: “Lạy Chúa, con tán dương Chúa, vì đã thương cứu vớt, không để quân thù đắc chí nhạo cười con”.Trong thánh vịnh này, soạn giả đã tán dương, hiển thánh Danh Thiên Chúa. Rồi Origen trích tựa đề của thánh vịnh này: “Một Thánh Vịnh của Đa-vít. Bài Ca Thánh Hiến Đền Thờ”. Từ đó ông diễn dịch: “Ta tán dương Thiên Chúa khi ta thánh hiến trong ta một ngôi nhà cho Thiên Chúa”. Tán dương Thiên Chúa, hiển thánh Danh Người, trong phân tích vừa rồi, phải có nghĩa là biến trái tim ta thành đền thờ và nơi Người cư ngụ, vì chỉ khi nào Người cư ngụ trong trái tim ta, cuộc sống ta mới thực sự tôn vinh Người và thực sự lôi kéo người khác về với Người.
Để kết luận, “Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng” chính là lời cầu xin tránh cho ý niệm Tình Phụ Tử nơi Thiên Chúa khỏi rơi vào tình cảm ướt át và đặt ra một cách hết sức rõ ràng bổn phận ta phải tỏ lòng cung kính. Trong đó, ta xin Thiên Chúa giúp ta biết dành cho Người chỗ đứng độc đáo mà bản tính và đặc điểm cũng như phẩm cách của Người, từng được mạc khải nơi Chúa Giêsu Kitô, có quyền đòi hỏi và xứng đáng nhận được. Và ta chỉ có thể dành cho Người chỗ đứng ấy khi quan niệm của ta về Người phải thực sự có tính Kitô giáo, và khi cuộc sống ta được khoác bộ áo xinh đẹp của thánh thiện, luôn là lời mời biết chia sẻ bí quyết ta nhận được từ Chúa Giêsu Kitô. Ta biết ta chỉ làm được điều đó, khi ta biết đặt Người lên ngôi trong trái tim ta.
Vũ Văn An
Viết theo: William Barclay, The Plain Man Looks At The Lord’s Prayer.
(Còn tiếp)