ẢNH HƯỞNG TRUYỀN GIÁO QUA LỐI SỐNG CỦA LINH MỤC
Lối sống của các linh mục rất có ảnh hưởng trong vấn đề truyền giáo, đối với những người chung quanh, nhất là những người bên ngoài.
Nhưng vì sống với nhau trong môi trường Ki-tô giáo giữa “con chiên bổn đạo” lai quá quen với ngôn ngữ và lề thói của con nhà có đạo. nên có khi các linh mục không để ý và coi chừng đủ đối với những người bên ngoài, xem người ta nghĩ gì và nghĩ thế nào về mình cũng như về đạo của mình. Thật vậy, đã có bao giờ người công giáo chúng ta nghĩ và đặt ra câu hỏi: “Tại sao đạo của chúng ta chặt chẽ và qui củ như vậy, tại sao nhiều nhà thờ của chúng ta khang trang đẹp đẽ, tại sao các đoàn thể của chúng ta vui vẻ sầm uất, tại sao các lễ nghi trong các nhà thờ của chúng ta đẹp mắt như thế, mà số người vào đạo chẳng được bao nhiêu ?” Ấy là chưa kể đến những họat động từ thiện hay cứu trợ trong những đợt thiên tai hỏa họan đấy ! Tại sao thế ? Nếu căn cứ vào cái vẻ bên ngoài thì phải nói là đạo của chúng ta thật hấp dẫn”. Nhưng thực tế lại không phải như vậy. Âu là có một cái gì tiềm ẩn như một tấm bình phong ngăn cản và che đậy, chưa cho người ta nhìn thấy thực chất và sức quyến rũ đích thật của đạo chúng ta.
Chúng ta vui và lấy làm bằng lòng vì các nhà thờ của chúng ta được mở mang rộng rãi xinh đẹp hơn trước. Chúng ta mừng khi thấy bổn đạo đi lễ, di nhà thờ vẫn đông, đi kiệu đi rước sầm uất, lại siêng năng đọc kinh, xưng tội, rước lễ. Chúng ta hãnh diện vì có đông người đi tu. Tất cả những điều đó thật đáng vui, đáng mừng và đáng hãnh diện, nhưng e rằng tình trạng này không biết còn kéo dài được bao lâu nữa, khi nền kinh tế chung của đất nước phát triển đồng đều và khả quan hơn. Vậy, như thế đã đủ chưa hay còn phải có một cái gì khác thêm nữa và cái thêm đó là cái gì ? Và tại sao tất cả những cái hay nói trên chưa đủ sức thu hút người ta vào đạo ?
Có lẽ vì vậy nên Hội thánh mới phải luôn nhắc nhở và đôn đốc việc truyền giáo. Nói đến truyền giáo thì thường người ta hay nghĩ đến việc đi đến và ở giữa những người ngoài công giáo. Ở giữa những người đó để sống và làm chứng. Hiện đang có những anh chị em của chúng ta ở những vùng sâu vùng xa, bên cạnh dồng bào không phải là công giáo.
Nhưng truyền giáo không nguyên chỉ có nghĩa là đi xa mà còn là ở gần, ở giữa và ở với ngay tại quê hương xứ sở hay nơi mình đang sinh sống và làm việc. Vì vậy, truyện giáo mới có hai mặt, một mặt gọi là bên trong (missio ad intra) và một mặt gọi là bên ngoài (missio ad extra). Mặt ngoài là đi đến với những người ở xa chưa biết Chúa hay đã bỏ Chúa; mặt trong là làm việc truyền giáo ngay tại nhà mình, tại họ đạo mình hay nơi mình đang sống.
Phần đông các linh mục lo công việc mục vụ trong các họ đạo, nên khó làm được việc truyền giáo ở mặt ngoài. Vì thế, phải chú trọng đến mặt bên trong nhiều hơn. Mà mặt bên trong thì ngoài những việc các linh mục vẫn làm liên quan đến mục vụ, thiết tưởng có hai vấn đề nên lưu tâm, đó là thái độ đối với những người ngoài công giáo và cách sử dụng tiền bạc xây cất cơ sở tôn giáo và tổ chức lễ lạt đình đám, để tránh cho khỏi bị mang tiếng là không biết xử thế ở đời, và vô cảm trước cảnh nghèo khổ của những người túng đói, hay lợi dụng cơ hội để làm tiền, như nhiêu người than phiền, vì có những linh mục ở Mỹ tổ chức tiệc tùng tại nhà hàng để mừng kỷ niệm 5 năm, 10 năm, 15 năm linh mục v.v… Nếu tổ chức 25 năm thì người ta còn hiểu được, vì đó là thói quen đã có từ lâu. Tuy vậy, cũng nên liệu sao cho vừa phải, kẻo bị phê bình và mang tiếng là tiêu phí hay mở tiệc đề nhân cơ hội nhận quả cáp và tiền bạc. Vấn đề này hơi khó, vì người Việt Nam quá quen với tiêc tùng, lễ hội, đình đám, khao vọng, nên có thể vì thế, các linh mục cũng bị áp lực nặng nề của dư luận và thói quen. Nhưng có lúc phải vượt lên trên những thứ đó, để xứng với danh là những người giáo dục đức tin và hướng dẫn dư luận.
Vây, chúng ta phải đối xử thế nào với những người bên ngoài và xử sự làm sao khi phải tiêu tiền vào việc xây cất và những dịp lễ lạt đình đám.
Người bên ngoài
Người bên ngoài hay người ngoại, hoặc người bên lương là người không theo đạo Chúa. Bên công gíáo gọi những người này là ngoại đạo hay không có đạo. Những kiểu nói này vô hình trung đã làm cho nhiều người ngoài công giáo bực bội và khó chịu, vì họ cho là mình bị khinh thường và đánh gíá thấp, thậm chí có những người công giáo còn phũ phàng hơn khi gọi họ là “quân ngoại đạo”. Người công giáo Việt Nam chỉ là con số nhỏ trong cộng đồng một dân tộc đông tới hơn 80 triệu dân. Linh mục chúng ta quen sống với những người đồng đạo. Chúng ta thường dùng ngôn ngữ và theo lề thói của những người “có đạo.” Nhưng có mấy khi chúng ta nghĩ đến những người không cùng một đạo ở chung quanh, và những phản ứng của họ khi thấy người công giáo nói năng cư xử không ? Có thể vì kiểu nói hay cách cư xử lạ lùng của người công giáo dưới mắt người ngoài đạo, mà những người này nhìn người công giáo không mấy thiện cảm và cho là “ kỳ cục”. Quả thế, theo một nghĩa nào đó, người công giáo “kỳ cục” thật, vì họ không giống ai cả. Có lẽ vì vậy thánh Phê-rô mới bảo các Ki-tô hữu hãy coi mình như những kẻ xa lạ giữa trần gian (I Pr 2,17). Xa lạ ở đây phải hiểu là vì theo đạo, phải giữ đức tin và những điều đức tin đòi hỏi nên xem ra khác la. Còn ngoài ra, người công giáo không nên biến mình thành những người “kỳ cục” hay xa lạ giữa những người khác.
Ở đây có vấn đề hội nhập văn hóa. Làm thế nào để linh mục và người công giáo không còn bị coi là xa lạ đối với văn hóa dân tộc và đồng bào của mình. Linh mục và người công giáo cũng là người Việt Nam, cùng có chung một nguồn gốc và một di sản văn hóa. Những gì là giá trị của tổ tiên để lại, linh mục và người công giáo cũng phải tôn trọng và yêu quí. Vì thế, hiện nay mới có phong trào tìm lại những giá trị trong văn hóa Việt Nam để đưa vào đạo, và trình bày đạo trong bộ áo ngôn ngữ có màu sắc văn hóa đó.
Vậy, linh mục nên để ý đến những người bên ngoài, để khỏi làm cớ gây ngạc nhiên và khó chịu cho họ về cử chỉ, ngôn ngữ và lối hành xử của mình
Có người kể lại, hồi mấy chục năm về trước, nhà văn Tô Hoài có lần đã viết ở đâu đó rằng: “Linh mục là người suốt ngày bí mật trong chiếc áo chùng thâm”, và nhà báo Chu Tử quãng thập niên 60, cũng viết: ” Linh mục là người mặc áo chùng thâm, đi giầy tây”, khi ông đưa ra một định nghĩa về linh mục.
Có lẽ người ngoài cũng chỉ biết về linh muc như Tô Hoài và Chu Tử chăng ? Vậy nhân danh sứ mệnh truyền Giáo, các linh mục cũng nên lưu tâm đến hành vi, cử chỉ, lời nói của mình giữa những người không phải là công giáo. Người ta truyền giáo không phải chỉ bằng lời rao giảng, nhưng nhất là bằng thái độ và đời sống, thái độ trọng kính người khác và đời sống phù hợp với những điều đạo dạy, được cụ thể hóa ra bên ngoài, bằng những hành động thiết thực hơn như thân thiện, gần gũi và trọng kinh v.v,,,
LỄ LẠT ĐÌNH ĐÁM
Tự điển tiếng Việt chỉ có từ lễ lạt mà không thấy từ lễ lạc. Thông thường khi nói đến từ này, người ta hay nghe ra lễ lạc hơn lễ lạt. Theo định nghĩa của tự điển thì lễ lạt là các cuộc lễ hay lễ vật nói khái quát. Chữ này thuộc loại khẩu ngữ. Còn từ lễ lạt mà đọc ra lễ lạc, thiết tưởng có hai lý do: một là phát âm sai, hai là muốn chuyển sang chữ lạc với ngụ ý là vui. Có lễ thì phải có lạc Mà muốn vui, phải có ăn uống.
Từ xưa đến nay, lễ lạt vốn là một thói quen gần như truyền thống trong sinh hoạt của người Việt Nam. Nước ta là một nước nông nghiệp. Làm nông nghiệp phải theo thời vụ. Có thời rất vất vả như lúc cày bừa, gieo mạ, cấy lúa, gặt hái. Nhưng qua những thời kỳ đó, nhiều người dân không có việc làm. Không có việc làm thì phải tìm cách lấp đầy khoảng thời gian trống vắng đó. Phải chăng vì vậy, trong dân gian ngày trước mới có câu: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè”. Các thứ hội hè, đình đám như hội chùa Hương, lễ hỏi, đám tang v.v... là những nếp sinh hoạt phản ánh phần nào văn hóa của người Việt Nam. Người có đạo chúng ta cũng sống trong nền văn hóa đó. Phần giá trị trong nền văn hóa này là qua một số biểu thị của lễ lạt đình đám, người ta đối xử với nhau theo tình làng nghĩa xóm, vui buồn có nhau, thân mật gần gũi.
Nhưng bên cạnh đó cũng phải nói đến một vài điều không được hay lắm về mặt xã hội. Đã hẳn, ở đời phải có lễ lạt. Người nào, gia đình nào, đoàn thể nào cũng có những ngày lễ mừng. Vấn đề không phải là mừng, nhưng là mừng sao cho hợp lý và phải đạo. Những lễ mừng quá linh đình tốn phí, ở giữa đám dân nghèo, trong hoàn cảnh khó khăn là điều thật không nên, tuy rằng tổ chức mừng to có thể được khen lao nể trọng. Nhưng đối với những người thuộc về Hội thánh, một Hội thánh muốn phục vụ người nghèo, một Hội thánh không muốn là ốc đảo giữa một đại dương mênh mông của nghèo đói và khốn cùng (Tuyên ngôn Hội nghị các Giám mục Á châu tại Manila năm 1971) thì liệu các lễ lạt tưng bừng tốn phí kia có khỏi là một bằng chứng phản ngược lại với chủ trương trong bàn tuyên ngôn không ? Người bên ngoài vẫn nhìn vào người công giáo để xem lời nói và việc làm có đi đôi với nhau không ? Công việc truyền giáo không phải chỉ diễn ra bằng lời nói, nhưng còn bằng lối sống của người công giáo bên cạnh những người không công giáo. Nhà văn Đồ Phồn trước kia có viết cuốn tiểu thuyết đề là KHAO. Cuốn tiểu thuyết này có thể gợi lên những câu hỏi đáng suy nghĩ về lễ lạt và khao vọng của chúng ta lắm.
Kết luận
Phần đông các linh muc là cha sở. Là cha sở thì có nhiều quyền hành trong họ đạo. Vì có quyền và quen hành quyền nên có thể dễ quên rằng quyền hành là để phục vụ. Công đồng Va-ti-ca-nô II đã có một cái nhin mang nặng tính Tin Mừng, khi nhấn mạnh đến góc cạnh phục vụ của quyền bính: quyền binh là để phục vụ. Chẳng vậy, quyền bính có thể trở thành một chướng ngại cho cả người hành quyền lẫn người tòng quyền: người hành quyền có thể bị mang tiếng là độc tài, còn người tòng quyền có khi phải đau khổ. Đó là những điều đáng tiếc.
Vậy, vì ảnh hưởng truyền giáo, linh mục chúng ta nên lưu tâm đến cách đối xử với những người bên ngoài và cách sử dụng tiền bạc trong việc xây cất và tổ chức lễ lạt đình đám, để tránh gây ra những phản ứng bất lợi nơi người bên trong cũng như bên ngoài đạo.
Lối sống của các linh mục rất có ảnh hưởng trong vấn đề truyền giáo, đối với những người chung quanh, nhất là những người bên ngoài.
Nhưng vì sống với nhau trong môi trường Ki-tô giáo giữa “con chiên bổn đạo” lai quá quen với ngôn ngữ và lề thói của con nhà có đạo. nên có khi các linh mục không để ý và coi chừng đủ đối với những người bên ngoài, xem người ta nghĩ gì và nghĩ thế nào về mình cũng như về đạo của mình. Thật vậy, đã có bao giờ người công giáo chúng ta nghĩ và đặt ra câu hỏi: “Tại sao đạo của chúng ta chặt chẽ và qui củ như vậy, tại sao nhiều nhà thờ của chúng ta khang trang đẹp đẽ, tại sao các đoàn thể của chúng ta vui vẻ sầm uất, tại sao các lễ nghi trong các nhà thờ của chúng ta đẹp mắt như thế, mà số người vào đạo chẳng được bao nhiêu ?” Ấy là chưa kể đến những họat động từ thiện hay cứu trợ trong những đợt thiên tai hỏa họan đấy ! Tại sao thế ? Nếu căn cứ vào cái vẻ bên ngoài thì phải nói là đạo của chúng ta thật hấp dẫn”. Nhưng thực tế lại không phải như vậy. Âu là có một cái gì tiềm ẩn như một tấm bình phong ngăn cản và che đậy, chưa cho người ta nhìn thấy thực chất và sức quyến rũ đích thật của đạo chúng ta.
Chúng ta vui và lấy làm bằng lòng vì các nhà thờ của chúng ta được mở mang rộng rãi xinh đẹp hơn trước. Chúng ta mừng khi thấy bổn đạo đi lễ, di nhà thờ vẫn đông, đi kiệu đi rước sầm uất, lại siêng năng đọc kinh, xưng tội, rước lễ. Chúng ta hãnh diện vì có đông người đi tu. Tất cả những điều đó thật đáng vui, đáng mừng và đáng hãnh diện, nhưng e rằng tình trạng này không biết còn kéo dài được bao lâu nữa, khi nền kinh tế chung của đất nước phát triển đồng đều và khả quan hơn. Vậy, như thế đã đủ chưa hay còn phải có một cái gì khác thêm nữa và cái thêm đó là cái gì ? Và tại sao tất cả những cái hay nói trên chưa đủ sức thu hút người ta vào đạo ?
Có lẽ vì vậy nên Hội thánh mới phải luôn nhắc nhở và đôn đốc việc truyền giáo. Nói đến truyền giáo thì thường người ta hay nghĩ đến việc đi đến và ở giữa những người ngoài công giáo. Ở giữa những người đó để sống và làm chứng. Hiện đang có những anh chị em của chúng ta ở những vùng sâu vùng xa, bên cạnh dồng bào không phải là công giáo.
Nhưng truyền giáo không nguyên chỉ có nghĩa là đi xa mà còn là ở gần, ở giữa và ở với ngay tại quê hương xứ sở hay nơi mình đang sinh sống và làm việc. Vì vậy, truyện giáo mới có hai mặt, một mặt gọi là bên trong (missio ad intra) và một mặt gọi là bên ngoài (missio ad extra). Mặt ngoài là đi đến với những người ở xa chưa biết Chúa hay đã bỏ Chúa; mặt trong là làm việc truyền giáo ngay tại nhà mình, tại họ đạo mình hay nơi mình đang sống.
Phần đông các linh mục lo công việc mục vụ trong các họ đạo, nên khó làm được việc truyền giáo ở mặt ngoài. Vì thế, phải chú trọng đến mặt bên trong nhiều hơn. Mà mặt bên trong thì ngoài những việc các linh mục vẫn làm liên quan đến mục vụ, thiết tưởng có hai vấn đề nên lưu tâm, đó là thái độ đối với những người ngoài công giáo và cách sử dụng tiền bạc xây cất cơ sở tôn giáo và tổ chức lễ lạt đình đám, để tránh cho khỏi bị mang tiếng là không biết xử thế ở đời, và vô cảm trước cảnh nghèo khổ của những người túng đói, hay lợi dụng cơ hội để làm tiền, như nhiêu người than phiền, vì có những linh mục ở Mỹ tổ chức tiệc tùng tại nhà hàng để mừng kỷ niệm 5 năm, 10 năm, 15 năm linh mục v.v… Nếu tổ chức 25 năm thì người ta còn hiểu được, vì đó là thói quen đã có từ lâu. Tuy vậy, cũng nên liệu sao cho vừa phải, kẻo bị phê bình và mang tiếng là tiêu phí hay mở tiệc đề nhân cơ hội nhận quả cáp và tiền bạc. Vấn đề này hơi khó, vì người Việt Nam quá quen với tiêc tùng, lễ hội, đình đám, khao vọng, nên có thể vì thế, các linh mục cũng bị áp lực nặng nề của dư luận và thói quen. Nhưng có lúc phải vượt lên trên những thứ đó, để xứng với danh là những người giáo dục đức tin và hướng dẫn dư luận.
Vây, chúng ta phải đối xử thế nào với những người bên ngoài và xử sự làm sao khi phải tiêu tiền vào việc xây cất và những dịp lễ lạt đình đám.
Người bên ngoài
Người bên ngoài hay người ngoại, hoặc người bên lương là người không theo đạo Chúa. Bên công gíáo gọi những người này là ngoại đạo hay không có đạo. Những kiểu nói này vô hình trung đã làm cho nhiều người ngoài công giáo bực bội và khó chịu, vì họ cho là mình bị khinh thường và đánh gíá thấp, thậm chí có những người công giáo còn phũ phàng hơn khi gọi họ là “quân ngoại đạo”. Người công giáo Việt Nam chỉ là con số nhỏ trong cộng đồng một dân tộc đông tới hơn 80 triệu dân. Linh mục chúng ta quen sống với những người đồng đạo. Chúng ta thường dùng ngôn ngữ và theo lề thói của những người “có đạo.” Nhưng có mấy khi chúng ta nghĩ đến những người không cùng một đạo ở chung quanh, và những phản ứng của họ khi thấy người công giáo nói năng cư xử không ? Có thể vì kiểu nói hay cách cư xử lạ lùng của người công giáo dưới mắt người ngoài đạo, mà những người này nhìn người công giáo không mấy thiện cảm và cho là “ kỳ cục”. Quả thế, theo một nghĩa nào đó, người công giáo “kỳ cục” thật, vì họ không giống ai cả. Có lẽ vì vậy thánh Phê-rô mới bảo các Ki-tô hữu hãy coi mình như những kẻ xa lạ giữa trần gian (I Pr 2,17). Xa lạ ở đây phải hiểu là vì theo đạo, phải giữ đức tin và những điều đức tin đòi hỏi nên xem ra khác la. Còn ngoài ra, người công giáo không nên biến mình thành những người “kỳ cục” hay xa lạ giữa những người khác.
Ở đây có vấn đề hội nhập văn hóa. Làm thế nào để linh mục và người công giáo không còn bị coi là xa lạ đối với văn hóa dân tộc và đồng bào của mình. Linh mục và người công giáo cũng là người Việt Nam, cùng có chung một nguồn gốc và một di sản văn hóa. Những gì là giá trị của tổ tiên để lại, linh mục và người công giáo cũng phải tôn trọng và yêu quí. Vì thế, hiện nay mới có phong trào tìm lại những giá trị trong văn hóa Việt Nam để đưa vào đạo, và trình bày đạo trong bộ áo ngôn ngữ có màu sắc văn hóa đó.
Vậy, linh mục nên để ý đến những người bên ngoài, để khỏi làm cớ gây ngạc nhiên và khó chịu cho họ về cử chỉ, ngôn ngữ và lối hành xử của mình
Có người kể lại, hồi mấy chục năm về trước, nhà văn Tô Hoài có lần đã viết ở đâu đó rằng: “Linh mục là người suốt ngày bí mật trong chiếc áo chùng thâm”, và nhà báo Chu Tử quãng thập niên 60, cũng viết: ” Linh mục là người mặc áo chùng thâm, đi giầy tây”, khi ông đưa ra một định nghĩa về linh mục.
Có lẽ người ngoài cũng chỉ biết về linh muc như Tô Hoài và Chu Tử chăng ? Vậy nhân danh sứ mệnh truyền Giáo, các linh mục cũng nên lưu tâm đến hành vi, cử chỉ, lời nói của mình giữa những người không phải là công giáo. Người ta truyền giáo không phải chỉ bằng lời rao giảng, nhưng nhất là bằng thái độ và đời sống, thái độ trọng kính người khác và đời sống phù hợp với những điều đạo dạy, được cụ thể hóa ra bên ngoài, bằng những hành động thiết thực hơn như thân thiện, gần gũi và trọng kinh v.v,,,
LỄ LẠT ĐÌNH ĐÁM
Tự điển tiếng Việt chỉ có từ lễ lạt mà không thấy từ lễ lạc. Thông thường khi nói đến từ này, người ta hay nghe ra lễ lạc hơn lễ lạt. Theo định nghĩa của tự điển thì lễ lạt là các cuộc lễ hay lễ vật nói khái quát. Chữ này thuộc loại khẩu ngữ. Còn từ lễ lạt mà đọc ra lễ lạc, thiết tưởng có hai lý do: một là phát âm sai, hai là muốn chuyển sang chữ lạc với ngụ ý là vui. Có lễ thì phải có lạc Mà muốn vui, phải có ăn uống.
Từ xưa đến nay, lễ lạt vốn là một thói quen gần như truyền thống trong sinh hoạt của người Việt Nam. Nước ta là một nước nông nghiệp. Làm nông nghiệp phải theo thời vụ. Có thời rất vất vả như lúc cày bừa, gieo mạ, cấy lúa, gặt hái. Nhưng qua những thời kỳ đó, nhiều người dân không có việc làm. Không có việc làm thì phải tìm cách lấp đầy khoảng thời gian trống vắng đó. Phải chăng vì vậy, trong dân gian ngày trước mới có câu: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè”. Các thứ hội hè, đình đám như hội chùa Hương, lễ hỏi, đám tang v.v... là những nếp sinh hoạt phản ánh phần nào văn hóa của người Việt Nam. Người có đạo chúng ta cũng sống trong nền văn hóa đó. Phần giá trị trong nền văn hóa này là qua một số biểu thị của lễ lạt đình đám, người ta đối xử với nhau theo tình làng nghĩa xóm, vui buồn có nhau, thân mật gần gũi.
Nhưng bên cạnh đó cũng phải nói đến một vài điều không được hay lắm về mặt xã hội. Đã hẳn, ở đời phải có lễ lạt. Người nào, gia đình nào, đoàn thể nào cũng có những ngày lễ mừng. Vấn đề không phải là mừng, nhưng là mừng sao cho hợp lý và phải đạo. Những lễ mừng quá linh đình tốn phí, ở giữa đám dân nghèo, trong hoàn cảnh khó khăn là điều thật không nên, tuy rằng tổ chức mừng to có thể được khen lao nể trọng. Nhưng đối với những người thuộc về Hội thánh, một Hội thánh muốn phục vụ người nghèo, một Hội thánh không muốn là ốc đảo giữa một đại dương mênh mông của nghèo đói và khốn cùng (Tuyên ngôn Hội nghị các Giám mục Á châu tại Manila năm 1971) thì liệu các lễ lạt tưng bừng tốn phí kia có khỏi là một bằng chứng phản ngược lại với chủ trương trong bàn tuyên ngôn không ? Người bên ngoài vẫn nhìn vào người công giáo để xem lời nói và việc làm có đi đôi với nhau không ? Công việc truyền giáo không phải chỉ diễn ra bằng lời nói, nhưng còn bằng lối sống của người công giáo bên cạnh những người không công giáo. Nhà văn Đồ Phồn trước kia có viết cuốn tiểu thuyết đề là KHAO. Cuốn tiểu thuyết này có thể gợi lên những câu hỏi đáng suy nghĩ về lễ lạt và khao vọng của chúng ta lắm.
Kết luận
Phần đông các linh muc là cha sở. Là cha sở thì có nhiều quyền hành trong họ đạo. Vì có quyền và quen hành quyền nên có thể dễ quên rằng quyền hành là để phục vụ. Công đồng Va-ti-ca-nô II đã có một cái nhin mang nặng tính Tin Mừng, khi nhấn mạnh đến góc cạnh phục vụ của quyền bính: quyền binh là để phục vụ. Chẳng vậy, quyền bính có thể trở thành một chướng ngại cho cả người hành quyền lẫn người tòng quyền: người hành quyền có thể bị mang tiếng là độc tài, còn người tòng quyền có khi phải đau khổ. Đó là những điều đáng tiếc.
Vậy, vì ảnh hưởng truyền giáo, linh mục chúng ta nên lưu tâm đến cách đối xử với những người bên ngoài và cách sử dụng tiền bạc trong việc xây cất và tổ chức lễ lạt đình đám, để tránh gây ra những phản ứng bất lợi nơi người bên trong cũng như bên ngoài đạo.