CẢM NGHIỆM ĐẦU XUÂN


Hằng năm, mỗi độ Xuân về, khi nhìn vào dĩ vảng xa xôi vô cùng tận, một chuỗi những MÙA XUÂN quan trọng nối tiếp nhau, xuất hiện như một dòng sông định mệnh trôi chảy, trong sự an bài tuyệt diệu của Thiên Chúa.

Vào thuở ban sơ, khi càn khôn vũ trụ còn là một khối hỗn mang, MÙA XUÂN SÁNG THẾ đã bắt đầu với Quyền Năng của Thiên Chúa vận hành trên vũ trụ: "Đất thời trống không mông quạnh, tối tăm bao trùm vực thẳm và Thần Khí Thiên Chúa là là trên mặt nước" (STK 1:2).

Đến khi thái dương hệ lập phân, quả đất chuyển đổi, sự Tuần Hoàn Vũ Trụ đi vào chu kỳ vận hành phát sinh sự sống, khỡi đầu cho MÙA XUÂN SÁNG TẠO: "Đất đã trổ sinh thảo mộc, rau cỏ nảy sinh hạt giống theo loại, và cây sinh quả, trong quả có hạt giống theo loại." (STK 1:12).

Ở giữa cảnh tạo vật vô tri vô giác vô hồn đó, Thiên Chúa đã cho phát sinh muôn loài cầm thú và cuối cùng là loài người để chủ trì vạn vật: "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Ngài; Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa; Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ." (STK 1:27).

Với sự xuất hiện của tổ tông loài người, Đời Sống Tâm Linh bắt đầu ló rạng với bao biến thiên của tội ác như Huy-Cận đã viết:

"Hởi Thượng Đế,
Người nhìn xem, Người đã cho thân thể,
Bình thịt xương để chứa đựng linh hồn.
Người đã cho những bàn tay hoa nở,
Những cây chân, chồi mạnh búp tơ măng;
Người thu góp gió mây trong miệng thở,
Nơi mắt ngời, Người gởi ánh sao trăng;
Mắt sâu sáng thắp đèn soi vũ trụ,
Và tai rền thu cất nhạc không gian;
Và tơ tóc ướp vạn mùa hương ủ,
Và ngực vang ngân điệu nhịp hoàn toàn,
Và cổ đứng như mình cây vững chải,
Và vai ngang như mặt nước xuôi dài:
Hởi Thượng Đế, Người công phu biết mấy!
- Nhưng mọt sâu nương núp giữa lâu đài.
Nghìn yếu đuối theo sau nghìn yếu đuối,
Bước ngày mai sẽ chồng dấu hôm nay,
A! Thân thể! Một cái bình tội lỗi!
Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy."
(1)

Nhưng sau một thời gian dài khắc khoải chờ đợi gần như vô vọng, nhân loại đã đón mừng MÙA XUÂN CỨU ĐỘ, khi ánh sáng Bê-Lem bắt đầu tỏa rạng trên trần thế: "Ngôi Lời là ánh sáng thật. Ánh sáng đến thế gian và chiều soi mọi người." (Gio 1:9)

Nhưng khổ thay, thân phận con người không sao thoát khỏi vòng tục lụy, tội ác vẫn luôn đeo đẳng như một nghiệp duyên. Những MÙA XUÂN KHÓI LỬA tàn khốc nối tiếp nhau, nhất là trong thế kỷ hai mươi vừa qua. Và quê hương Việt-Nam cũng không thoát khỏi vòng xoay lịch sử, vớt biết bao dấu vết điêu tàn để lại trên mảnh đất tang tóc của xứ sở, gây nhiều đổ vỡ đớn đau cho những thương binh, những thiếu phụ và trẻ thơ vô tội:
"Trên mặt trận đưa về,
Đôi chân anh gãy nát,
Ao quần đẫm máu me."
(2)

Và rồi:
"Trăng lên quằn quại đêm mờ,
Con bò quanh khóc, mẹ quờ tay ôm.
.....
Khuya khuya con dại đói lòng,
Bò lên vú mẹ bú giòng máu tươi."
(3)

Khi cánh đồng Điện-Biên đã trở thành biển người chống chỏi với biển lửa thì máu đã chảy thành sông, xương chất thành núi: một nấm mồ vĩ đại chưa từng có!

Tiếp nối là Tết Mậu Thân, với những hố chôn tập thể ở đất thần kinh, mở đường cho Tháng Tư Đen, xô đẩy cả triệu người Việt lênh đênh trên biển cả, phân tán khắp năm châu bốn bể, kẻ chết chìm, người phiêu bạt đến một nơi xa xôi vô định, sống vật vờ trong những đất nước tạm dung:
"Tôi đâu biết thịt xương là núi,
Chia biệt người ra từng xứ cô đơn
." (4)

Đã trên một phần tư thế kỷ qua đi, những MÙA XUÂN HẢI NGOẠI tiếp nối nhau trở về, khiến người Việt cô đơn càng cô đơn hơn. Và rồi cuối cùng với thời gian, bên cạnh những cái "xuân xanh" đang lên, những chuỗi ngày "xế bóng" cũng bắt đầu trải dài, đưa đẩy những bậc cao niên đi dần vào MÙA XUÂN VĨNH CỮU, như lời thơ Huy-Cận:
"Tôi sẽ đến trước mặt Người, Thượng Đế!
Để kêu than khi tôi đã lìa đời;
Khi lá rụng và hồn tôi đã xế,
Sang bên kia thế giới của loài người,
Trước Thượng Đế hiền từ tôi sẽ đặt,
Trái tim đau khổ héo thuở trần gian.
Tôi sẽ nói: nầy đây là nước mắt,
Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan.
.....
Hởi Thượng Đế! Tôi cúi đầu trả lại,
Linh hồn tôi đã một kiếp đi hoang,
Sầu đã chín, xin Người thôi hãy hái!
Nhận tôi đi, dầu địa ngục , Thiên Đường
." (4)

"Điạ ngục", "Thiên Đường" là hai định xứ vĩnh cữu, nơi mà các "dòng sinh mệnh" đều đổ tuôn vào. Trong cuộc sống phù du, giữa bao trò ảo hóa, cái băn khoăn muôn thuở của con người là làm thế nào tìm thấy chân lý ánh sáng ở cuối đường hầm. Viễn ảnh của một ngày mai chấm dứt nghiệp duyên trên trần thế sẽ là một cơn ác mộng đối với những người thiếu vắng Đức Tin:

"Ôi! Con người thế kỷ ở trong tôi
Đã cất xong ngôi mộ cạnh hòn đồi
Mà thiên đàng hiển hiện trên ngôi
Cho nên tôi khóc, tôi khóc hoài không thôi."
(5)

Sự mất niềm tin ở nơi Thiên Chúa, ở nơi Đức Kitô - "Thiên Chúa nhập thể và ở cùng chúng tôi" - đã mang đến cho nhân loại những tâm thức chán chường và vô vọng, như được ghi nhận trong bài thơ "Chiều Tận Thế" sau đây:

"Sao ta bỗng giật mình lo ngại quá,
Hồn ta rên la than khóc hôm nay.
Ta muốn ôm, ôm lấy mặt trời ngày,
Xoay trái đất cho giáp vòng ánh sáng.
Oi! Bình minh một trời xuân chói rạng
Là cuộc đời ta những ước mong thay.
Loài người ơi! Ta chắp cả hai tay.
Đầu cúi lạy, ta nguyện cầu nhắn nhỏ.
Vì khổ đau, ta phải cần xin xỏ
Chút tình thương buộc chặt giữa người người.
Và hoa tươi và trời hỡi hoa tươi
Trái tốt đẹp của muôn đời vũ trụ.
Có lẽ đâu thời xuân xanh đi ngủ,
Thế gian chìm trong ác lặn hoàng hôn.
Người làm chi ta nghe dạ bồn chồn,
Trong tiến bộ đã có mầm tiêu diệt.

.....
Ôi! Đau đớn là những đường chia rẽ,
Tìm đâu ra những lối đến đại đồng.
Có lẽ đâu trời sẽ nổi cơn giông,
Rồi sấm chớp xô lâu đài thế hệ.
Đau thương, đau thương dường vô kể.
Liệu loài người sẽ quyết định chi đây.
Văn minh rồi nguy hiểm nắm trong tay,
Tưởng hy vọng ngờ đâu thành tuyệt vọng.
Không! Không! Tôi vẫn hãy còn trông ngóng
Chúa Trời! - Chúa Trời! - Chúa Trời! - Chúa Trời!
Cả cuộc đời không lẽ chỉ trò chơi.
Ôi! Ma quỷ và Thánh Thần lẫn lộn.

...
Ôi thôi rồi chủ nghĩa với xa xôi,
Chỉ minh chứng một lời Thánh Kinh nói.
Chiều tận thế tưởng chừng như réo gọi,
Rùng mình thay cho thảm cảnh cuối cùng,
Rùng mình thay cho cái phút lâm chung.
Ôi! Mệnh hệ, ai ngờ đâu mệnh hệ.
Loài người nay trần truồng không Thượng Đế,
Dắt nhau đi trong tiến bộ diệu kỳ.
Ngày tàn rồi bóng tối đến phân ly,
Đêm u khổ vào cuộc đời tội lỗi,
Đêm đã đến, chiều nhân gian hấp hối.
Anh sáng ơi! Khao khát đến vô cùng."(
6)

Và bao tang tóc, vô minh đã che lấp đôi mắt nhân thế, không phân biệt chân giả, thực hư, như lời tiên tri Giê-rê-mi đã than vãn: "Dân ta đã làm hai điều gian ác: chúng nó đã lìa bỏ Ta là nguồn nước sống mà tự đào lấy những hồ nước, nhưng là những hồ bị rạn nứt, không chứa nước được." (Giê 2:13)

Nhân ngày Đầu Xuân, niềm khát vọng lớn lao của nhân loại là sự "An Bình", một thứ an bình từ nội tâm ra ngoại cảnh, an bình với bản thân, với thân bằng quyến thuộc và cộng đồng tha nhân. Nhưng An Bình chân chính và vĩnh cữu phải đến từ Thiên Chúa, đến từ Đức Kitô, như được ghi nhận trong những vần thơ sau đây:

"Cha đến cho con sự bình an,
Chẳng phải theo mùa của thời gian.
Bình an thứ ấy qua nhanh lắm,
Ngày tháng trôi đi sẽ héo tàn.

Chẳng phải bình an tự bài ca,
Người nghe sẽ nhung nhớ thiết tha;
Chẳng phải bình an từ thiệp chúc,
Lời lẽ văn hoa cũng chóng nhòa.

Cũng chẳng phải là thứ bình an
Từ máng cỏ được trang hoàng
Bình an thứ ấy xa hoa quá,
Thực tế nhiều khi rất nghèo nàn.

Cha muốn tặng con, con mến thưong,
Một thứ bình an thật tầm thường:
Bình an từng ngày trong thân quyến;
Công nhân, tài xế, cậu sinh viên.

Bình an ở giữa những văn phòng,
Nhà bếp, trại cây với cánh đồng...
Cha đến đem bình an đến,
Như là quà tặng đượm hương nồng.

Bình an, vì con chấp nhận mình,
Nguyên tuyền như đã được tạo sinh.
Bình an khi Cha, con cùng hiểu
Chính con, tâm trí với tính tình.

Bình an khi con tự yêu con,
Như Cha yêu vớí tấm lòng son.
Bình an, vớí chính con hiện tại,
Như Cha hiện hữu với nhân gian.

Cha đến đem theo bình an đến,
Một thứ bình an chẳng héo tàn.
Bình an khi sứ mệnh hoàn thành;
Bình an thấm nhập cõi lòng thanh.
Khi chiều đang tới, hoàng hôn xuống,
Kết thúc một ngày qua rất nhanh.

Bình an, khi ngày mới sáng dần,
Giúp con chịu đựng chẳng ngại ngần.
Bình an khiến con nên vững dạ,
Khi vừa thuận thảo với tha nhân;
Bình an cho con niềm cảm xúc,
Khi gia đình sống với tình thân.

Thiếu sự bình an thật uổng công:
Cha đến, thì cũng thể như không.
Chuyện Cha xuống thế, quên đi được
Và mâu thuẫn thay đêm Giáng Sinh!"
(7)

Nhân TẾT NGUYÊN ĐÁN "QUÝ MÙI" , cùng với Giáo Hội và toàn thể nhân loại, chúng ta hãy đón mừng TÂN XUÂN CỨU ĐỘ, với niềm xác tín:

"Chúa Kitô là Đấng đã chết và đã sống lại vì tất cả, nhờ Thánh Linh của Ngài, có thể ban cho nhân loại ánh sáng và sức mạnh để đạt tới định mệnh siêu việt của mình. Không có một danh hiệu nào dưới gầm trời được ban cho con người để nhờ đó họ được xứng đáng cứu rỗi...

Mục đích của tất cả lịch sử nhân loại, chỉ có thể tìm thấy nơi Chúa Kitô và nơi vị Thầy rất dịu dàng của Giáo Hội...

Bên dưới tất cả những đổi thay cũng có rất nhiều thực tại không thay đổi và là những thực tạo đâm rễ sâu trong Đức Kitô, Đấng hôm qua, hôm nay và muôn đời vẫn là một."
(8).



GHI CHÚ:

  • (1).Huy-Cận - "Thân Thể".
  • (2) P. Lượng - Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 của Uyên Thao.
  • (3).Trần Huyền Trân - Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 của Uyên Thao.
  • (4).Huy Cận - "Trình Bày".
  • (5).Quách Thoại - "Tôi Khóc" - Thi Nhân Việt-Nam Hiện Đại của Phạm Thanh.
  • (6).Quách Thoại - "Chiều Tận Thế" - Thi Nhân Việt-Nam Hiện Đại của Phạm Thanh.
  • (7)."Bình An" - Thơ Anh ngữ, tác giả khuyết danh. Quyên Di chuyển sang Việt ngữ. Trích trong sách "Con Đường Tình Yêu" của nữ tu Têrêxa Thanh Thúy, LHC.
  • (8).Tông Thư "Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến".