Hy vọng trông đợi
Xuân hạ thu đông nối tiếp, các bạn thích mùa nào vậ? Có nh?u người thích mùa đông hơn, không phải vì mùa đông được đi trượt tuyết, nhưng vì mùa đông có lễ Noel. Mừng Noel, có nh?ng cảm ngh?m ấm áp v?i một tâm hồn mơi mớ?
Mùa Giáng Sinh đang đến. Noel-Christmas làm cho mọi người sống trong vui tươi hạnh phúc. Toàn thế giới mừng Chúa Giáng Sinh ngày 25 tháng 12, nhưng ngay từ tháng 11 người ta đã bắt đầu chuẩn bị cho ngày trọng đại nà? Giáo Hội dành ra bốn tuần lễ đ? chuẩn bị mừng Chúa Giáng Sinh; đó là Mùa Vọng.
Mùa Vọng là mùa trông đợi, mùa mong chờ với một tâm hồn hy vọng lạc quan. Hãy đặt ra một câu hỏi: Người ta nên dựa vào một nền tảng thần học nào để sống Mùa Vọng cách lý tưởng nhất? Thưa: Thần Học Hy Vọng là một nền tảng thần học cho Mùa Vọng. Thần Học Hy Vọng giúp cho người Kitô hữu hiểu biết họ đang trông đợi ai, họ nên chuẩn bị cách nào, Người họ đang mong đợi có một tương lai như thế nào, và khi Ngài đến thế giới này sẽ ra sa? Ba phần sau đây sẽ được thảo luận:
- Phần I: Lịch sử Thần Học Hy Vọng
- Phần II: Đặc tính Thần Học Hy Vọng
- Phần III: Thần Học Hy Vọng và đời sống Mùa Vọng
Trải qua dòng lịch sử của Giáo Hội từ thánh Phaolô đến các thánh Giáo Phụ, từ thánh Tôma tới thời cận đại, người ta đã học hỏi rất hệ thống về đề tài hy vọng; nhưng mãi đến cuối thế kỉ 20 ngành Thần Học Hy Vọng mới ra đời. Thần Học Hy Vọng bắt đầu thành hình trong thập niên 60 của thế kỷ 20, ngay sau những khủng hoảng do Thế Chiến Thứ Hai gây ra.
Với Thế Chiến Thứ Hai hằng ngàn người Do Thái bị giết chết bằng hơi ngạt (đặc biệt tại Auschwitz) cũng như phần lớn Âu-Châu bị tàn phá và chết chóc. Những thảm cảnh thê lương của chiến tranh đã làm cho mọi người Âu-Châu bị giằng co giữa hy vọng và thất vọng. Người ta đã chọn hy vọng làm động lực cho Âu-Châu tiến liên từ ngày đó cho đến hôm nay. Họ không thể không đặt những câu h?i để tìm ra nguyên nhân của cuộc chiến, cũng như rút ra những kinh nghiệm và đề xướng những chương trình xây dựng cho tương lai. Một qúa khứ thương đau chỉ có thể được an ủi bằng hy vọng; một tương lai dự phóng cũng phải dựa vào sự hướng dẫn của hy vọng; còn hiện tại cũng vậy phải sống nhờ động lực của hy vọng.
Biến cố lịch sử và chính trị là một cơ hội (Kairos) cho một nền thần học ra đời. Các nhà thần học nổi tiếng như W. Pannenberg, J. B. Metz, E. Schillebeeckx, H. Cox, K. Braaten, R. Alves, J. Moltmann, v.v. đã cố gắng khai sinh và hệ thống hóa nền Thần Học Hy Vọng. Họ hợp tác với nhau, họ học hỏi nơi nhau, nhưng họ cũng chạy đua trong kế hoạch đầy hấp dẫn này. Cuối cùng Moltmann đã thắng cuộc đua và được thế giới (Công Giáo và Tin Lành) coi ông là người sáng lập ra ngành Thần Học Hy Vọng.
J. Moltmann sinh năm 1926 tại Đức Quốc và năm 1944 ông bị động viên vào quân đội Đức. Năm 1945 ông bị quân đội Anh bắt giữ và bỏ tù cho đến năm 1948. Ra khỏi tù, trong khi học thần học tại Göttingen, ông cưới bà Elizabeth Wendel và có b?n người con gái. Ông đạt được bằng tiến sĩ thần học và trở thành Mục Sư ở Bremen (1952-1958). Từ năm 1957 cho đến nay ông là giáo sư thần học tại các đại học ở Göttingen, Wuppertal, Bonn và Tübingen.
J. Moltmann đã xuất bản trên 60 cuốn sách và 200 bài thảo luận thần học. Ba cuốn sách đầu tay của ông đã trở thành một tam giác toàn vẹn, đó là: "Thần Học Hy Vọng / Theology of Hope / Theologie der Hoffnung" (1965); "Thiên Chúa Bị Đóng Đinh / The Crucified God / Der Gekreuzigte Gott" (1973); và "Giáo Hội Trong Quyền Lực Chúa Thánh Thần / The Church in the Power of the Holy Spirit / Kirche in der Kraft der Geistes" (1975). Ba cuốn sách nỗi tiếng này đã gây ra một cơn sốt thần học cho th? gi?i Kitô Giáo trong hai thập niên 60 và 70. Các nhà thần học Công Giáo đã hết lòng ca ngợi Moltmann, một người đã làm sống lại ngành Thần Học Cánh Chung và đã lấy tương lai của Chúa Kitô làm trọng tâm cho tất cả thần học và cứu cánh của con người.
Năm 1951 sau khi nghe triết gia nổi tiếng Ernst Bloch thuyết trình tại Wuppertal về đề tài Triết Lý Hy Vọng, Moltmann nhận định rằng "hy vọng" không thể có một vị trí lý tưởng trong con người nếu không có Thiên Chúa là cùng đích của hy vọng. Chính vì v?y, ông đã đưa Thiên Chúa vào nguyên nhân và đối tượng của hy vọng. Như thế hy vọng phải là hy vọng Kitô Giáo dựa trên Thánh Kinh. Một ngành Thần Học Hy Vọng có hệ thống v?i nền t?ng luận lý được diễn giải nhu sau:
Nếu Triết Hy Lạp đặt hy vọng vào Thượng Đế chỉ như là một Tư Tưởng, thì hy vọng Kitô Giáo đặt hy vọng vào một Thượng Đế như là một Ngôi Vị. Nếu Triết Hy Vọng của Ernst Bloch không giám đảm bảo sẽ đạt được mục tiêu của hy vọng, thì Thần Học Hy Vọng tin tưởng một cách chắc chắn sẽ đạt được đối tượng của hy vọng.
Trong cuốn sách "Nguyên Tắc Hy Vọng" (Prinzip Hoffnung), Bloch lý luận rằng con người luôn trong tiến trình trở nên con người toàn vẹn theo dự án tạo dựng. Nếu theo Karl Marx, con người bị cô lập là do nghèo đói, thì Bloch cho rằng người ta bị cô lập vì họ chưa trở thành những con người thực sự theo dự án tạo dựng. Chính vì thế, con người được thúc dục hãy tiến liên, hãy xây dựng thế giới và xã hội để rồi sẽ thực hiện được những bước tiến cụ thể, và con người sẽ trở nên toàn vẹn. Nhưng liệu con người có thể đạt được mục tiêu tối hậu ngay khi còn đang sống trên trần gian này không? Vâng, con người đang đạt được những tiến bộ cụ thể cũng như những giải đáp hữu hiệu cho những kỳ bão, ước muốn và hy vọng của họ; nhưng những tiến bộ và giải đáp này lại khơi lên những câu hỏi mới, và cứ thế con người luôn hướng về một tương lai vô giới hạn và sẽ tiếp tục đặt hy vọng vào một thực tại ảo vọng.
Moltmann dựa vào Triết Lý Hy Vọng của Bloch để sáng lập ra một ngành Thần Học Hy Vọng.
II. Đặc Tính Thần Học Hy Vọng
Thần Học Hy Vọng khởi điểm từ tương lai và kết thúc trong tương lai; tương lai là trọng tâm. Người Kitô hữu của hy vọng hướng về tương lai để sống trong hy vọng. Mỗi người đều là một chủ thể hy vọng, đang trở nên con người thực sự và chịu ảnh hưởng bởi tương lai. Thần Học Hy Vọng được đặt nền tảng trên một tương lai chắc chắn sẽ xẩy ra dựa vào lời hứa của Thiên Chúa, một Đấng luôn trung thành với lời hứa của mình (Ezek 37:14: Ta đã phán là Ta làm).
Thiên Chúa đã hứa gì? Ngài đã hứa sẽ ban cho dân Ngài được sống lại và cứu chuộc họ nhờ Đức Kitô: ‘Ta sẽ gây mối thù giữa ngươi (con rắn) và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống người ấy’ (Gn. 13:15); ‘Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây một thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Emanuel’ (Is. 7:14); ‘Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh’ (Ez. 37:14). Lời hứa của Thiên Chúa đã được thực hiện dần dần trong lịch sử cứu chuộc, và cuối cùng nơi Đức Giêsu Kitô Đấng đã chết và sống lại (chúng ta cũng sẽ sống lại như Ngài và được cứu chuộc).
Như vậy chúng ta đặt hy vọng vào một Thiên Chúa của lịch sử cứu chuộc; Ngài là Thiên Chúa m?c khải trong Cựu U?c, là Thiên Chúa xuất hành và lời hứa. Đó là hai đặc tính của hy vọng Kitô Giáo: "Thiên Chúa của lịch sử" và "lời hứa của Thiên Chúa". Một đặc tính quan trọng khác của hy vọng là chính chủ thể của người hy vọng. Đối tượng của hy vọng là được sống lại từ cõi chết và được sống trong vinh quang với Chúa. Hai điểm này chỉ sẽ xẩy ra trong ngày Chúa Kitô trở lại: "Ý của Cha Ta là tất cả những ai thấy Người Con và tin vào Người thì được sống muôn đời, và Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết" (Jn. 6:40).
Nhưng sự sống lại từ cõi chết của loài người tùy thuộc vào sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì người ta đâu có muốn đặt hy vọng vào Thiên Chúa: "Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Kitô cũng đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền... Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu diệt" (I Cor. 15:16-18). Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì người ta đâu có tin vào Thiên Chúa của lời hứa. Thật vậy, "Chúa Giêsu Sống" là tin chứng cho chính Ngài và cho Thiên Chúa nữa.
Một sự thật đã sẩy ra trong lịch sử là Chúa Giêsu đã sống lại, cho nên lời hứa của Ngài rằng "Ngài sẽ trở lại thế gian trong ngày sau hết" chắc chắn sẽ xẩy ra. Người Kitô hữu hy vọng sẽ thấy Đức Kitô diện đối diện khi Ngài trở lại trong vinh quang (Rev. 22:4-5).
Biến cố nhập thể, đời sống 33 năm ở dương thế cũng như chịu khổ hình và sống lại là những dữ kiện sống tạo nên một con người lịch sử của Chúa Giêsu Kitô. Nhưng thực ra, theo lý luận Thần Học Hy Vọng, chính vì Chúa Giêsu Kitô đang sống, cho nên tất cả ba yếu tố qúa khứ hiện tại và tương lai đều là những yếu tố quan trọng của đời sống của Ngài. Thực vậy, "trở lại trong vinh quang" cũng là một biến cố quan trọng. Ngài sẽ cho kẻ chết sống lại (I Cor. 15:22-23); Ngài sẽ phân kẻ lành ra một bên và kẻ dữ sang một bên, Ngài sẽ phán xét họ. Ngài sẽ trao vương quốc của Ngài cho Chúa Cha: "Thưa Cha, con đã chu toàn sứ mạng mà Cha đã trao cho con, giờ đây con trao lại cho Cha vương quốc này. Đây là những người con tốt lành đang đứng bên tay hữu của con; xin Cha chúc lành cho họ và ban cho họ một cuộc sống hạnh phúc đời đời" (cf. Mt. 25:31-46). Mọi người sẽ vỗ tay và hoan hô Chúa Giêsu Kitô.
Như vậy biến cố này phải là biến cố quan trọng nhất trong lịch sử cứu độ, một biến cố quyết định vận mịnh của mỗi người, một biến cố vinh quang của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta hãy tưởng tượng một chủng sinh học trong chủng viện bao nhiêu năm với một mục đích duy nhất là được truyền chức linh mục. Nhưng nếu nhận định đúng hơn, lãnh chức linh mục không phải là mục đích duy nhất; có một mục đích khác nữa là được dâng Thánh Lễ. Th?t vậy, vị tân linh mục dâng thánh lễ đầu tay nơi làng mình sinh ra mới là một biến cố quan trọng nhất: vị tân linh mục về làng trong kèn trống hân hoan và dâng thánh lễ. Truyền chức linh mục là điều kiện để vị linh mục có thể đạt được mục đích hy vọng của đời chủng sinh: đó là dâng thánh lễ.
Như thế chúng ta thấy rằng một tương lai của Chúa Giêsu Kitô và một tương lai của mỗi ngư?i làm cho người ta sống trong hy vọng. Người Kitô hữu sống trong hy vọng dựa vào Chúa Giêsu Kitô toàn thể: gồm cả qúa khứ hiện tại và tương lai của Ngài. Họ hy vọng sẽ đạt được đời sống vĩnh cửu trong tương lai như thánh Phaolô nói: "Anh em hãy nhớ đến Đức Giêsu Kitô, Đấng đã sống lại từ cõi chết…Nếu chúng ta cùng chết với Ngài, chúng ta sẽ cùng sống với Ngài. Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng hiển trị với Ngài."(II Tim. 2:8, 11-12).
III. Thần Học Hy Vọng và đời sống Mùa Vọng
Người ta không những chỉ hy vọng d?t được những đối tượng tạm thời hoặc một đời sống tốt đẹp hơn ở trần gian này, mà còn hy vọng đạt được một hạnh phúc toàn vẹn vĩnh cửu: "Vì nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi sự." (I Cor. 15:19). Đối tượng tối hậu của hy vọng là Thiên Chúa; con người chỉ có thể có một hạnh phúc toàn vẹn trong Thiên Chúa.
Người ta tin rằng sẽ đạt được đối tượng của hy vọng dựa vào lời hứa của Thiên Chúa. Sự đảm bảo hy vọng Kitô Giáo được tìm thấy nơi Chúa Giêsu Kitô: "Đức Kitô ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang" (Col. 1:27). Lời Ngài dạy dỗ, sự sống lại của Ngài, lời Ngài hứa sẽ trở lại, lời Ngài hứa sẽ cho kẻ chết sống lại và lời hứa cho một thế giới mới và trời mới là những minh chứng và động lực của hy vọng. Những điều này khiến cho mọi Kitô hữu sống một đời sống hiện tại với một tâm hồn trông chờ và chuẩn bị hăng say cho ngày Chúa Giêsu Kitô trở lại trong vinh quang.
Chúa Giêsu trở lại vinh quang trong ngày sau hết; đây là một biến cố chắc chắn sẽ xẩy ra trong lịch sử. Nhưng thực ra, đối với người Kitô hữu theo cái nhìn của Thần Học Hy Vọng, thì chúng ta đang mong chờ, không phải để mong chờ một biến cố (Futurum), nhưng mong chờ Đức Giêsu Kitô vinh quang (adventus). Chúng ta trông đợi một Con Người chứ không phải một biến cố. Mùa vọng là một mùa không phải để chuẩn bị cho biến cố Noel tưng bừng, nhưng là thời gian trông chờ và chuẩn bị đón nhận Chúa Hài Đồng ngự đến. Thời gian hy vọng là thời gian mong đợi và chuẩn bị đón nhận Chúa Giêsu Kitô Quang Lâm. Nói một cách vắn gọn và rõ rằng hơn là chúng ta đang đón chờ Một Con Người Ngôi Hai Thiên Chúa Làm Người trong dịp Noel và Đức Giêsu Kitô Đấng Hoàng Tử Vinh Quang Đến trong ngày cánh chung.
Trong Mùa Vọng, khi đón chờ Ngôi Hai Thiên Chúa Giáng Trần, chúng ta không thể đón chờ một cách th? động, nhưng ngược lại phải chuẩn bị với đời sống tích cực bằng cách tham gia vào các hoạt động của Giáo Hội và xã hội. Q?a th?c, theo dự định của Thiên Chúa, người Kitô hữu không phải là những pho tượng không nhúc nhích, nhưng là những con người sống động đang biến hình và đi vào tương lai để trở nên những con người toàn vẹn. Cuộc đời dấn thân của con người đang sống hy vọng đòi hỏi hy sinh mất mát, nhưng họ vẫn không lùi bước. Thật vậy, hy vọng trong Đức Giêsu Kitô đã qúa mạnh để rồi làm cho các tín hữu mạnh dạn tiến lên đón nhận tử hình vì đạo Chúa (cf. Ignatius, Phila, Ch. XI); họ luôn nhớ lời Chúa Giêsu dạy: "Ai Muốn cứu mạng sống thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Mk. 8:35).
Nếu có hy vọng thật sự thì chúng ta không màng chết đi mỗi ngày. Sống Mùa Vọng là sống hy vọng: Sống cho người khác chứ không sống cho chính mình. Có bao giờ bạn e thẹn hoặc xấu hổ không? Thí dụ khi được mời phát biểu ý kiến hoặc đọc sách trước công chúng, bàn từ chối vì thẹn thùng.
Có bao giờ bạn ghen tương không? Chẳng hạn khi mọi người ca ngợi và quan tâm đế một người khác đang sống trong cùng cộng đoàn và bạn bị bỏ rơi; điều đó làm cho bạn ghen tương. Có khi nào bạn cảm thấy mặc cảm tự ti, thí dụ như cảm thấy thua kém vì mình nghèo, thiếu thông minh, thấp bé, hoặc thiếu xinh xắn không? Bạn có hay phàn nàn trách mắng người khác không? Có than trách khi bị bệnh hoặc khi gặp phải những trắc trở ngang trái không? Có thường tức giận nóng nẩy với người khác không? Có khó tha thứ người khác không? Bạn có thường chán nản, bi quan không?
Bạn có quá hãnh diện kiêu ngạo về chính mình không? Có dành ra quá nhiều thời giời và nỗ lực để tìm kiếm chức vị, bằng cấp, hoặc danh vọng không? Bạn có đang trích trữ nhiều của cải tiền bạc không? Cụ thể là bạn có tích trữ nhiều quần áo giầy dép, ít khi dùng đến nhưng chỉ sắp xếp hoặc treo trong tủ thôi. Bạn có tránh làm việc bác ái, chia sẽ với người nghèo không?
Tại sao người ta cãi cọ, tranh chấp kiện tụng? Tại sao người ta làm phật lòng người khác, nói xấu người khác? Tại sao có những người luôn muốn thắng và không chịu thua người khác?
Tất cả những hành vi và cảm nghiệm trên là dấu chỉ một cuộc sống thiếu hy vọng, một cuộc sống chỉ biết lo lắng để đạt được những mục đích hiện tại tạm thời, một cuộc sống không nhắm đến mục đích trường tồn của hy vọng; một cuộc sống thiếu hiểu biết rằng hạnh phúc trên trần gian này chỉ là tương đối và tạm thời.
Mùa vọng là mùa hy vọng, đòi hỏi người Kitô hữu không tìm kiếm cho chính mình, không vun xới hoặc chỉ xây cất cho mình. Người Kitô hữu sống trong hy vọng không ngại bị xấu hổ chê bai, không mặc cảm tự ti, nhưng chấp nhận thiệt thòi hy sinh. Người sống trong hy vọng không phàn nàn vì những trắc trở, không trách mắng người khác, không sống theo ý riêng của mình. Người của hy vọng sống v?i m?t tinh th?n đơn sơ và khiêm nhường, không lệ thuộc qúa nhiề vào vật chất.
Người Kitô hữu trong hy vọng đang sống Mùa Vọng hãy để cho những người khác được ưu tiên, còn mình thì chọn thiệt thòi; hãy chia sẽ cho người khác như thánh Gioan Tiền Hô dạy đám đông khi họ hỏi: "Chúng tôi phải làm gì? Ngài trả lời: ai có hai áo thì chia cho người không có, ai có gì ăn thì cũng làm như vậy" (Lk. 3:12).
Sống trong hy vọng là chết trong hiện tại trên thế gian này, là trở nên bé nhỏ đi mỗi ngày như thánh Gioan Tiền Hô nói: "Ngài (Chúa Giêsu) phải lớn lên còn tôi phải nhỏ đi" (Jn. 3:30).
Kết Luận:
Người sống hy vọng của Mùa Vọng luôn hướng về đời sau. Trong Mùa Vọng người Kitô hữu không những chuẩn bị đón nhận Chúa Giêsu giáng trần, nhưng cũng hướng về Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ Đến; Ngài sẽ cho loài người sống lại và phán xét họ. Sống hy vọng Mùa Vọng là chết đi như hạt giống được gieo vào lòng đất. Người sống hy vọng Mùa Vọng suy niệm và thực thi lời Chúa Giêsu dạy: "Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt giống gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được hoa trái. Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được sự sống đời sau" (Jn. 12:24-26). Hãy chết đi mỗi ngày cho anh chị em đồng loại, như vậy chúng ta sẽ được sống lại trong ngày sau hết và được thưởng đời sống vinh quang với Chúa muôn đời.