GIÁO LÝ PHÚC ÂM CHÚA NHẬT
Ngày 25 tháng 11, 2007: LỄ CHÚA KITÔ, VUA VŨ TRỤ
Sách Sanuel quyển II: 5:1-7.10; Thư gửi Côlôxê 1:12-20; và Phúc Âm Luca 23:35-43
I. Sứ Điệp Phúc Âm
Chúa Kitô là Vua, là Đấng cứu dân độ thế.
Chúa đã cứu người ngay trong giờ phút hấp hối trên thánh giá.
II. Câu hỏi giáo lý
1. Hàng chữ INRI trên đầu thánh giá có nghĩa gì?
INRI, viết tắt những chữ La tinh: IESUS NAZARENUS REX IUDAEORUM, Jesus of Nazareth, King of the Jews, Giêsu thành Nadarét, vua dân Do Thái.
2. Tại sao lại đọc bài Phúc Âm Chúa hấp hối trong ngày lễ tôn phong Chúa là vua vũ trụ?
Chúa là vua. Vua là Đấng thương dân và cứu dân khỏi đau khổ, lầm than. Cứu độ là làm cho con người được sống trong bình an hạnh phúc. “Khi ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta!” Khi Chúa bị đóng đinh, bị treo lên là lúc Chúa cứu chúng ta. Bằng chứng là Chúa đã thể hiện sự cứu độ ngay lúc đó, cứu người trộm lành.
3. Người Do Thái có muốn Chúa làm vua không?
Có, sau khi Chúa làm phép lạ hoá bánh nuôi dân trong sa mạc, người Do Thái muốn suy tôn Chúa làm vua. Nhưng Chúa không muốn làm vua như họ muốn. Họ thấy Chúa có quyền phép, họ muốn Chúa lãnh đạo dân chúng đánh đuổi người La Mã và cai trị đất nước theo kiểu các vua trần gian.
III. Áp dụng
1. Bảy lời sau cùng, bảy lời cứu độ của Vua vũ trụ: Xin Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm - Nầy là con Bà - Nầy là Mẹ con - Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta - Lạy Cha, sao Cha bỏ con! - Ta khát! - Mọi sự đã hoàn tất!
2. Gương cứu độ: Thánh Maximillian Kolbe. Sinh 1894, Cha người Đức, Mẹ người Ba Lan. Năm 1907, nhập dòng Phanxicô. Năm 1912 Ngài sang Rôma học triết học, thần học và đậu tiến sĩ triết học năm 1915 và tiến sĩ thần học năm 1919. Sau khi thụ phong linh mục, Ngài trở về phục vụ tại quê hương Ba Lan của mình. Ngài cổ võ việc tôn kính Đức Trinh Nữ Maria Vô nhiễm.
Trong Đệ Nhị Thế Chiến, Ngài đã giúp nơi ăn chốn ở cho những người Do Thái cũng như tìm cách liên lạc để họ trốn thoát khỏi sự tàn sát của Đức Quốc Xã. Ngày 17 tháng 2, 1941, Ngài bị bắt và bị giam chung ở trại tập trung với nhiều người khác. Tháng Bảy, năm 1941, chẳng may một tù nhân trong trại giam của Ngài trốn thoát. Những cai tù cho bốc thăm 10 người đem biệt giam và bỏ đói cho đến chết thế mạng cho người trốn. Ông Francis bắt trúng thăm. Ông ta kêu khóc thãm thiết, vì còn vợ con ở nhà. Cha Maximilian Kolbe đứng ra thế mạng Ông Francis. Suốt thời gian trong xà lim chờ chết, Cha khuyến khích những nạn nhân cầu nguyện và hát thánh ca. Sau ba tuần, chỉ còn lại Cha Kolbe và ba người khác. Sau cùng, người ta đã chích thuốc độc carbolic acid cho Ngài chết.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn Ngài lên hiển thánh ngày 10.10.1982 và Ngài được nhìn nhận là thánh tử đạo của thế kỷ 20. Người dám hy sinh mạng sống mình cho người khác được sống
Ngày 25 tháng 11, 2007: LỄ CHÚA KITÔ, VUA VŨ TRỤ
Sách Sanuel quyển II: 5:1-7.10; Thư gửi Côlôxê 1:12-20; và Phúc Âm Luca 23:35-43
I. Sứ Điệp Phúc Âm
Chúa Kitô là Vua, là Đấng cứu dân độ thế.
Chúa đã cứu người ngay trong giờ phút hấp hối trên thánh giá.
II. Câu hỏi giáo lý
1. Hàng chữ INRI trên đầu thánh giá có nghĩa gì?
INRI, viết tắt những chữ La tinh: IESUS NAZARENUS REX IUDAEORUM, Jesus of Nazareth, King of the Jews, Giêsu thành Nadarét, vua dân Do Thái.
2. Tại sao lại đọc bài Phúc Âm Chúa hấp hối trong ngày lễ tôn phong Chúa là vua vũ trụ?
Chúa là vua. Vua là Đấng thương dân và cứu dân khỏi đau khổ, lầm than. Cứu độ là làm cho con người được sống trong bình an hạnh phúc. “Khi ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta!” Khi Chúa bị đóng đinh, bị treo lên là lúc Chúa cứu chúng ta. Bằng chứng là Chúa đã thể hiện sự cứu độ ngay lúc đó, cứu người trộm lành.
3. Người Do Thái có muốn Chúa làm vua không?
Có, sau khi Chúa làm phép lạ hoá bánh nuôi dân trong sa mạc, người Do Thái muốn suy tôn Chúa làm vua. Nhưng Chúa không muốn làm vua như họ muốn. Họ thấy Chúa có quyền phép, họ muốn Chúa lãnh đạo dân chúng đánh đuổi người La Mã và cai trị đất nước theo kiểu các vua trần gian.
III. Áp dụng
1. Bảy lời sau cùng, bảy lời cứu độ của Vua vũ trụ: Xin Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm - Nầy là con Bà - Nầy là Mẹ con - Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta - Lạy Cha, sao Cha bỏ con! - Ta khát! - Mọi sự đã hoàn tất!
2. Gương cứu độ: Thánh Maximillian Kolbe. Sinh 1894, Cha người Đức, Mẹ người Ba Lan. Năm 1907, nhập dòng Phanxicô. Năm 1912 Ngài sang Rôma học triết học, thần học và đậu tiến sĩ triết học năm 1915 và tiến sĩ thần học năm 1919. Sau khi thụ phong linh mục, Ngài trở về phục vụ tại quê hương Ba Lan của mình. Ngài cổ võ việc tôn kính Đức Trinh Nữ Maria Vô nhiễm.
Trong Đệ Nhị Thế Chiến, Ngài đã giúp nơi ăn chốn ở cho những người Do Thái cũng như tìm cách liên lạc để họ trốn thoát khỏi sự tàn sát của Đức Quốc Xã. Ngày 17 tháng 2, 1941, Ngài bị bắt và bị giam chung ở trại tập trung với nhiều người khác. Tháng Bảy, năm 1941, chẳng may một tù nhân trong trại giam của Ngài trốn thoát. Những cai tù cho bốc thăm 10 người đem biệt giam và bỏ đói cho đến chết thế mạng cho người trốn. Ông Francis bắt trúng thăm. Ông ta kêu khóc thãm thiết, vì còn vợ con ở nhà. Cha Maximilian Kolbe đứng ra thế mạng Ông Francis. Suốt thời gian trong xà lim chờ chết, Cha khuyến khích những nạn nhân cầu nguyện và hát thánh ca. Sau ba tuần, chỉ còn lại Cha Kolbe và ba người khác. Sau cùng, người ta đã chích thuốc độc carbolic acid cho Ngài chết.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn Ngài lên hiển thánh ngày 10.10.1982 và Ngài được nhìn nhận là thánh tử đạo của thế kỷ 20. Người dám hy sinh mạng sống mình cho người khác được sống