CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN C

XÂY DỰNG CẦU NHÂN ÁI TRONG CỘNG ĐOÀN

(Lc 16, 19-31)


Thưa quý vị,

Phàm là người, nhất là tín hữu Chúa Kitô, ai cũng có bổn phận quan tâm đến đồng loại, nhất là những kẻ thân cận với mình. Nhưng ông nhà giàu trong dụ ngôn hôm nay hành động ngược lại. Phúc âm kể: “Ong nhà giàu mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình … Còn Lazarô mụt nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho”. Nghe như Luca mô tả hiện tình của thế giới hôm nay, khoảng cách giàu nghèo, sang hèn xem ra rộng lớn hơn bao giờ hết, kể cả trong tôn giáo, tu viện, tầng lớp xã hội. Đó là lý do chủ thuyết cộng sản một thời đã thành công vượt bậc. Người ta đổ xô đi mua “Tư bản luận” để tìm huớng dẫn cho lý tưỡng đời mình. Chủ thuyết này rất có thể chiếm địa vị độc tôn nếu không có phân hoá ngay trong xã hội cộng sản.

Cho nên gần đây tôi quay sang đọc về phong trào Martin Luther King và tranh đấu cho nhân quyền ngay trong xã hội nước Mỹ vào các năm sáu mươi của thế kỷ trước. Những hình ảnh của thời gian ấy còn in đậm trong trí óc chúng ta và tiếp tục khơi dậy những khao khát đấu tranh cho công lý, hoà bình trên thế giới và trong từng xã hội nhân loại hôm nay. Giai đoạn 1960 quả là quan trọng, cần chúng ta suy nghĩ dưới ánh sáng phúc âm trong dụ ngôn người phú hộ và Lazarô.

Điều làm tôi cảm động là tính chất đời thường trong con người Martin Luther King Jr. Ong sợ hãi bạo lực đang dần vây quanh cá nhân và gia đình ông. Có nhiều lúc ông tính rời bỏ thành phố và thôi đấu tranh. Ong còn sợ bị rơi vào cô đơn, loại trừ, cho nên cố gắng tách mình ra khỏi phong trào. Nhưng dầu vậy ông vẫn sẵn sàng đối mặt với đám đông thù nghịch và cảnh sát. Nhiều lần bị bắt và bị giam tù.

Năm 1963, Martin King tham gia biểu tình ngồi l? ở Birmingham Alabama. Cảnh sát trưởng Bull O’Connon tuyên bố cùng thế giới rằng sẽ đối phó với các kẻ biểu tình bằng chó dữ và vòi rồng, bất chấp đàn bà, con trẻ, thanh niên, cụ già. King bị bắt ngày 12 tháng 4 năm 1963. các đồng chí của ông hiểu rõ cái giá của cô đơn và tù tội, họ đã lén gửi cho ông giấy bút để ông ghi chép giết thời gian. Nhờ vậy chúng ta có tác phẩm “Lá thư từ nhà tù Birmingham”. Ong gởi thơ cho cấp lãnh đạo Kitô và Do Thái giáo mà ông gọi là những kẻ thiện tâm. Những người này nói với ông rằng lúc này không phải là thời điểm biểu tình. Mọi sự đang được cải thiện. Xã hội đang nhiều công bằng, bình đẳng hơn.

Từ nhà tù, ông trả lời: “Tôi viết chẳng nhân danh ai cả cho những kẻ chẳng chịu đau khổ vì cái chi ”. Ông ám chỉ ngôn sứ Amos trong Thánh Kinh: “Chúng rời bỏ làng mạc và bị đưa đi lưu đày, Đức Chúa phán như vậy, dẫn đầu những kẻ bị lưu đày xa quê hương xứ sở” (Bài đọc 1). King tiếp tục: “Thời giờ không trung lập. Sự việc không tự động trở nên tốt hơn chỉ bằng cách ngồi đợi chờ thay đổi. Thực tế những người chẳng bao giờ phải chịu đựng đau khổ có rất nhiều thời gian kiên nhẫn chở đợi … Trong khi bạn đang chịu các nỗi đau khổ thì không thể làm như thế. Bạn phải dùng thời gian để mà sáng tạo khi bạn còn thời gian. Tôi viết vì những người chẳng có thời gian cho những ai có vô số thời gian để mà chờ đợi”.

Lời văn thật cay đắng nhưng ý tưởng tuyệt vời. Ông cố gắng bắc cầu ngăn cách hố sâu giữa giầu nghèo, sang hèn, được đặc quyền và bị áp bức. Ong đòi hỏi công bằng tự do cho tất cả mọi người. Ông bắc cầu, bởi vì xã hội luôn đào bới những hố sâu. Tôi nghe nói đến chính sách “Một phòng học” trong các nhà trường, khi quỹ giáo dục đang thu hẹp lại. Kết quả của cuộc thử nghiệm là nó đập tan các rào cản giả tạo của tuổi tác tồn tại nhiều năm trong các trường học, lớp học chỉ có một phòng cho trẻ em thuộc nhiều lứa tuổi chơi đùa và giúp đỡ nhau tận tình. Em lớn giúp em bé tập đọc, tập viết, chơi trò chơi chung. Từ những “công trình nghệ thuật” trên bảng đen đến các que đếm, hộp màu, tranh vẽ phức tạp. Em nọ dạy em kia. Vui vẻ và tiến bộ nhanh. Bình thường các độ tuổi sống tách biệt. Nhưng nay các em lớn khởi sự coi sóc các em nhỏ, mặc quần áo, xỏ dép, tháo giầy, mặc sơmi, … Ở nhà các em ích kỷ và quậy phá, đến lớp ngoan ngoãn và hiền hậu hơn. Một giáo viên nhận xét: “Tôi chưa từng thấy gương mẫu liên đới nào đẹp như vậy”. Các hố ngăn cách đã được san bằng.

Liệu người lớn có học được bài học đó? Giáo hội cũng đang cố gắng thực hiện chương trình ấy. Người ta thành lập các giáo xứ ngoại biên thành phố, trong đó giáo dân giúp đỡ lẫn nhau xây nhà thương, trường học, không chỉ bằng tiền dâng cúng, nhưng cả bằng lao động chân tay thực sự. Một phụ nữ tham gia chương trình “vươn tới” đã nhận xét: “tôi từng kết bạn với những người mà trước đây tôi chưa bao giờ gặp trong đời. Và bạn biết sao không? Nó khiến tôi bớt thành kiến về người khác. Tôi trở nên dễ thông cảm khi nghe tin tức về các bạn hữu. Thực tế, tôi nhận được nhiều hơn là cho đi”.

Nếu chúng ta muốn cho con cháu điều tốt nhất, thì không chi bằng dậy dỗ chúng từ thuở ấu thơ. Chúng ta có những chương trình dày đặc quá đến độ chẳng còn thời gian đâu mà chăm sóc chúng. Vì vậy hố ngăn cách tuổi tác trong cuộc sống gia đình chẳng bao giờ được san bằng. Làm thế nào giáo dục chúng? Tốt nhất là về lòng nhân ái, thương cảm. Chúng ta gửi nó vào trường học, nhưng ở nhà trường, thầy cô giáo lại chú trọng đến kiến thức, đỗ đạt, chứ ít khi nói về cách sống đạo đức. Hẳn nào chúng ích kỷ, tàn nhẫn và lẻ loi. Các hố ngăn cách về nhân bản trong xã hội ngày nay càng bị đào sâu. Hơn nữa, dụ ngôn hôm nay cho thấy luôn có hố sâu. Ông phú hộ chết đi và mọi sự đảo ngược nhưng ông không làm chi sai trái, không ăn trôm ăn cắp, không bốc lột, chẳng làm chi bất công, còn tốt hơn chán vạn linh mục, tu sĩ “nhiệt thành”. Một vài người đọc xong dụ ngôn nói: “có lẽ ông đã làm điều xấu, nhưng người ta xóa khỏi Phúc âm”. Đó là nhận xét của não trạng tân thời. Còn hai ngàn năm qua bản văn vẫn vậy. Chẳng có chi bị lược bỏ cả. Đức Giêsu đã kể cho người Pharisêu trên đường lên Giêrusalem và do Thánh Kinh khởi hứng viết ra. Cho nên tôi ngạc nhiên liệu ông phú hộ có phải là người đương thời? Và đám tang của ông ra sao trong các thánh đường lộng lẫy của các giáo xứ? Chắc là hoành tráng lắm vì ông ta có phạm tội ác nào đâu, lại lắm tiền nhiều của, ngày ngày đãi tiệc các Pharisêu linh đình? Đồng tế, bài giảng hùng hồn, cử tọa gật đầu tán thưởng! Người ta sẽ nhớ đến ông mãi mãi. Còn người nghèo khó, mà tên cụ thể là Lazarô, thì chắc việc chôn cất đơn giản lắm, bó chiếu đem vào nghĩa trang công cộng của những kẻ vô gia cư.

Tuy nhiên, điều an ủi là: dụ ngôn không mô tả cuộc sống mai sau, không cho chúng ta biết thiên đàng trang trí ra sao, cờ xí, bàn ghế, tủ lạnh, máy điều hòa, máy sưởi, nhiệt độ… như những căn hộ của kẻ giàu có ở trần gian. Tôi chẳng mường tượng cảnh trớ trêu đó. Chỉ biết rằng các linh hồn ở đó và Thiên Chúa cũng có mặt. Đức Giêsu chỉ mặc khải rằng có thiên đàng và chúng ta sống trên ấy thế nào. Nghĩa là Ngài muốn thức tỉnh lương tâm nhân loại. Những chi chúng ta hành xử hiện tại mang một ý nghĩa và được cân nhắc ở đời sau, không có chi bị bỏ quên cả.

Đối với phú ông thì câu chuyên quá muộn, ông chết trước khi tỉnh ngộ. nhưng tác phẩm “Christmas Carol” (Bài hát Giáng sinh) của Charles Dickens, James Marley từ cõi chết trở về nói cho Ebeneze Scrooge rằng sẽ có ba con ma sẽ thăm hắn. Sau đêm gặp gỡ, Scrooge tỉnh lại và thay đổi nếp sống. Đó là ý nghĩa dụ ngôn hôm nay. Nó là một lời cảnh cáo yêu thương cho những ai ưa thích nhung lụa, tiện nghi, nó kêu gọi tỉnh nghộ, một hồi chuông cảnh báo, khiến chúng ta thức giấc khỏi mộng mị đời này. Tương lai chưa xảy ra và giống như Martin King viết từ nhà tù nhân danh “nobodies” to “somabodies”. Dụ ngôn cố gắng bắc những chiếc cầu thông cảm qua các thung lũng ích kỷ lạnh lùng mà thế giới thường gặp.

Chúng ta được nhắc nhở Thiên Chúa đi bước trước trong việc xây cầu và tiếp tục làm như vậy nơi Bí tích Thánh Thể. Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa sẽ bẻ gãy mọi rào cản tội lỗi, chia rẽ chúng ta khỏi thiên đàng và nhân loại. Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục phạm tội, tiếp tục đào hố ngăn cách. Tuy vậy, trước mặt Đức Chúa, chúng ta chỉ là Lazarô nghèo khó mang tên tuổi ông A anh B chị C bà D ngồi ở ngoài cổng thiên đàng, Đức Chúa xem thấy và tiếp tục xem thấy để trợ giúp chúng ta mỗi khi chúng ta giơ tay xin lương thực. Đúng như vậy, thời giáo hội sơ khai, các văn gia ngoại giáo ngạc nhiện khi thấy tín hữu hội họp để thờ phượng ông Giêsu. Già trẻ, lớn bé, giàu nghèo thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội, ăn uống trên cùng một bàn tiệc, không hề có kỳ thị. Các hố sâu xã hội mà thời đó người ta rất trân trọng đều được san bằng. Cho nên dụ ngôn kêu gọi chúng ta ngày nay biến cải nếp suy nghĩ của mình. Để chẳng còn hận thù, chiến tranh, tiêu diệt lẫn nhau vì tranh giành ảnh hưởng, giàu sang, phú quý và ông phú hộ không còn tồn tại trên thế gian này nữa. Mong lắm thay. Amen.

Bản dịch của Lm Thomas Trần Ngọc Túy, OP