Cielito Almazan Ofm

Phan Du Sinh chuyển ý

BÀI ĐỌC 1: AMỐT 8,4-7

4 Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ

và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ.

5 Các ngươi thầm nghĩ:

"Bao giờ ngày mồng một qua đi, cho ta còn bán lúa;

bao giờ mới hết ngày sa-bát, để ta bày thóc ra?

Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm;

Ta sẽ làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ.

6 Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần,

đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ;

cả lúa nát gạo mục, ta cũng đem ra bán."

7 ĐỨC CHÚA đã lấy thánh danh

là niềm hãnh diện của Gia-cóp mà thề:

Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng.

Bố cục

  • những bất công của con người: c. 4-6
  • sự công chính của Thiên Chúa: c. 7
Chú giải

  • Amốt là một sứ ngôn về công bằng xã hội. Ngài là người đầu tiên trong số các sứ ngôn văn sĩ. Ngài sống trước xa thời kỳ lưu đày.
  • Trong bản văn (sấm ngôn), Amốt cảnh cáo những người áp bức kẻ nghèo khổ và thiếu thốn:
* đàn áp người cùng khổ // tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. c.4

  • c.5 cho thấy những người áp bức mất kiên nhẫn vì không làm được công việc của họ trong “những ngày mùng một” và “sabát.”
  • c.5b cho thấy những người áp bức là những người lái thương. Họ gian lận bằng cách:
- làm cho cái đấu nhỏ lại

- cho quả cân nặng thêm

- làm lệch cán cân.

  • c.6 cho thấy các người áp bức mua rẻ các đầy tớ - họ kiếm tiền từ những cái nhỏ nhặt nhất.
  • C.7 là lời cảnh cáo nghiêm khắc các người áp bức. Thiên Chúa sẽ hỏi tội và tiêu diệt họ, đó chỉ là vấn đề thời gian.
Suy tư dựa trên bài đọc 1

  • Amốt làm sứ ngôn thời vua Giêrôboam II, Vua Ítraen (thời kỳ phát đạt về kinh tế).
  • Thiên Chúa gởi Amốt đến chống lại những người lợi dụng và làm giàu trên người nghèo.
  • Sứ ngôn Amốt là phát ngôn viên của Thiên Chúa. Ngài là tiếng nói của Thiên Chúa. Ngài nói nhân danh Thiên Chúa.
  • Trong tư cách là sứ ngôn, ngài thông truyền sứ điệp của Thiên Chúa (bất bình, cảnh cáo) cho những ai nắm giữ quyền lực và kiểm soát kinh tế, những ai áp bức và thao túng những người nghèo.
  • Những người nghèo là những người bị các thương gia giàu có lừa bịp, mua bán.
  • Thiên Chúa về phe những người nghèo khổ không ai bảo vệ.
  • Họ không phải là những đồ vật và hàng hoá.
  • Chúng ta không thể lợi dụng họ để nên giàu có.
  • Chúng ta không thể tước đoạt cái tối thiểu mà họ có, phẩm giá, quyền lợi và tự do.
  • Nếu không, Thiên Chúa sẽ đến và hỏi tội chúng ta.
  • Quả thế, Vương quốc phía bắc (Ítraen) đã bị trừng phạt bởi vì họ không ngừng làm điều đó. Nó đã bị người Assyri tàn phá năm 721 trước công nguyên.
  • Điều đó cũng có thể xảy ra cho chúng ta, nếu chúng ta không ngừng áp bức người nghèo.
  • Chúng ta cần thể hiện sự công bằng và tôn trọng quyền lợi và tự do của người khác, đặc biệt kẻ nghèo.
BÀI ĐỌC 2: 1 TIMÔTHÊ 2,1-8

1 Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, 2 cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh. 3 Đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, 4 Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. 5 Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, 6 Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người. Điều này đã được chứng thực vào đúng thời đúng buổi.

7 Và để làm chứng về điều này, tôi được đặt làm người rao giảng và làm Tông Đồ -tôi nói thật chứ không nói dối- nghĩa là làm thầy dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý. 8 Vậy tôi muốn rằng người đàn ông hãy cầu nguyện ở bất cứ nơi nào, tay giơ lên trời, tâm hồn thánh thiện, không giận hờn, không xung khắc.

Bố cục

  • Cầu nguyện cho mọi người, cho những người cầm quyền: c. 1-2a
  • Mục đích của việc cầu nguyện: c. 2b-4
  • Lý do: c.5-6
  • Sứ vụ của thánh Phaolô: c. 7-8
Chú giải

  • Trong c.1, thánh Phaolô nài xin Timôthê (giám mục Êphêsô) cầu nguyện cho mọi người, cả cho vua chúa và những người cầm quyền. Tại sao?
  • C.2 đưa ra lý do: để an cư lạc nghiệp.
  • C.3 đưa ra một bình luận nếu chúng ta có được một cuộc sống yên ổn.
  • Đây là dấu chỉ của ơn cứu độ. Chúng ta nhận biết được chân lý. c.4
  • Lý do chính của việc cầu nguyện: Chỉ có một Thiên Chúa, một Đấng Trung gian là Đức Giêsu Kitô (chẳng phải ai khác, dù là vua chúa hay người cầm quyền). c.5
  • C.7 nêu lên lý do tại sao thánh Phaolô lại là người rao giảng, tông đồ và thầy dạy.
  • C.8 là ước muốn của thánh Phaolô: cầu nguyện không giận hờn, không xung khắc.
  • Suy tư trên bài đọc 2
  • Thánh Phaolô viết cho Timôthê, một mục tử, một vị lãnh đạo của Giáo hội.
  • Thánh Phaolô nói lại về tầm quan trọng của việc cầu nguyện cho mọi người và cho những người cầm quyền.
  • Thánh Phaolô ý thức rằng nếu những người cầm quyền mắc phải sai lầm và bất công thì không có hoà bình và an cư trong xứ sở.
  • Lời mời gọi cầu nguyện của thánh Phaolô hàm ý rằng mọi người phải phục tùng một Thiên Chúa; và Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, Đức Giêsu Kitô.
  • Đức Kitô còn được xem như Đấng cứu chuộc (quy chiếu về việc đóng đanh).


BÀI TIN MỪNG: LUCA 16,1-13

1 Đức Giê-su còn nói với các môn đệ rằng: "Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. 2 Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: "Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa! 3 Người quản gia liền nghĩ bụng: "Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. 4 Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!

5 "Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: "Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy? 6 Người ấy đáp: "Một trăm thùng dầu ô-liu. Anh ta bảo: "Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi. 7 Rồi anh ta hỏi người khác: "Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy? Người ấy đáp: "Một ngàn giạ lúa. Anh ta bảo: "Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi. 8 "Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.

9 "Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. 10 Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. 11 Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? 12 Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em? 13 "Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được."

Bố cục

Người quản lý bị mất việc: c.1-2

* Người quản lý đây phải được hiểu trong bối cảnh của xứ Paléttina: người quản lý làm nhân danh chủ - công việc là cho vay lấy lời.

* Người quản lý bất lương là vì phung phí tài sản của chủ. Có ai đó đã báo cáo việc làm sai trái của ông. Trước khi ra đi, ông phải tính sổ.

Người quản lý tìm kế sinh nhai: c. 3-4

* người quản lý tìm cách để tồn tại. Ông biết giới hạn và cảm xúc của mình.

* Vì là người quản trị, ông biết cách xoay sở. Ông có một giải pháp. Ông sẽ tìm nơi trú ẩn trong “nhà của họ.”

* Nhà ai?

* Nhà của những con nợ của chủ.

Người quản lý ra tay hành động. Rất có phương pháp. Ông biết toan tính: c 5-7

* Người mắc nợ thứ nhất: bớt 50 thùng

* Người mắc nợ thứ hai: bớt 200 giạ

Lời khen của chủ: c.8

* Thiên Chúa dường như bỏ qua sự gian dối và bất lương. Tại sao Người khen tên quản lý bất lương này?

* Chính xác là chủ đã loại ông vì đã không quản lý tốt tài sản.

* Câu hỏi này cần chút lưu ý.

* Một vài học giả đề nghị rằng chủ khen người quản lý bất lương không phải vì đã gian dối tiếp (100 thành 50 thùng, 1000 thành 800 giạ), nhưng là vì đã trả lại cái mà ông đã lấy của họ (những người mắc nợ).

* Những người mắc nợ rất có thể chỉ nợ 50 thùng và 800 giạ thôi, nhưng người quản lý đã đòi hơn cho phần mình. Anh ta chỉ trả lại điều anh đã lấy bất công. Theo cách này, ông muốn làm bạn với họ. Như thế, họ cho ông ở lại trong nhà của họ.

Lời dạy của Đức Giêsu: c.9-13

* Về của cải: Dùng của cải vật chất để mua bạn hữu. Đừng ích kỷ. Bạn không có của cải mãi đâu.

* về sự trung tín: Đừng coi nhẹ những điều nhỏ mọn. Hãy tỏ ra đáng tin trong những việc nhỏ. Bạn sẽ được giao phó những việc lớn. Hãy làm cho tốt những gì đã được giao phó cho bạn, dù là việc nhỏ. Hãy làm cách tốt nhất theo dự tính của chủ. Bạn chỉ là người quản lý. Bạn không thể làm bất cứ điều gì bạn muốn. Hãy tôn trọng chủ là người đã giao phó công việc cho bạn.

* về lòng dạ không thay đổi:

Nếu bạn chọn theo Thiên Chúa, hãy từ bỏ ma quỷ.

Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa và ma quỷ.

Khi chúng ta phụng sự Thiên Chúa, chúng ta phải một lòng. Chúng ta tập trung hướng về Thiên Chúa, không điều gì khác. Điều gì khác là lo ra.

Ma quỷ làm cho việc phụng thờ Thiên Chúa của chúng ta nên nửa vời.

Ma quỷ cướp lấy khỏi chúng ta việc phụng thờ Thiên Chúa đích thực và trọn vẹn.

NỐI KẾT 3 BÀI ĐỌC

Bài đọc 1 phản kháng lại những người có quyền hành sống bất công. Họ lạm dụng quyền bính để tìm lợi lộc trên người nghèo khổ.

Bài đọc 2 kêu mời cầu nguyện cho những người đang nắm giữ quyền bính để họ đừng gây xáo trộn trong đất nước.

Bài Tin mừng nói đến việc trở nên người quản lý đích thực và trung thành. Quyền bính phải được thi hành cách khôn khéo.

CÁCH KHAI TRIỂN BÀI GIẢNG

  • Bạn đã từng bị mất việc chưa? Đâu là những lý do?
  • Một vài lý do cho nghỉ việc: không hiệu quả, vô kỷ luật, cứng cổ, không tuân theo chỉ thị v.v…
  • Chúng ta phải hiểu rằng, dù chúng ta chỉ là nhân viên, chúng ta cũng được giao phó một số quyền hành.
  • Trong bài đọc 1, Amốt phản đối những người có quyền hành mà lợi dụng người nghèo khổ. Họ lạm dụng quyền bính để làm giàu. Họ lừa bịp. Họ thay đổi cân đo. Họ mua rẻ những người nô lệ như mua một món hàng.
  • Amốt, một sứ ngôn về công bằng xã hội, có lòng yêu mến đặc biệt đối với người nghèo và người bị áp bức. Ngài muốn họ được giải thoát khỏi những cơ cấu áp bức.
  • Trong bài đọc 2, thánh Phaolô thúc dục Timôthê (và độc giả) cầu nguyện cho những người nắm giữ quyền bính, để có được sự bình an. Thánh Phaolô ý thức rằng việc cai trị tồi tệ có thể gây hại cho Giáo hội và cộng đoàn.
  • Bài Tin mừng nói về người quản lý bị cho thôi việc vì đã lạm dụng quyền bính. Ông đã không cai quản tốt tài sản của chủ. Ông thiếu tinh thần trách nhiệm.
  • Bài Tin mừng ủng hộ việc quản trị tốt và quản lý trung thành. Không người quản lý nào được phép thay đổi mục tiêu của chủ liên quan đến tài sản. Anh phải biết vai trò và giới hạn của mình…
  • Bài Tin mừng cũng dạy về sự khôn ngoan như một nhân đức cần thiết để tồn tại.
  • Sự khôn ngoan được diễn tả đây như là biết mua lấy bạn hữu, biết sử dụng của cải, tài sản để thiết lập những mối tương quan tốt đẹp. Người ta không muốn đồng bàn, ở với bạn, nếu bạn không là người khách tốt, nếu bạn không biết cho và nhận.
  • Chúng ta những người lãnh đạo / thừa tác viên của Giáo hội đã thực thi quyền bính như thế nào?
  • Chúng ta có áp bức những kẻ bé mọn không? (bài đọc 1)
  • Chúng ta có cầu nguyện cho những người nắm giữ quyền bính cao hơn chúng ta không? (bài đọc 2)
  • Chúng ta có phung phí quyền bính của chúng ta không (nghĩa là không thực thi quyền bính, luôn vắng mặt, không làm tốt công việc, không báo cáo, không thanh toán sổ sách, v.v…?) (bài Tin mừng)
  • Người kitô hữu phải biết thực thi quyền bính của mình, cách khôn khéo, giống như con cái đời này.
  • Đức Giêsu là mẫu gương về một quyền bính có trách nhiệm, đầy yêu thương và khôn khéo.
  • Đức Giêsu ưu tiên đáp ứng nhu cầu của những người nghèo. Đức Giêsu thách đố những người nắm giữ quyền bính để họ sống và hành động theo thánh ý Thiên Chúa, Đấng đã ban cho họ quyền bính.
  • Đức Giêsu đã thực thi quyền bính nhằm mưu ích cho nhân loại cho đến khi đổ giọt máu cuối cùng trên đồi Can-vê.
  • Ngài sử dụng cách tốt nhất 3 năm rao giảng. Ngài để lại một dấu ấn trong tâm trí những người nỗ lực đào sâu mối tương quan với Thiên Chúa.
  • Đức Giêsu một lòng một trí phụng sự Thiên Chúa, loan báo Nước Thiên Chúa, bằng cách rao giảng, dạy dỗ, chữa lành và tha tội cho những người đến với Ngài.
  • Đức Giêsu không tìm cách làm cho mình nổi danh, làm giàu cho chính mình. Ngài chú tâm đến các ưu tiên, đến sứ vụ.
  • Với quyền năng và sức mạnh, Đức Giêsu hô lên: “Lạy Cha, xin tha cho chúng…”
  • Quả thế, Đức Giêsu sống theo điều mà Chúa Cha chờ đợi nơi Ngài.
  • Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta có thể thấy Đức Giêsu vẫn đang hiến thân cho chúng ta.
  • Ngài vẫn tiếp tục thực thi quyền bính Ngài bằng cách phân phát ân sủng của Ngài cho chúng ta dưới hình bánh và rượu được truyền phép.
  • Ngài làm bạn với chúng ta khi trao ban chính mình để nuôi sống chúng ta.
  • Bí tích Thánh Thể tiếp tục đóng vai trò người quản gia và người phục vụ trung thành trong vườn nho của Chúa.
  • Trong bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu tiếp tục dạy chúng ta cách chia sẻ, nhường bước, trở nên khiêm hạ, trở nên người tôi tớ khôn ngoan và một lòng một dạ.