CHÚA NHẬT XXIV TN (C)
Khi tình yêu chiến thắng
Mấy tuần trước đây, chúng ta đã nghe tin về sự ra đi của Danh Ca Luciano Pavarotti người Ý. Bản tin của trang mạng Vietcatholic loan báo rằng :
Luciano Pavarotti, 71 tuổi, giọng tenor lừng danh thế giới đã được an táng trong một lễ nghi trọng thể tại nhà thờ chánh tòa tổng giáo phận Modena. Tổng giáo phận Modena đã chịu nhiều chỉ trích khi cử hành lễ an táng trọng thể cho Pavarotti vì ông này là người đã ly dị, đã tái kết hôn, và có một thời gian xa lìa Giáo Hội.
Tuy nhiên, tờ Sydney Morning Herald tường thuật rằng cha Remo Sartori, cha xứ của Pavarotti, đã khẳng định rằng ở cuối đời, trong khi giành giật sống chết với cơn bệnh ung thư, Pavarotti đã trở lại đạo và hôm thứ Năm tuần qua đã chịu các phép bí tích sau cùng.
Trong khi đó, một bản tin khác lại tường thuật rằng : “Tuần qua, trước khi từ giã cõi đời, danh ca Luciano Pavarotti đã thoải mái nói: Thượng đế và tôi không còn mắc nợ gì nhau.”
Quả thật những dòng cuối của bản tin đã làm cho tôi thật sự xúc động : “trong khi giành giật sống chết với cơn bệnh ung thư, Pavarotti đã trở lại đạo và hôm thứ Năm tuần qua đã chịu các phép bí tích sau cùng.”
Nếu được đặt trong ngữ cảnh của Sứ điệp Lời Chúa, chúng ta có thể nói được rằng : Cuộc đời của Pavarotti đã hiện thực hóa các dụ ngôn của Tin Mừng Luca vừa được công bố hôm nay : Vâng, Pavarotti nào có khác chi một “con chiên lạc đã được tìm thấy”, “đồng bạc lạc mất đã được lượm lại”, “người con hoang đàng đã trở về nhà cha sau một đời lang thang phóng đãng”.
Mà thật ra, nào có phải chỉ có mỗi một Pavarotti ! Tất cả chúng ta ai lại không hơn một lần bầm dập thương tích như một “con chiên lạc”, lang thang vất vưởng như một “đồng bạc bị đánh rơi”, rách nát thảm thương như “người con hoang một đời phóng đãng” ? Vâng, nào có ai là thánh nhân đến độ không bao giờ lỗi phạm đến Thiên Chúa và anh em ? Nếu có ai tự vỗ ngực xưng mình là người nhân đức thánh thiện “không hề lỗi phạm điều gì cùng cha”, thì xin mời họ hãy xếp hàng đứng chung với “người con trưởng”, hình tượng của dụ ngôn Tin Mừng mà Đức Kitô đã tế nhị dành riêng cho những người mang danh ký lục và biệt phái !
Chính vì thế sứ điệp Lời Chúa hôm nay lại là một tín thư của niềm hy vọng, của tình yêu cứu độ được viết cho mỗi người chúng ta, cho toàn thể nhân loại.
Thế nhưng sứ điệp nầy, chân lý nầy đâu có phải chỉ dừng lại nơi dụ ngôn hay câu chữ để rồi bỏ lại thân phận bao con người ôm nỗi bẽ bàng thất vọng theo kiểu “bất cần đời” của thi sĩ Chế Lan Viên :
Thượng đế ơi, xin cuối đầu trả lại
Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang
Sầu đã chín xin Người thôi hãy hái,
Nhận tôi đi dù địa ngục thiên đàng
Không. Ngay từ thuở hồng hoang cựu ước, khi dân được chọn đang đứng bên bờ vực thẳm của án phạt bất trung, thì chỉ với lời van xin tha thiết của lãnh tụ Môsê, “Thiên Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe dọa phạt dân” (BĐ I). Hay như chứng từ của một trong những “người con hoang” nổi tiếng đã làm nên lịch sử oai hùng cho Kitô giáo là thánh Phaolô trong chính bức tâm thư gởi cho đồ đệ Timôthê mà chúng ta vừa nghe công bố hôm nay : “Cha cảm tạ Đấng đã ban sức mạnh cho Cha là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì Người đã kể cha là người trung tín, khi đặt cha thi hành chức vụ : dù trước kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng, nhưng cha đã được Chúa thương xót, vì cha đã vô tình làm những sự ấy lúc cha chưa tin” (BĐ II)
Nào chúng ta đã chẳng từng đọc thấy : giọt nước mắt yêu thương của người đàn bà tội lỗi Maria Mađalêna, nổi vui ngút ngàn của người phú hộ Giakê, niềm hạnh phúc trào dâng của chàng Lêvi thu thuế…Phải chăng đó là hình tượng của tất cả chúng ta, khi chúng ta thật sự tìm về với Chúa nơi tòa giải tội để được mặc chiếc áo mới của tình yêu tha thứ, hay được nghe lời phán quyết yêu thương trong những phút ăn năn sám hối trước Thiên Chúa tình yêu.
Nào chúng ta đã chẳng từng nghe kể một sự kiện hy hữu của Tin Mừng Gioan : Đức Giêsu hiện thân của tình thương cứu độ, khoan dung, tha thứ của Thiên Chúa, và người phụ nữ phạm tội ngoại tình, hiện thân của của một nhân loại bẽ bàng, tội lỗi, lầm than…Khi suy niệm bối cảnh nầy, và khi phóng chiếu vào chính cuộc đời mình, Thánh Giáo phụ Augustinô đã kết luận chí lý : “Chỉ còn lại tình thương và tội lỗi”.
Phải chăng, đó cũng chính là nội dung cốt lõi của toàn bộ chân lý đức tin Kitô giáo, của kho tàng mặc khải của Thánh kinh ? Bởi chưng, chân lý cuối cùng về Thiên Chúa, đó chính là nhìn nhận và tuyên xưng “Thiên Chúa là tình yêu”, và sự thật tối hậu dành cho thân phận của mỗi con người đó chính là : “chúng ta cần ơn cứu độ bời vì chúng ta là tội nhân”.
Cái khủng hoảng lớn lao nhất của tinh thần con người, cái thất bại to lớn nhất của văn minh con người và cái thảm trạng bi đát nhất cho tương lai con người phải chăng đó chính là sự kiện nhân loại hôm nay đang “không còn tin hay không dám tin vào tình yêu của Thiên Chúa”; và đồng thời, không còn nhạy cảm, ý thức thân phận tội lỗi của mình khi kiêu căng tự lấy mình làm thước đo, làm quy tắc cho mọi lề luật luân lý để tự do buông thả với cái tôi đam mê dục vọng.
Đó cũng chính là thái độ tín ngưỡng phần nào đã biến chất và lệch lạc nơi một số người Do Thái thời Chúa Giêsu, những kẻ thường vỗ ngực tự xưng là “kinh sư, biệt phái”. Những kẻ sẵn sàng quên mất những lời dạy của sách Lê-vi “yêu thương anh em như chính mình”, để chỉ nhớ một điều “mắt đền mắt, răng đền răng”, hay “phải giết chết kẻ nào phạm tội ngoại tình”, nên đã nhất quyết giành quyền làm anh trưởng đòi cha phải vất bỏ đứa em ruột thịt, cho dù nó đã lê lết trở về mái nhà xưa, hay đã trơ trẻn và ác độc rình bắt cho được một người chị em đồng bào lỡ lầm yếu đuối để đem làm mồi nhữ cho “âm mưu ném đá” mà không đoái hoài gì đến nhân phẩm, danh dự của một con người “mang ảnh hình Thiên Chúa”.
Như vậy, sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy “đặt mình” trước Thiên Chúa như một cuộc trở về” gặp gỡ một “Người Cha đang rộng vòng tay đón đợi”, là tìm lại đôi tay của “Người mục tử bỏ lại 99 con chiên để đi tìm con chiên lạc”, là cảm nhận niềm vui và hạnh phúc trào dâng khi được tham dự vào bàn tiệc của Thiên Chúa từ nhân để chào đón con hoang trở về, để mừng vui tìm thấy “đồng bạc bị mất”.
Cuộc cử hành mầu nhiệm Vượt Qua của đoàn Dân Chúa hôm nay cũng chỉ thực sự đạt được mục đích khi mọi thành phần Dân chúa sống trọn vẹn hai chiều kích cơ bản đó : tin vào tình thương cứu độ của Thiên Chúa và sẵn sàng quỳ xuống bằng cõi lòng thống hối ăn năn để thân thưa với Thiên Chúa như lời Đa-Vít đã nguyện cầu sau khi nhận ra cái tôi thấp hèn, tội lỗi của mình, còn ghi lại trong Sách Thánh mà chúng ta đã cùng hát lên trong bài đáp vịnh ca hôm nay:
“Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa,
Xóa tội con theo lượng cả đức từ bi.
Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm,
Và tẩy con sạch lâng tội ác”
Khi tình yêu chiến thắng
Mấy tuần trước đây, chúng ta đã nghe tin về sự ra đi của Danh Ca Luciano Pavarotti người Ý. Bản tin của trang mạng Vietcatholic loan báo rằng :
Luciano Pavarotti, 71 tuổi, giọng tenor lừng danh thế giới đã được an táng trong một lễ nghi trọng thể tại nhà thờ chánh tòa tổng giáo phận Modena. Tổng giáo phận Modena đã chịu nhiều chỉ trích khi cử hành lễ an táng trọng thể cho Pavarotti vì ông này là người đã ly dị, đã tái kết hôn, và có một thời gian xa lìa Giáo Hội.
Tuy nhiên, tờ Sydney Morning Herald tường thuật rằng cha Remo Sartori, cha xứ của Pavarotti, đã khẳng định rằng ở cuối đời, trong khi giành giật sống chết với cơn bệnh ung thư, Pavarotti đã trở lại đạo và hôm thứ Năm tuần qua đã chịu các phép bí tích sau cùng.
Trong khi đó, một bản tin khác lại tường thuật rằng : “Tuần qua, trước khi từ giã cõi đời, danh ca Luciano Pavarotti đã thoải mái nói: Thượng đế và tôi không còn mắc nợ gì nhau.”
Quả thật những dòng cuối của bản tin đã làm cho tôi thật sự xúc động : “trong khi giành giật sống chết với cơn bệnh ung thư, Pavarotti đã trở lại đạo và hôm thứ Năm tuần qua đã chịu các phép bí tích sau cùng.”
Nếu được đặt trong ngữ cảnh của Sứ điệp Lời Chúa, chúng ta có thể nói được rằng : Cuộc đời của Pavarotti đã hiện thực hóa các dụ ngôn của Tin Mừng Luca vừa được công bố hôm nay : Vâng, Pavarotti nào có khác chi một “con chiên lạc đã được tìm thấy”, “đồng bạc lạc mất đã được lượm lại”, “người con hoang đàng đã trở về nhà cha sau một đời lang thang phóng đãng”.
Mà thật ra, nào có phải chỉ có mỗi một Pavarotti ! Tất cả chúng ta ai lại không hơn một lần bầm dập thương tích như một “con chiên lạc”, lang thang vất vưởng như một “đồng bạc bị đánh rơi”, rách nát thảm thương như “người con hoang một đời phóng đãng” ? Vâng, nào có ai là thánh nhân đến độ không bao giờ lỗi phạm đến Thiên Chúa và anh em ? Nếu có ai tự vỗ ngực xưng mình là người nhân đức thánh thiện “không hề lỗi phạm điều gì cùng cha”, thì xin mời họ hãy xếp hàng đứng chung với “người con trưởng”, hình tượng của dụ ngôn Tin Mừng mà Đức Kitô đã tế nhị dành riêng cho những người mang danh ký lục và biệt phái !
Chính vì thế sứ điệp Lời Chúa hôm nay lại là một tín thư của niềm hy vọng, của tình yêu cứu độ được viết cho mỗi người chúng ta, cho toàn thể nhân loại.
Thế nhưng sứ điệp nầy, chân lý nầy đâu có phải chỉ dừng lại nơi dụ ngôn hay câu chữ để rồi bỏ lại thân phận bao con người ôm nỗi bẽ bàng thất vọng theo kiểu “bất cần đời” của thi sĩ Chế Lan Viên :
Thượng đế ơi, xin cuối đầu trả lại
Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang
Sầu đã chín xin Người thôi hãy hái,
Nhận tôi đi dù địa ngục thiên đàng
Không. Ngay từ thuở hồng hoang cựu ước, khi dân được chọn đang đứng bên bờ vực thẳm của án phạt bất trung, thì chỉ với lời van xin tha thiết của lãnh tụ Môsê, “Thiên Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe dọa phạt dân” (BĐ I). Hay như chứng từ của một trong những “người con hoang” nổi tiếng đã làm nên lịch sử oai hùng cho Kitô giáo là thánh Phaolô trong chính bức tâm thư gởi cho đồ đệ Timôthê mà chúng ta vừa nghe công bố hôm nay : “Cha cảm tạ Đấng đã ban sức mạnh cho Cha là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì Người đã kể cha là người trung tín, khi đặt cha thi hành chức vụ : dù trước kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng, nhưng cha đã được Chúa thương xót, vì cha đã vô tình làm những sự ấy lúc cha chưa tin” (BĐ II)
Nào chúng ta đã chẳng từng đọc thấy : giọt nước mắt yêu thương của người đàn bà tội lỗi Maria Mađalêna, nổi vui ngút ngàn của người phú hộ Giakê, niềm hạnh phúc trào dâng của chàng Lêvi thu thuế…Phải chăng đó là hình tượng của tất cả chúng ta, khi chúng ta thật sự tìm về với Chúa nơi tòa giải tội để được mặc chiếc áo mới của tình yêu tha thứ, hay được nghe lời phán quyết yêu thương trong những phút ăn năn sám hối trước Thiên Chúa tình yêu.
Nào chúng ta đã chẳng từng nghe kể một sự kiện hy hữu của Tin Mừng Gioan : Đức Giêsu hiện thân của tình thương cứu độ, khoan dung, tha thứ của Thiên Chúa, và người phụ nữ phạm tội ngoại tình, hiện thân của của một nhân loại bẽ bàng, tội lỗi, lầm than…Khi suy niệm bối cảnh nầy, và khi phóng chiếu vào chính cuộc đời mình, Thánh Giáo phụ Augustinô đã kết luận chí lý : “Chỉ còn lại tình thương và tội lỗi”.
Phải chăng, đó cũng chính là nội dung cốt lõi của toàn bộ chân lý đức tin Kitô giáo, của kho tàng mặc khải của Thánh kinh ? Bởi chưng, chân lý cuối cùng về Thiên Chúa, đó chính là nhìn nhận và tuyên xưng “Thiên Chúa là tình yêu”, và sự thật tối hậu dành cho thân phận của mỗi con người đó chính là : “chúng ta cần ơn cứu độ bời vì chúng ta là tội nhân”.
Cái khủng hoảng lớn lao nhất của tinh thần con người, cái thất bại to lớn nhất của văn minh con người và cái thảm trạng bi đát nhất cho tương lai con người phải chăng đó chính là sự kiện nhân loại hôm nay đang “không còn tin hay không dám tin vào tình yêu của Thiên Chúa”; và đồng thời, không còn nhạy cảm, ý thức thân phận tội lỗi của mình khi kiêu căng tự lấy mình làm thước đo, làm quy tắc cho mọi lề luật luân lý để tự do buông thả với cái tôi đam mê dục vọng.
Đó cũng chính là thái độ tín ngưỡng phần nào đã biến chất và lệch lạc nơi một số người Do Thái thời Chúa Giêsu, những kẻ thường vỗ ngực tự xưng là “kinh sư, biệt phái”. Những kẻ sẵn sàng quên mất những lời dạy của sách Lê-vi “yêu thương anh em như chính mình”, để chỉ nhớ một điều “mắt đền mắt, răng đền răng”, hay “phải giết chết kẻ nào phạm tội ngoại tình”, nên đã nhất quyết giành quyền làm anh trưởng đòi cha phải vất bỏ đứa em ruột thịt, cho dù nó đã lê lết trở về mái nhà xưa, hay đã trơ trẻn và ác độc rình bắt cho được một người chị em đồng bào lỡ lầm yếu đuối để đem làm mồi nhữ cho “âm mưu ném đá” mà không đoái hoài gì đến nhân phẩm, danh dự của một con người “mang ảnh hình Thiên Chúa”.
Như vậy, sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy “đặt mình” trước Thiên Chúa như một cuộc trở về” gặp gỡ một “Người Cha đang rộng vòng tay đón đợi”, là tìm lại đôi tay của “Người mục tử bỏ lại 99 con chiên để đi tìm con chiên lạc”, là cảm nhận niềm vui và hạnh phúc trào dâng khi được tham dự vào bàn tiệc của Thiên Chúa từ nhân để chào đón con hoang trở về, để mừng vui tìm thấy “đồng bạc bị mất”.
Cuộc cử hành mầu nhiệm Vượt Qua của đoàn Dân Chúa hôm nay cũng chỉ thực sự đạt được mục đích khi mọi thành phần Dân chúa sống trọn vẹn hai chiều kích cơ bản đó : tin vào tình thương cứu độ của Thiên Chúa và sẵn sàng quỳ xuống bằng cõi lòng thống hối ăn năn để thân thưa với Thiên Chúa như lời Đa-Vít đã nguyện cầu sau khi nhận ra cái tôi thấp hèn, tội lỗi của mình, còn ghi lại trong Sách Thánh mà chúng ta đã cùng hát lên trong bài đáp vịnh ca hôm nay:
“Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa,
Xóa tội con theo lượng cả đức từ bi.
Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm,
Và tẩy con sạch lâng tội ác”