Xin vâng và đoạn trường

Xin vâng đoạn trường, Ảnh Nguyễn Trung Tây
Mẹ Maria là một trong những nhân vật được nhắc tới nhiều nhất trong dòng lịch sử ơn cứu độ. Đặc biệt người Việt Nam rất yêu mến Đức Mẹ qua tháng Năm rực rỡ và ngập tràn những tràng hoa năm sắc dâng lên Nữ Vương Thiên Đàng. Tháng Năm nhắc nhở dẫn đến tháng Mười, gia đình Văn Lang quây quần xum họp dâng Mẹ Thiên Chúa tràng hạt Mân Côi. Tại Hoa Kỳ đặc biệt vào giữa tháng Tám người Công Giáo Việt Nam từ khắp những nẻo đường dẫn nhau về xum họp dưới chân Mẹ qua Đại Hội Thánh Mẫu do chi Dòng Đồng Công hải ngoại tổ chức tại thành phố Carthage, tiểu bang Missouri. Vào chiều thứ Bẩy của đại hội, khi xe hoa Đức Mẹ được cung nghinh về khán đài chính, những tiếng reo hò vang dội của giáo dân và những tràng pháo đỏ nổ vang trời chúc mừng Nữ Vương Việt Nam. Maria trong tiếng Cổ Do Thái có nghĩa là tuyệt vời, tuyệt thế. Người sao tên vậy. Maria quả thật là người tuyệt vời, bởi vì Mẹ đã từng ầu ơ ví dầu ru Con của Trời chìm sâu vào giấc nồng; Mẹ giơ tay dìu Con Một Thiên Chúa những bước đầu tiên chập chững vào đời; Mẹ dẫn Con Thiên Chúa tung tăng cắp sách đến trường; Mẹ nhận ra âm thanh bất ngờ vỡ bể nơi cuống họng và những sợi râu bắt đầu mọc lưa thưa trên mép người con trai đầu lòng. Khi con lớn lên cất bước ra đi, Mẹ lần bước theo những vết chân trên đoạn đường ba năm rao giảng Tin Mừng. Khi con đứng lại, Mẹ cũng dừng bước dưới chân thập giá; Mẹ yên lặng theo dõi cặp mắt từ từ lạc thần tối xám đen lại, xám đen như bầu trời kinh thành Giêrusalem vào lúc 3 giờ chiều ngày thứ Sáu hôm đó. Đoạn trường đan kết đoạn trường. Xin vâng nối kết xin vâng. Cuộc đời tiếp tục trôi qua, Mẹ nhắm mắt lại lìa bỏ trần thế. Sau khi Mẹ chết đi, hồn và xác được mang lên trời cao nhận phong triều thiên và tước hiệu Nữ Vương Thiên Đàng. Mẹ được Giáo Hội tôn vinh danh hiệu Mẹ Thiên Chúa. Không ai có thể từ chối Mẹ Maria là người trần thế duy nhất tràn đầy phúc lộc trời cao. Một trong những nguyên nhân khiến Maria, thiếu nữ bình dân thôn làng Nazaret, trở thành một người tràn đầy phúc lộc nhất trong dòng lịch sử ơn cứu độ có liên quan đến hai chữ “Xin Vâng”. Mới thoạt nhìn và nếu không để ý, hai chữ xin vâng tưởng như tầm thường, không có chi nổi bật. Nhưng cùng nhau phân tích và tìm hiểu cuộc sống người thôn nữ, chúng ta sẽ thấy thật ra không dễ chi để mà sống cho trọn vẹn với hai chữ xin vâng, bởi vì xin vâng nẩy sinh đoạn trường. Nhưng mặc cho phong ba bão táp thay phiên phủ chụp, Maria tiếp tục trung thành với lời hứa xin vâng.

Trong bài tham khảo này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu chuỗi đời đoạn trường của Đức Mẹ được trình bày trong Tân Ước, đặc biệt trong bốn bản Tin Mừng. Từ đó, chúng ta sẽ hiểu tại sao Mẹ Maria đã trở thành một người được thiên hạ qua muôn thế hệ yêu mến và cất lời khen ngợi đúng như lời kinh Magnificat mà Maria đã từng ứng khẩu,

Nữ tỳ hèn mọn, Người thương nhìn tới,

Từ rầy về sau muôn muôn thế hệ

sẽ khen ngợi tôi tràn đầy ơn phúc
(Luca 1:48).

I. Xin Vâng và Đoạn Trường

A. Truyền Tin

1. Xin Vâng

Câu chuyện đoạn trường của người thôn nữ bắt đầu vào một ngày kia khi sứ thần Gabrien tiến vào nhà. Người khách lạ mặt cất tiếng chào,

- Mừng vui lên, hỡi người đầy ơn phúc! Thiên Chúa ở cùng cô (Luca 1:28).

Câu chào lạ kỳ thoạt tiên gây ra nhiều thắc mắc xôn xao nơi tâm hồn người con gái, bởi cô không biết người khách lạ là ai và lời chào lạ lùng đó hàm ý những chi. Biết thế, sứ thần trấn an cô thôn nữ,

- Maria đừng sợ…

Ngạc nhiên này nối tiếp kinh ngạc kia trong khi câu chuyện giữa hai người tiếp nối. Cuối cùng người con gái nói,

- Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa. Xin vâng như lời sứ thần truyền.

Sau câu nói xin vâng, người khách lạ mặt nhẹ nhàng lui bước (Luca 1:26-38).

2. Đoạn Trường

Sứ thần Gabrien không hứa hẹn với Maria là người sẽ hiện ra trong giấc mơ thông báo cho Giuse biết câu truyện truyền tin. Sứ thần cũng không nói là người sẽ đứng ngay tại giếng nước đầu làng thị trấn Nazaret từ sáng tới chiều, từ chiều tới tối, từ ngày này qua ngày nọ để thông báo cho mọi người biết về can thiệp của Chúa Thánh Linh trong cung lòng cô thôn nữ. Người chỉ thông báo cho một mình người thiếu nữ biết lời mời gọi của trời cao. Và Maria có quyền chọn lựa. Vào giây phút phải quyết định, hoặc là từ chối, hoặc là xin vâng, Maria bắt buộc phải suy nghĩ, phải biết trước những tình huống có thể sẽ xẩy đến với mình. Nếu từ chối, cô sẽ tiếp tục sống êm đềm với đời sống thôn nữ trước ngưỡng cửa hôn nhân. Ngược lại, nếu xin vâng, cô biết “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”. Nhưng bởi tin tưởng vào Thiên Chúa, cuối cùng người con gái chấp nhận bóng tối đêm đen. Đôi môi thiếu nữ cất tiếng xin vâng, ngón tay thôn nữ lật trang đoạn trường.

3. Phong Tục Do Thái

Có thể bạn nghĩ hai chữ xin vâng là câu nói dễ dàng thoát ra từ cửa miệng người thôn nữ, bởi làm Mẹ Thiên Chúa, làm đấng cưu mang Con của Trời thật là lời mời gọi hấp dẫn, quyến rũ, và thiêng liêng. Hai chữ xin vâng đồng nghĩa với muôn muôn đời khắp trong thiên hạ sẽ khen ngợi người thiếu nữ hiếm họa lạ lùng, bởi vì có ai sánh nổi với Mẹ Thiên Chúa.

Nếu bạn nghĩ vậy, chúng ta không công bằng với người con gái năm xưa. Không biết ở đâu trên thế giới người ta thực sự sống với câu ca dao,

Không chồng mà chửa mới ngoan,

Có chồng mà chửa thế gian sự thường.


Nhưng ở cả Do Thái và bên Việt Nam, con gái mới hứa hôn, chưa đám cưới, người trong thôn làng chưa ai được ăn miếng trầu, uống chung rượu mà tự nhiên bụng to ra thì thật là vất vả với người trong thôn xóm. Như đã phân tích ở trên, câu chuyện truyền tin chỉ xảy ra giữa sứ thần trời cao và người thôn nữ. Bởi thế trong cái thôn xóm nhỏ bé Nazaret, khi nhận ra bụng cô gái càng ngày càng to ra, người ta sẽ không nói với nhau,

- Tamar à, biết gì không?

- Chuyện chi?

- Cách đây mấy tháng, con gái bà Anna được sứ thần hiện ra báo tin là cô ta sẽ cưu mang con Thiên Chúa. Hài nhi trong bụng cô Maria chính là Ðấng Thiên Sai chúng ta đang chờ đón.

Không! Không có ai trong cái thị trấn nhỏ bé Nazaret sẽ thầm thỉ to nhỏ với nhau những câu chuyện có nội dung tương tự như vậy. Nhưng người ta sẽ thì thào to nhỏ với nhau như thế này,

- Tamar à! Loạn! Loạn rồi! Cả làng mình không ai còn dám vác mặt lên nhìn ai nữa đâu!

- Chuyện chi? Chuyện chi vậy?

- Chuyện động trời như thế mà mày không hay không biết gì sao? Con Maria…

- Maria… Con Maria nào?

- Còn con Maria nào khác ngoài con Maria, hôn thê của thằng Giuse thợ mộc?

- Nó, nó làm sao?

- Nó, nó…nó có bầu.

- Thiệt không?

- Thiệt. Bộ mày đui hay sao mà không thấy bụng nó to vượt ngực rồi. Mày thấy chưa? Tao đã nói bao nhiêu lần rồi, con đó nhìn mặt hiền hiền mà không phải như vậy đâu. Thiệt, riết rồi không còn biết tin ai nữa?

Cứ vậy, câu chuyện nóng sốt đồn đi khắp trong thôn làng nhỏ bé miền Bắc Do Thái. Trên từng nẻo đường Nazaret, tại giếng nước đầu làng, người ta tụ họp thì thào to nhỏ kháo nhau về câu chuyện thằng hôn phu cù lần bị con nhỏ hôn thê cắm sừng. Người ta hồi hộp chờ đợi giây phút người thanh niên động thủ, bởi vì chiếu theo bộ luật Môisen, người con gái sẽ bị lôi ra đầu làng. Sau đó, mọi người trong thôn làng sẽ ưu ái tặng cho hư thân mất nết những cục đá to, sắc, và nhọn. Máu đỏ lênh láng mặt đất đá sỏi. Danh dự thôn làng sẽ được cứu vãn. Câu chuyện về người thợ mộc Giuse trong bản Tin Mừng theo thánh Mátthêu là bằng chứng cụ thể và sống động cho bức tranh vừa được phác họa ở trên. Theo như thánh sử Mátthêu 2:18-25, sau khi khám phá ra bào thai, tâm hồn người thợ mộc Giuse bắt đầu nổi lên những trận cuồng phong, giằng co dầy xéo giữa hai dòng tư tưởng đối chọi. Hoặc là cố gắng thỏa mãn tự ái bằng cách dựa theo bộ luật Môisen, cho người tình phụ một bài học. Hoặc là thôi, bỏ qua. Giuse cuối cùng lắng nghe theo tiếng gọi của từ bi, của tha thứ. Trong khi chàng thợ mộc đang tính toán một phương thế tốt đẹp vẹn toàn cho cả hai, sứ thần thiên quốc hiện ra trong giấc mơ thông báo cho chàng biết chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa (Matthêu 1:18-25).

B. Thành Phố Bếtlêhem

Sau câu truyện truyền tin và hành trình lên đường viếng thăm người chị họ Elizabet, thánh sử Luca tiếp tục những dòng chữ về nỗi niềm đoạn trường của người thôn nữ Maria bằng lệnh kiểm tra dân số của hoàng đế Âugústus. Mực chữ ký Xêra vừa khô lại, người người trong đế quốc La Mã chuẩn bị lên đường trở về nguyên quán ghi danh. Bởi Giuse thuộc về chi tộc Đavít, từ phương Bắc Galilê, người thợ mộc và người thiếu phụ gần tới ngày khai hoa nở nhụy phải vượt qua dặm đường thiên lý bôn ba tới thành phố Bếtlêhem của phương Nam. Hình ảnh Giáng Sinh được trình bày vào thế kỷ hai mươi mốt với hang đá trắng ngời mầu tuyết, thông xanh lấp lánh ngôi sao, và quà cáp ngập cao có ngọn trong căn phòng khách sang trọng đã làm mờ nhạt hoặc mất đi nét đoạn trường của Maria. Nhìn cây Giáng Sinh với dây kim tuyến, với đèn sáng lấp lánh, có mấy người Kitô hữu nhớ lại và cảm nghiệm được đoạn đường dài người thiếu phụ bụng mang dạ chửa đã vượt qua. Đoạn đường thiên lý từ Bắc Galilê vào Nam Giuđê tiếp nối nhau với thác cao, với đèo dốc, và với sa mạc nắng cháy da người. Trải qua bao nhọc nhằn với cuộc hành trình, người phụ nữ cuối cùng đặt chân tới thành phố Bếtlêhem chỉ để khám phá ra không còn chỗ trống trong thị trấn. Người trong thành phố không chào đón khách lạ phương Bắc lỡ độ đường. Người ta hờ hững với người thiếu phụ bơ vơ. Người ta đóng mạnh cánh cửa tâm hồn lại trước khuôn mặt thất vọng của đôi vợ chồng nhà quê. Sau cùng người phụ nữ không còn chọn lựa nào khác ngoài hang bò lừa. Trong hoàn cảnh túng thiếu đơn chiếc, giờ phút lâm bồn đã tới. Nàng hạ sinh một người con trai. Nàng cởi khăn quấn đầu bọc hài nhi đặt trong máng cỏ.

Máng cỏ và hang lừa bò không phải là nơi để người ta sinh con. Đó là nơi chỉ để dàng riêng những người chăn chiên ghé vào tránh sương gió. Máng cỏ và hang lừa thế kỷ thứ nhất cũng tương tự như góc hẻm gầm cầu thế kỷ hai mươi mốt. Nơi đó là mất an toàn, là nguy hiểm, là bần hàn, là nghèo khổ. Nhưng máng cỏ hang lừa đã trở thành nơi nương tựa cho cô thôn nữ đang chờ đợi giờ phút mãn nguyệt khai hoa. Ai không muốn con mình được sinh ra bọc trong vải điều? Ai không muốn hài nhi sơ sinh của mình được bọc với khăn bông trắng tinh, nằm trong nôi thủy tinh trắng muốt đặt trong căn phòng sơn trắng nhiệt độ điều hòa ấm áp? Nhưng mơ ước bình thường của những người con gái không bao giờ trở thành hiện thực với Maria. Trong thời gian bụng mang dạ chửa, ngày sinh nở đã tới gần kề, Maria phải trèo non lội suối tới một nơi không ai mong đợi, không người chào đón. Bởi lang thang, không nhà cửa, vô gia cư, người thiếu phụ không còn chọn lựa nào khác. Nàng hạ sinh trong chuồng bò. Nhìn vào khung cảnh Giáng Sinh nguyên thủy của thế kỷ thứ nhất vừa được phác họa, chúng ta sẽ hiểu nhiều hơn tại sao Maria lại yên lặng suy niệm trong lòng khi những người chăn chiên trong vùng ghé vào hang cỏ viếng thăm hài nhi vừa chào đời (Luca 2:19).

C. Chuỗi Đoạn Trường

Cuộc đời tiếp tục trôi qua. Sau hang đá Bếtlêhem, theo luật Môisen, Maria mang con vào trong Ðền Thánh dâng lên Thiên Chúa. Trong Đền Thờ Giêrusalem, người phụ nữ gặp gỡ Simêon. Người ngôn sứ cao niên nói với người mẹ, “[Đứa bé] sẽ trở nên lưỡi gươm nhọn đâm thâu qua tâm hồn cô” (Luca 2:35).

Ngày hôm nay khi mang người con còn đỏ hỏn của mình tới nhà thờ rửa tội, một người lạ mặt bất ngờ xuất hiện trong ngôi thánh đường. Nhìn mặt hài nhi, người này buông ra một câu nói tương tự như lời của ngôn sứ Simêon năm xưa. Khi đó chúng ta sẽ nghĩ chi và phản ứng ra sao với câu nói bất ngờ này? Đức Mẹ ngày hôm đó yên lặng không nói chi. Vào giây phút đó người phụ nữ còn biết nói gì, bởi Maria đã có thêm một cơ hội nữa để tiếp tục sống với xin vâng và đoạn trường. Ngày hôm đó trong Đền Thờ lời tiên đoán về thân phận hài nhi của ngôn sứ Simêon đã hóa thành lưỡi dao nhọn sắc cắt ruột người phụ nữ ra làm những đoạn nhỏ.

Đoạn trường này nối tiếp đoạn trường kia. Tin dữ kéo đến khi sứ thần hiện ra trong cơn mộng thúc dục cặp vợ chồng và hài nhi rời bỏ quê hương lánh nạn bên Ai Cập, bởi vua Hêrôđê chuẩn bị lùng kiếm sát hại hài nhi. Như cuồng phong bão tố, tin dữ đùng đùng kéo tới, tương tự như Nguyễn Du đã từng diễn tả trong Đoạn Trường Tân Thanh,

Đùng đùng gió giục mây vần,

Một xe trong cõi hồng trần như bay.


Bởi đùng đùng gió giục mây vần của trời cao, cho nên theo như thánh sử Mátthêu, ngay trong đêm đó, thánh Giuse và Đức Mẹ vội vã lên đường. Lần này không phải là từ phương Bắc Galilê bương chải xuống phương Nam Giuđê nữa. Trong lần viễn du bởi lệnh kiểm tra dân số vừa qua, dù là Bắc hay Nam, dù là dân của cả hai thành phố nói tiếng khác giọng, Nazaret và Bếtlêhem vẫn thuộc về vùng đất quê hương Do Thái. Nơi đó là dân tộc. Vùng đó là đất mẹ. Nhưng lần này, cả hai rời bỏ đất hứa viễn chinh tới cõi hồng trần, miền đất xa lạ của khác chủng tộc. Ai Cập không phải văn hóa thân thuộc, thức ăn thân quen, hàng xóm thân thương, nhưng là xa lạ của nền văn hóa bất thân thiện với nền văn hóa Do Thái do những hiềm thù bất hòa của quá khứ. Trên vùng đất kim tự tháp, khi người phụ nữ mở miệng dậy con hai chữ Shalôm (Bình An), rất có thể những người hàng xóm mới ôm bụng cười khinh bỉ âm thanh ngược ngạo đối chọi với thanh âm Ai Cập. Khi Maria loay hoay nấu nướng cho bữa ăn trưa giờ cơm tối, có thể hàng xóm nhăn mặt khó chịu với mùi vị thức ăn khác lạ khẩu vị vùng đất sông Nile. Trăm ngàn nhọc nhằn kiếp sống lang thang đất khách quê người mà người Kitô hữu Việt Nam trên những vùng đất mới không xa lạ chi. Ai sẽ là người chia xẻ những nhọc nhằn và phiền muộn cho một khoảng tâm hồn trống vắng, lạc loài, và lang thang trên đất khách của cô thôn nữ?

Thời gian tiếp tục trôi qua, hài nhi Giêsu vươn vai biến thành thiếu nhi mười hai tuổi. Và tự nhiên Ngài biến mất trong đền thờ sau một lần hành hương về thánh đô. Trên con đường thiên lý quay về lại phương Bắc Galilê, Mẹ cất giọng hỏi những người họ hàng và những người thân quen, “Giêsu đâu rồi?” Nhưng ai có thể trả lời câu hỏi cho người thiếu phụ mất con? Người ta nhìn quanh tìm kiếm trong đoàn lữ hành. Bóng dáng thiếu niên Giêsu vẫn là biệt tăm. Họ hàng hỏi thân quen. Thân quen hỏi xa lạ. Xa lạ cất giọng hỏi họ hàng. Họ hàng quay lại hỏi Maria. Maria tiếp tục hốt hoảng dõi mắt nhìn vào đoàn người hành hương. Cuối cùng, người thiếu phụ mất con quyết định quay ngược lại ngôi Đền Thờ. Sau ba ngày vất vả, cô thấy người con đang ngồi giữa sân Đền lắng nghe và đặt câu hỏi với các tôn sư. Phiền muộn, người mẹ cất tiếng,

- Tại sao con lại đối xử với bố mẹ như vậy? Con có thấy không bố mẹ đã phải cất công đi tìm kiếm con.

Giữa nơi thanh thiên bạch nhật, người con nói với người mẹ,

- Tại sao bố mẹ đi kiếm con làm chi? Bộ bố mẹ không biết con có phải có mặt ở trong nhà cha con hay sao? (Luca 2:41-52).

Theo như thánh sử Luca, Mẹ Maria và thánh Giuse không hiểu lời người con (Luca 2:50). Vào giờ phút và trong tình cảnh đó, mấy người có khả năng thấu hiểu được câu trả lời lạ lùng như thế giữa nơi thị mục quan chiêm?

Trong tiệc cưới Cana, thật là bất ngờ, ngoài tình huống dự liệu, rượu nồng tiệc cưới bắt đầu cạn ly. Trong men rượu ngà ngà, chưa ai nhận ra tình trạng chết kẹt của tân lang và tân nương. Trước khi người quản tiệc kịp thời nhận ra rượu cưới đang dần dần tan biến vào trong thinh không, Maria tiến lại nói với con của mình,

- Nhà người ta hết rượu rồi.

Và Đức Giêsu trả lời,

- Thưa bà, chuyện đó có liên quan gì đến con. Giờ con chưa đến (Gioan 2:3-4).

Maria nghĩ chi vào giờ phút đó? Không ai biết. Nhưng một lần nữa, bởi xin vâng, xin được tiếp tục tin tưởng vào bàn tay quan phòng Thiên Chúa, Mẹ dặn dò những người giúp việc trong nhà làm theo lời Đức Giêsu dặn bảo. Thế là rượu ngập tràn tiệc cưới. Rượu thơm nồng nàn áo chú rể. Rượu tô phấn hồng má cô dâu. Người ta ngập với rượu. Người ta say trong rượu. Rượu lênh láng mặt bàn. Rượu đỏ hồng khuôn mặt. Rượu thơm nồng tiệc cưới. Rượu rạng rỡ đôi môi. Khắp nơi là rượu. Mọi nơi là rượu.

Trong thời gian giảng dậy Tin Mừng nước trời, có lần người ta đến nói với Đức Giêsu,

- Thưa Thầy, có mẹ và anh chị em của Thầy ở ngoài kia tìm kiếm Thầy.

Đức Giêsu đáp lại,

- Ai là mẹ ta? Ai là anh chị em ta?

Đưa mắt nhìn đám đông, Ngài nói,

- Đây là mẹ ta, đây là anh chị em ta. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em ta, là mẹ ta (Máccô 3:31-35).

Maria sẽ nghĩ chi khi người ta nói lại với Mẹ giữa thanh thiên bạch nhật và trước mặt bao nhiêu người, Đức Giêsu nói, “Ai là mẹ ta? Ai là anh chị em ta?”

Dòng thời gian tiếp tục trôi qua cho tới một buổi chiều mùa xuân. Lúc đó, Mẹ xuất hiện dưới chân cây thập giá bằng gỗ. Lúc đó mùa xuân, nhưng đêm đen bóng tối trên ngọn đồi phủ ngập tâm hồn và thể xác người mẹ. Thân xác đẫm máu đang bị treo trên cây gỗ hình chữ thập đó đã từng được Mẹ giơ tay ẵm bồng. Người đang nhắm mặt lại chết đi đã từng làm Mẹ mất ngủ, trắng đêm chong đèn băn khoăn bởi những cơn nóng sốt. Thể xác xanh lét nát tan treo trên hai cây gỗ hình chữ thập đã từng được Mẹ u ơ bú mớm trong lòng. Nhưng giờ này còn chi nữa không để Mẹ nói? Giờ này đứng dưới cây thánh giá, Ðức Mẹ không còn chi nữa để mà nói ngoài nỗi đoạn trường tiếp tục dầy xéo tâm can.

Maria người thiếu nữ của xin vâng và đoạn trường xuất hiện thêm ba lần nữa trong Tân Ước. Theo như tác giả Luca, vào ngày lễ Ngũ Tuần, Ðức Mẹ hiện diện trong căn phòng bên cạnh các tín hữu Kitô khi Chúa Thánh Thần hiện ra trong hình lưỡi lửa. Thánh Phaolô trong lá thư gửi tới tín hữu thành Galatia cũng nhắc đến người thân mẫu người đã hạ sinh ra Đức Kitô (Gal 4:4). Trong sách Khải Huyền, người thôn nữ xuất hiện thêm một lần nữa qua hình ảnh người phụ nữ mang thai, khoác áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao (Khải Huyền 12:1-6).

II. Maria, Đầy Ơn Phúc

Theo như Giáo hội thời tiên khởi, theo lời trăn trối của thầy mình, thánh Gioan tông đồ đã mang Mẹ về nhà phụng dưỡng. Theo chứng từ của Đức Giám Mục Juvenal và thánh Gioan Damascus, Giáo Hội thời tiên khởi tin rằng trong khi Mẹ mất đi, thánh Tôma vắng mặt. Các tông đồ chôn cất Mẹ trong mồ. Nhưng Tôma vẫn là Tôma của muôn thuở. Một lần nữa, người tông đồ đòi phải được nhìn thấy tận mắt xác Mẹ. Cửa mộ mở ra, ngạc nhiên thay người ta chỉ khám phá ra ngôi mộ trống. Xác Mẹ biến mất. Vào năm 431, Công Đồng Ephesus tôn vinh Ðức Mẹ với danh xưng Theotókos, Mẹ Thiên Chúa. Vào ngày 1 tháng Mười Một năm 1950, Đức Giáo Hoàng Piô XII tuyên xưng tín điều Đức Mẹ Mông Triệu xác thực Maria đã được Thiên Chúa mang cả hồn và xác lên Thiên Ðàng. Tín điều Đức Mẹ Mông Triệu được Công Đồng Vatican II long trọng tái xác nhận trong văn kiện Dogmatic Constitution Lumen Gentium (n. 59).

Chúng ta sẽ không hiểu nỗi đoạn trường của Ðức Mẹ nếu không tự đặt chúng ta vào vị thế của người thiếu nữ. Cuộc đời người thôn nữ đã nhuộm mầu xám đen đoạn trường sau lời nói xin vâng. Đại văn hào Nguyễn Du đã từng nói, “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Nếu không bước lên những dấu chân đoạn trường năm xưa, chúng ta sẽ không thấy và cũng rất khó để mà cảm nghiệm với lời nói xin vâng và đời sống đoạn trường. Xin vâng báo trước chuỗi dài bơ vơ một mình trong bóng tối của tử vong, hiểu lầm, mất mát, tìm kiếm, đau khổ, lặng yên, và đoạn trường. Nhưng bởi phó thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, Mẹ vẫn bước tới, bước đi trong đêm đen, bước đi trong đoạn trường. Và bởi hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, cuộc đời người thôn nữ thay đổi. Từ tầm thường, bình dân, vô danh, người con gái năm xưa đã trở thành Nữ Vương Thiên Ðàng, Mẹ Thiên Chúa, và Mẹ của mọi người Kitô hữu, đặc biệt người Kitô hữu của vương quốc Văn Lang.

www.nguyentrungtay.com