LỜI HỨA
Tác phẩm của Đức Hồng Y Lustiger, Tổng Giám Mục Paris, nhan đề "Lời Hứa" ( La Promesse, nhà xuất bản Parole et Silence ), đang gây sôi nổi ở Pháp. Sôi nổi vì cách đặt vấn đề, và cách đặt vấn đề lại thêm sức nặng vì bản thân tác giả.
Trong Giáo Hội Công Giáo ngày nay, Jean-Marie Lustiger có nét cá biệt: ngài là vị Hồng Y Tổng Giám Mục gốc Do-thái. Thật ra thì lúc ban đầu đạo Do-thái chưa ảnh hưởng lên ngài nhiều. Gia đình Lustiger phát xuất từ Ba-lan di cư sang Pháp chịu ảnh hưởng của khuynh hướng Yiddish, chủ trương một đạo Do-thái dựa trên ngôn ngữ và văn hóa hơn là trên tôn giáo. 14 tuổi, Aron ( sau này chịu Phép Rửa mới đổi tên gọi thành Jean-Marie ) bỗng có lòng tin vào Chúa Ki-tô vào một ngày Thứ Sáu Tuần Thánh trong Nhà Thờ Chính Tòa Orleans. Ngày 25 tháng 8 năm ấy, Aron cùng với người chị ( hay em ? ) ruột chịu Phép Rửa và nhận tên thánh Jean-Marie, cha mẹ có đến dự và ưng thuận, vì bạn bè thuyết phục rằng theo đạo Ki-tô sẽ bảo đảm an toàn, vào lúc mà chính sách diệt Do-thái của Hitler đang bùng lên đe dọa toàn lục địa Âu Châu.
Tất nhiên, đó là suy nghĩ của cha mẹ, còn Jean-Marie thì theo đạo hoàn toàn vì xác tín. Người Do-thái hơn ai khác, đến với đạo Ki-tô thường phải trăn trở và dằn vặt không cùng, có nhiều người cảm thấy như đó là phản bội cả gia đình, dân tộc. Trong thế kỷ 20, ta có thể nghĩ đến những người như Thánh Nữ Edith Stein, những trí thức như Henri Bergson, hay Simone Weil... Đức Hồng Y Lustiger rất kín tiếng về trường hợp cá nhân của mình. Có lẽ nhiệt tình của tuổi 14 giúp ngài vượt trở ngại chăng ? Nhưng dù thế nào, chắc chắn một tâm hồn có chiều sâu và sắc sảo như ngài không thể thoát được một cuộc tâm chiến gay go, đòi hỏi chí khí kiên cường.
Gia đình Lustiger đã trả giá đau đớn vì thân phận Do-thái của mình. Bà Lustiger bị đầy đi trại tập trung Auschwitz và không về nữa... Năm 1951, Jean-Marie học Triết ở Đại Học Sorbonne, tư tưởng thiên tả nhưng mang trong lòng cảm nghiệm sâu xa về mầu nhiệm Đức Tin và những con đường lạ lùng của Thiên Chúa. Chính Đức Tin này thúc giục Jean Marie lần đầu tiên đi hành hương Giê-ru-sa-lem. Bắt đầu từ đấy, anh luôn suy nghĩ và chiêm niệm về tương quan của Chúa Ki-tô với Israel.
Năm 1954, Jean-Marie gia nhập hàng Giáo Sĩ và cứ thẳng tiến trên con đường Ơn Gọi, và ngày nay là Tổng Giám Mục Paris. Thẳng tiến không có nghĩa là mọi sự đều suông sẻ. Một người Do-thái nổi nang đến thế trong Giáo Hội Công Giáo chắc chắn sẽ là bia cho bên này lẫn bên kia nhằm bắn. Vẫn có những thư nặc danh, sặc mùi Bài Do-thái, gửi đến thóa mạ Đức Cha Lustiger. Về phía Do-thái, phản ứng đối với Đức Cha cũng nhiều khi tàn nhẫn; ví dụ như Đại Giáo Trưởng Ysrael Meir Lau, năm 1995, còn coi Đức Cha Lustiger như tiêu biểu cho "con đường tận diệt tâm linh, cũng như sự tận diệt thể xác, đều đưa đến chấm dứt" Israel.
Mâu thuẫn đáng lẽ không nên có, nhưng lại trở nên ác liệt giữa Chúa Giê-su và cộng đồng Do-thái thời Ngài, cứ còn đó mãi trong suốt lịch sử và không ai cảm thấy nỗi đau vò xé ấy trong bản thân mình cho bằng những người Do-thái đã tin Chúa Ki-tô và gia nhập Giáo Hội của Ngài. Đức Cha Lustiger nói: "Hồi tưởng lại quá khứ, ấn tượng của tôi chủ yếu là về một sự liên tục giữa cái gọi là Cựu Ước và Tân Ước. Tôi đã đọc cả Cựu Ước lẫn Tân Ước liền một mạch. Từ khi ấy, Lời Tân Ước đã đi vào ý thức Do-thái của tôi. Tôi biết chắc rằng sự đồng hóa Đức Ki-tô đau khổ với Israel đọa đày là một trực giác quấn quít lấy tôi" ( Le Choix de Dieu, de Fallois, 1985 ).
Nghĩ lại những đau khổ chồng chất, những oan nghiệt không thể bù đắp mà dân tộc Do-thái đã chịu suốt hai ngàn năm qua, cho đến cuộc thảm sát diệt chủng hồi Thế Chiến thứ hai, thì quả thật, "sự đồng hóa Đức Ki-tô đau khổ với Israel đọa đày" là một thị kiến vô cùng ấn tượng. Huống chi người nói ra điều này lại mang đậm trong mình dòng máu Do-thái...
Từ đó, Đức Cha Lustiger nhìn lại lịch sử Ki-tô giáo, trong đó nổi lên những vết đen khủng khiếp là sự ngược đãi và thảm sát người Do-thái. Đúng là đã có nhiều đấng bậc trong Giáo Hội đứng ra bênh vực họ, đặc biệt là các Đức Giáo Hoàng, nhưng làm sao phủ nhận được những ngược đãi và thảm sát đó từ thời Trung Cổ ở Tây Âu, và cho đến những thế kỷ gần đây ở Đông Âu, đều đã xảy ra ở những vùng toàn tòng Ki-tô giáo ? Trước khi có đại nạn "shoah" thời Đức Quốc Xã, thì đã có những ghettos, những Pogrom từ rất lâu trước khi Quốc Xã xuất hiện !
Năm 1998, Tòa Thánh công bố văn kiện: "Suy Nghĩ về Đại Nạn Shoah", khẳng định rằng: "Đại Nạn Shoah là việc làm của một chế độ vô đạo mới. Chủ trương Bài Do-thái của nó có gốc rễ từ bên ngoài thế giới Ki-tô giáo". Vâng, chế độ của Hitler đúng là vô đạo và ngoại đạo. Nhưng còn bao nhiêu thế kỷ trước thì sao ? Chắc hẳn cũng có để lại một cái gì để cho Hitler và đồng bọn dùng làm chất đốt thiêu dân tộc Do-thái chứ ?
Tới đây, Đức Cha Lustiger nói những lời rất mạnh: "Sự thảm sát và đày đọa Israel do những kẻ ngoại đạo - và phải đi xa hơn nữa để nói rằng: do những Ki-tô hữu ngoại đạo - chính là cái trắc nghiệm cho thấy rằng họ là những kẻ láo khoét, chỉ giả bộ tôn thờ Đức Ki-tô đó thôi... Khi nói đến Israel và Chúa Ki-tô, người ta đã dám nói đến tội giết Thiên Chúa, thế thì phải nói đến tội giết Thiên Chúa của những dân tộc gọi là Ki-tô hữu ở Phương Tây khi họ dành cho dân Do-thái những số kiếp như thế. Bởi vì, trong trường hợp này, cái gì đã áp dụng cho một bên thì cũng áp dụng cho bên kia: một bên từ chối Đức Ki-tô như chính Ngài tự hiến, một bên thù ghét Ơn Tuyển Chọn như Thiên Chúa đã hiến tặng". Nói cho ngay, vấn đề này ngày nay không phải Giáo Hội không biết, nhưng chẳng có ai lớn tiếng và nói mạnh bằng vị Tổng Giám Mục Paris, mà lại nói cho hết cả quá khứ lịch sử.
Rồi đến những khẳng định trọng yếu: "Chúng ta phải tin - bởi nếu không thế thì Thiên Chúa sẽ tỏ ra tiền hậu bất nhất với Lời Hứa của Ngài - rằng tất cả sự đau khổ của Israel bị kẻ ngoại đạo đọa đày bách hại vì lý do Israel được tuyển chọn, chính là một phần trong sự đau khổ của Đức Mê-si-a ( Ki-tô )... Thần Học Ki-tô giáo mà lại không ghi nhận trong thị kiến Cứu Chuộc, trong mầu nhiệm Thập Giá rằng Auschwitz cũng là một thành phần sự đau khổ của Đức Ki-tô thì thật là phi lý". Cho nên tác giả nhấn mạnh vào nguồn gốc Do-thái của Đạo Ki-tô: "Người ta chỉ nhận được Thần Khí của Đức Ki-tô với một điều kiện tất yếu là phải chia sẻ niềm hy vọng của Israel và đạt được niềm hy vọng ấy".
Đối với người Do-thái, tác giả quả quyết: "Đức Giê-su đích thị là Đấng mà nơi Người, lời đã hứa cho Israel thành tựu". Nghĩa là quan hệ giữa Israel và Chúa Giê-su là quan hệ của gốc với ngọn. Phủ nhận Israel hay phủ nhận Chúa Giê-su cũng là mất cả gốc lẫn ngọn. Cũng may gốc còn ngọn còn thì có đi lang thang ở đâu vẫn có thể quay về leo cây hái trái.
Quan điểm của Đức Hồng Y Lustiger đẹp thật, nhưng cũng gây tranh cãi về phía Do-thái lẫn Ki-tô giáo. Dĩ nhiên bên phía Do-thái vấn đề là không nhận Đức Giê-su như Đấng thực hiện nơi mình mọi lời hứa. Một phần khá lớn Do-thái giáo ngày nay có vẻ như muốn khoanh vùng niềm hy vọng của mình trong thế giới hiện thực này, chứ không muốn đi vào một cõi "mầu nhiệm". Hơn nữa, những nỗi đau lịch sử còn nhức buốt quá, một Ki-tô hữu đưa Chúa Ki-tô ra làm giải đáp cho lịch sử bi đát của Do-thái, có vẻ như là một cung cách "đế quốc chủ nghĩa" muốn áp đặt niềm tin của mình. Đã có vài tiếng nói gay gắt theo hướng này.
Phía Ki-tô giáo, người ta tự hỏi liệu Đức Hồng Y trong sự tha thiết chính đáng của ngài, có lẽ đôi khi đã có những luận điệu dị nghĩa chăng ? Giữa Cựu Ước và Tân Ước có sự liên tục mà cũng có đoạn tục và biến đổi, có sự hoàn tất lề luật mà cũng có sự giải phóng khỏi lề luật; có Israel mà cũng có cái vượt ra khỏi Israel. Vậy thì đạo Ki-tô và Giáo Hội lệ thuộc Israel đến đâu ? Và không lệ thuộc từ đâu ? v.v...
Thậm chí khi Đức Hồng Y trong tầm nhìn bao quát của mình có vẻ biện minh cho Nhà Nước Israel hiện tại, thì có dị nghĩa không ? Có lẫn lộn thần học với chính trị không ? Đức Hồng Y đã đặt một vấn đề cơ bản. Từng luận chứng một lý giải thế nào cho xác đáng, thì chắc trao đổi còn nhiều. Có điều nhất định phải đồng ý với Đức Hồng Y thôi, ấy là Auschwitz ( và bao hoàn cảnh bi đát khác ) chắc chắn phải ở trong mầu nhiệm Đức Ki-tô đau khổ.
Một điểm nữa nên lưu ý là việc xuất bản cuốn sách của Đức Hồng Y hòa nhập vào trong nhiều động thái của Giáo Hội từ mấy chục năm nay. Không cần phải nhắc lại rằng từ thời Đức Quốc Xa, Đức Giáo Hoàng Pi-ô 11 đã la lớn: " Tất cả chúng ta đều là dân Sem " ( tức là Do-thái ). Chỉ tính từ Công Đồng tới giờ: Vatican 2 đã tuyên bố tội giết Thiên Chúa không phải là tội chung của một dân tộc. Đức Gio-an Phao-lô 2 chính thức viếng thăm Hội Đường Do-thái ở Roma năm 1986; năm 1997 Giáo Hội Pháp, xưng thú sám hối về cách đối xử với người Do-thái trong quá khứ, lời sám hối chung của Giáo Hội trong Năm Thánh 2000...
Đức Gio-an Phao-lô 2 hành hương Thánh Địa, bước từng bước nặng nề để đặt tay trên tường Đền thờ cổ ở Giê-ru-sa-lem sở dĩ là những biến cố lớn, chính vì đó không phải chỉ là một vài giây phút ngoạn mục, nhưng vì những lời nói, những bước chân ấy làm lay động cả mấy ngàn năm, từ ngày Chúa chịu chết, và từ ngày Phao-lô nói với người Do-thái rằng: "Quý vị không nghe, thì chúng tôi đi sang Dân Ngoại". Cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 hình như có đặc ân là khuấy động những vấn đề lớn bằng cả lịch sử Ki-tô giáo.
Sau hết, các nhà phê bình đều nhìn nhận văn Đức Hồng Y Lustiger rất hay. Có thể bầu ngài vào Hàn Lâm Viện Pháp quốc được.
12.1.2003
Trích Ephata 95