CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN C
CHIÊM NIỆM HAY HOẠT ĐỘNG?
(Lc 10, 38-42)
Thưa quí vị,
Chúa Giêsu và các tông đồ tiếp tục đi lên Giêrusalem. Dọc đường, các ngài gặp nhiều nhóm người khác nhau: Đám đông dân chúng vì tò mò hoặc vì nhu cầu cấp thiết như khỏi bệnh, tìm kiếm sự sống đời đời… Nhóm Pharisêu, thượng tế, luật sĩ tranh luận về giáo lý rồi dần dần đối kháng, hận thù; nhóm phong cùi, hành khất; nhóm môn đệ theo Ngài nhưng bối rối về cuộc khổ nạn sắp tới. Chúa nhật tuần trước, chúng ta nghe kể chuyện thầy luật sĩ thắc mắc về thân cận của mình. Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn người Samaritanô nhân lành. Tuần này, hai chị em Mátta và Maria. Chủ ý của phụng vụ là nêu câu hỏi: Liệu ai là kẻ lắng nghe Lời Chúa để được cứu rỗi: Maria hay Mátta, Pharisêu hay các môn đệ? Còn chúng ta, thuộc về hạng người nào?
Truyện hai chị em Mátta và Maria chỉ có trong Phúc Âm Luca. Vậy đây là đặc điểm của ông và người ta chờ đợi trong đó nội dung quan trọng hoặc hòan cảnh gương tốt, việc tốt để noi theo. Thí dụ, chúng ta được học về hai mẫu người: phục vụ và lắng nghe Lời Chúa Giêsu nói, nói cách khác, hành động và cầu nguyện. Tác giả Philip Toynbee đưa ra nhận xét: ngày nay trong thế giới Công giáo, cứ 100 cô Mátta mới có một cô Maria. Vậy, câu chuyện chị em Mátta và Maria phải chăng là một lời cảnh tỉnh? Nhất là những linh hồn ưa chăm chỉ việc xác, nhếch nhác việc hồn. Câu chuyện người Samaritanô nhân hậu tóm lược lý tưởng bác ái Kitô giáo. Câu chuyện hai chị em Mátta trình bày cách sống ấy, tức thân tình với Thiên Chúa trước khi với tha nhân. Cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa đến trước việc họat động bên ngòai. Thực tế các họat động bên ngòai đối với người môn đệ đích thực là hiệu quả của cuộc sống nội tâm. Làm ngược lại là mắc mưu ma quỉ, kẻ luôn chủ trương phân tán linh hồn bằng những họat động vô bổ, rỗng tuếch. Liệu Lời Chúa dạy hôm nay có đựơc chúng ta lắng nghe? Liệu lời cầu nguyện kiểu Maria có giúp đỡ chúng ta đừng tránh sang bên kia đường mà đi? Như vậy, câu chuyện người Samaritanô và câu chuyện hai chị em cô Mátta liên kết chặt chẽ với nhau trong giáo lý của Phúc Âm. Chúng chỉ có một nội dung: “First things first” (điều quan trọng ưu tiên hơn cái không quan trọng).
Thật vui thích cho Chúa biết bao khi được Mátta phục vụ chu đáo! (trong Phúc Am Luca, Mátta chỉ xuất hiện lần duy nhất này). Nhưng Chúa Giêsu lại hài lòng hơn khi Maria chỉ ngồi dưới chân mà nghe Lời Ngài giảng. Phong tục thời ấy, ngồi dưới chân ai được coi là môn sinh của người đó. Như vậy chứng tỏ Maria coi Chúa là Thầy, là ngôn sứ rao giảng Lời Thiên Chúa. Ngược lại, Phúc Am mô tả Mátta: “tất bật lo việc phục vụ”. Cô tỏ ra mình là bà chủ, lăng xăng việc tiếp đón. Rõ ràng một bên là môn đệ, một bên là chủ nhân đối với vị khách quí và thân tình. Thái độ của Mátta “tất bật” cho người ta cảm nghĩ Chúa Giêsu đã tới gần thành thánh, cô lo nhiều chuyện quá nên cảm thấy mình bị bỏ rơi! Tác giả Timothy Johnson giải thích thái độ của hai chị em như sau: từ “tất bật” trong ngôn ngữ gốc có nghĩa là “bồn chồn”, tức vướng mắc vào cuộc sống thế tục quá đáng, náo động nếp sống phẳng lặng hàng ngày, cho nên Chúa Giêsu khuyên chỉ cần một điều mà thôi. Nhiều người giải nghĩa điều cần là đĩa thức ăn hoặc chút ít cũng được. Johnson lại cho điều cần là lòng hiếu khách: chú ý đến sự hiện diện của khách là quan trọng, các thứ khác tuỳ tùng. Nếu vậy thì lựa chọn của Maria là chính xác, còn Mátta thì trệch đường. Maria chú ý vào đấng tiên tri trong nhà mình, tức sự tiếp đãi khách tốt hơn cả. Ngoài ra, cô còn “lắng nghe” lời khách nói. Vị khách nói toàn Lời Thiên Chúa. Phải chăng đó là điều cần thiết?
Dầu thế nào đi nữa, chúng ta ngày nay cũng phải tự hỏi: “Tôi đã tiếp đãi Chúa Giêsu ra sao? Liệu tôi mở lòng ra để đón nhận Ngài hay lăng xăng nhiều chuyện khác?” Cuộc sống hàng ngày cho chúng ta nhiều cơ hội gặp “khách”, đủ mọi loại, đủ mọi thứ. Liệu chúng ta lắng nghe họ hay chỉ biết huyên thuyên sự “thông thái” của mình? Bịt tai trước ý kiến khác: “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Biết đâu vị khách đó lại từ thiên giới đem bình an và ơn cứu rỗi cho nhân loại! Biết đâu là bất cứ cá nhân nào mà sự hiện diện của họ phá tan những thành kiến, những sai lầm cố hữu của não trạng kiêu căng nơi chúng ta? Hàng ngàn, hàng vạn “khả năng” khác hữu ích cho cuộc sống tẻ nhạt này? Chẳng ai nói trước được? Cho nên thái độ kiêu căng là vô lý. Nhưng xưa nay chúng ta lại thường mắc phải.
Vậy, đúng đắn nhất là đức tin, kính trọng, cậy nhờ vào Thần khí của Chúa Giêsu cư ngụ trong mỗi linh hồn. Chú ý vào những điều chúng ta nghe được, xem thấy và suy tư về chúng. Giống như Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu, nghe Lời Người dạy bảo, bỏ dần độc tài, võ đoán, hoặc chỉ nghe tiếng nói quen thuộc của “phe ta”, cộng đoàn ta. Cái gì cũng hay nhất, đúng nhất. Nhiều khi trên thực tế, chỉ là lố bịch. Biết đâu những điều chúng ta nghe thấy, kinh nghiệm được lại là những kho báu cho cuộc sống riêng ta và cộng đoàn? Biết đâu mình đang tiếp rước, “chuyện trò” với một ngôn sứ Thiên Chúa gởi đến vì lợi ích chúng ta? Vậy trước khi bịt tai, đóng cửa, rút cầu thì hãy mở trái tim ra cho những mới lạ và thực hành lòng hiếu khách đối với tha nhân, người khác chính kiến với mình, với tu viện mình, với phe nhóm mình, và ngay cả tôn giáo mình. Lịch sử đã chứng minh, hàng ngàn hàng vạn lần người ta đã bỏ lỡ cơ hội tốt để canh tân, thăng tiến chỉ vì thái độ đóng cửa, rút cầu để rồi sau này, hối hận cũng vô ích.
Thiên Chúa kêu gọi chúng ta yêu mến và phục vụ Ngài, yêu mến và phục vụ tha nhân. Nhưng yêu mến phải là ưu tiên. Yêu mến Thiên Chúa và tha nhân được diễn tả cách cụ thể bằng lời cầu nguyện. Cầu nguyện là dâng hiến cho Ngài lòng hiếu thảo của mình. Chúa Giêsu dạy bảo chúng ta phải liên lỉ cầu nguyện, chứ không phải liên lỉ phục vụ. Chính vì thế mà Phúc Am mô tả Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Cha Ngài không ngừng, ngay cả trong giờ tử nạn. Thánh Thomas tiến sĩ đã đặt đời sống chiêm niệm lên trên đời sống hoạt động (xc Summa Theologica 2a2ae 179). Chẳng lẽ, chân lý đó sai? Hay não trạng ngày nay không còn chấp nhận, cho là cổ hủ, chậm tiến?
Cuộc đời, nhất là của các tu sĩ, linh mục, không có tình yêu thì quả trống rỗng, thê lương buồn thảm, thậm chí tự sát. Nhưng tình yêu trước hết là thi hành kết hiệp với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện. Vì vậy, Chúa Giêsu tuyên bố: “Hỡi những ai khó nhọc và gánh vác nặng nề, hãy đến cùng Ta. Hãy mang lấy ách của Ta, vì Ta khiêm nhường và dịu dàng trong lòng, bởi vì ách của Ta thì êm ái, gánh của Ta thì nhẹ nhàng”. Chẳng có ách nào, gánh nào lại nhẹ nhàng, êm ái, nếu không phải là ách của tình yêu. Cho nên, ý nghĩa của bài Phúc Am hôm nay thật sâu sắc và thấm thía: người ta phải yếu mến và phục vụ trong đường lối cân bằng. Đừng lấy cớ phục vụ để trốn tránh cầu nguyện, và cũng đừng vì cầu nguyện mà sao lãng phục vụ.
Bài đọc thứ hai, trích thư Côlôsê, chỉ rõ tính cân bằng ấy: “Thưa anh em, giờ đây, tôi vui mừng vì được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội thánh”. Những lời nói thật lạ lùng nếu chúng ta không nhìn theo hướng tình yêu mến Chúa Kitô. Đại ý, thánh nhân tuyên bố ngài phải kết hiệp với Đức Kitô trong đau khổ. Ngài mang lấy đau khổ của Chúa bằng những gian truân, khốn khó hiện tại. Vậy thì làm thế nào chúng ta kết hiệp với Chúa bằng nhung lụa, tiện nghi, vui chơi, ăn sung mặc sướng, nhà lầu xe hơi? Chẳng hoá ra xưa nay chúng ta chỉ là những tay lừa đảo? Rao giảng một đàng, ăn ở một nẻo, rồi đưa ra biện minh: Để phục vụ tốt hơn, hợp thời hơn. Đọc kỹ bài đọc hai, thánh Phaolô không hề nói như vậy: “Đó là tôi phải rao giảng Lời của Người cho trọn vẹn”. Tức rao giảng cả bằng đời sống khổ đau để bày tỏ mầu nhiệm Nước Trời cho thiên hạ. Thánh nhân nhắc nhớ các tín hữu rằng, chúng ta phải kinh nghiệm những khổ đau mà Đức Kitô đã phải chịu trước khi Ngài Phục sinh. Chúng ta nên chịu đựng hy sinh hãm mình vì lợi ích của Hội thánh, vì công cuộc truyền giáo, rao giảng Tin mừng cho dân ngoại. Thánh Phaolô viết rõ: “Vì lợi ích cho thân thể Người”. Tại sao vậy? Cũng thánh nhân trả lời: Ngõ hầu việc rao giảng Lời Chúa được trọn vẹn. Không chi rõ ràng hơn!
Như vậy, chúng ta tự nguyện hy sinh hãm mình, hoặc bất cứ đau khổ, bách hại cỡ nào, đều trở nên việc công bố Tin Mừng bằng đời sống. Do đó, thánh nhân cảm nghiệm vui mừng khi chịu đau đớn. Hơn nữa, thánh Phaolô còn thêm: “Rao giảng mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời đại và qua bao thế hệ”. Nhưng nay đang được tỏ bày qua đời sống của những con cái “thánh thiện” Giáo hội. Nghĩa là qua đời sống hy sinh, đau khổ, nhọc nhằn, khó khăn, vất vả, thiết thốn, các môn đệ mạc khải chính Chúa Kitô. Thánh Phaolô “vui mừng” trong gian nan vì ông thâm tín rằng mình đang phục vụ Đức Kitô trong thân thể Ngài là Hội thánh. Chúng ta cũng phải biết mình làm được như thánh nhân qua những khốn khó bản thân. Nếu không, chẳng có chi làm bằng chứng. Danh từ “impostor” (hàng nhái) ngày nay xuất hiện rất nhiều trong thương mại, chẳng lẽ không có trong các môn đệ rao giảng của Giáo hội? Đặt câu hỏi tức là trả lời rồi. Bởi lẽ, quyền lực ma quỉ vẫn còn đang đè nặng nhân loại, kể cả những linh hồn khao khát thánh thiện. Nếu không tỉnh thức, khắc bị lừa dối dễ dàng, với lý lẽ thật hợp pháp thí dụ: sức khoẻ tinh thần thể xác, truyền giáo hữu hiệu. Nhưng những môn đệ của Chúa Giêsu luôn có khí giới “ánh sáng” cầm sẵn trong tay, tức tinh thần tỉnh thức, ăn chay, cầu nguyện, thi hành bái ái của Đức Kitô. Vậy mà còn phải vất vả lắm mới đứng vững trong đường lối trung thành với ơn Chúa kêu gọi. Làm thế nào Triều đại Đức Kitô được công bố cho toàn thế giới? Chỉ có thể do các môn đệ được Thần khí của Ngài dẫn dắt, ban quyền năng và sự sống.
Bởi lẽ: “Lời Ngài là ngọn đèn soi cho con tiến bước, là ánh sáng dẫn đường con đi”. Chúng ta thường đọc đi đọc lại lời ấy, nhưng có lẽ không hiểu thấu ý nghĩa, vì không đem Lời Chúa ra thực hành. Chỉ khi nào thực hành, mới có thể nắm bắt được được ý nghĩa, vì lúc ấy Lời Chúa mới thấm nhập xương cốt. Giống như thời thánh Phaolô, làm tín hữu lúc này không phải dễ, nhất là trong hoàn cảnh đảo điên hiện nay, với bao nhiêu tiếng nói trái ngược nhau. Người này bảo thế này mới là tinh thần Đức Kitô, kẻ khác nói: không phải, thế kia mới chính xác Phúc Âm. Nhưng môn đệ của Chúa chỉ có một tinh thần, một người hướng dẫn: “Anh em không biết rằng Đức Kitô chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới được vinh hiển sao?” (Ga 16,26). Nguyện xin Thiên Chúa soi sáng chúng ta lượng định đúng đâu là công việc Mátta, đâu là công việc của Maria trong cuộc sống hàng ngày. Amen.
CHIÊM NIỆM HAY HOẠT ĐỘNG?
(Lc 10, 38-42)
Thưa quí vị,
Chúa Giêsu và các tông đồ tiếp tục đi lên Giêrusalem. Dọc đường, các ngài gặp nhiều nhóm người khác nhau: Đám đông dân chúng vì tò mò hoặc vì nhu cầu cấp thiết như khỏi bệnh, tìm kiếm sự sống đời đời… Nhóm Pharisêu, thượng tế, luật sĩ tranh luận về giáo lý rồi dần dần đối kháng, hận thù; nhóm phong cùi, hành khất; nhóm môn đệ theo Ngài nhưng bối rối về cuộc khổ nạn sắp tới. Chúa nhật tuần trước, chúng ta nghe kể chuyện thầy luật sĩ thắc mắc về thân cận của mình. Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn người Samaritanô nhân lành. Tuần này, hai chị em Mátta và Maria. Chủ ý của phụng vụ là nêu câu hỏi: Liệu ai là kẻ lắng nghe Lời Chúa để được cứu rỗi: Maria hay Mátta, Pharisêu hay các môn đệ? Còn chúng ta, thuộc về hạng người nào?
Truyện hai chị em Mátta và Maria chỉ có trong Phúc Âm Luca. Vậy đây là đặc điểm của ông và người ta chờ đợi trong đó nội dung quan trọng hoặc hòan cảnh gương tốt, việc tốt để noi theo. Thí dụ, chúng ta được học về hai mẫu người: phục vụ và lắng nghe Lời Chúa Giêsu nói, nói cách khác, hành động và cầu nguyện. Tác giả Philip Toynbee đưa ra nhận xét: ngày nay trong thế giới Công giáo, cứ 100 cô Mátta mới có một cô Maria. Vậy, câu chuyện chị em Mátta và Maria phải chăng là một lời cảnh tỉnh? Nhất là những linh hồn ưa chăm chỉ việc xác, nhếch nhác việc hồn. Câu chuyện người Samaritanô nhân hậu tóm lược lý tưởng bác ái Kitô giáo. Câu chuyện hai chị em Mátta trình bày cách sống ấy, tức thân tình với Thiên Chúa trước khi với tha nhân. Cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa đến trước việc họat động bên ngòai. Thực tế các họat động bên ngòai đối với người môn đệ đích thực là hiệu quả của cuộc sống nội tâm. Làm ngược lại là mắc mưu ma quỉ, kẻ luôn chủ trương phân tán linh hồn bằng những họat động vô bổ, rỗng tuếch. Liệu Lời Chúa dạy hôm nay có đựơc chúng ta lắng nghe? Liệu lời cầu nguyện kiểu Maria có giúp đỡ chúng ta đừng tránh sang bên kia đường mà đi? Như vậy, câu chuyện người Samaritanô và câu chuyện hai chị em cô Mátta liên kết chặt chẽ với nhau trong giáo lý của Phúc Âm. Chúng chỉ có một nội dung: “First things first” (điều quan trọng ưu tiên hơn cái không quan trọng).
Thật vui thích cho Chúa biết bao khi được Mátta phục vụ chu đáo! (trong Phúc Am Luca, Mátta chỉ xuất hiện lần duy nhất này). Nhưng Chúa Giêsu lại hài lòng hơn khi Maria chỉ ngồi dưới chân mà nghe Lời Ngài giảng. Phong tục thời ấy, ngồi dưới chân ai được coi là môn sinh của người đó. Như vậy chứng tỏ Maria coi Chúa là Thầy, là ngôn sứ rao giảng Lời Thiên Chúa. Ngược lại, Phúc Am mô tả Mátta: “tất bật lo việc phục vụ”. Cô tỏ ra mình là bà chủ, lăng xăng việc tiếp đón. Rõ ràng một bên là môn đệ, một bên là chủ nhân đối với vị khách quí và thân tình. Thái độ của Mátta “tất bật” cho người ta cảm nghĩ Chúa Giêsu đã tới gần thành thánh, cô lo nhiều chuyện quá nên cảm thấy mình bị bỏ rơi! Tác giả Timothy Johnson giải thích thái độ của hai chị em như sau: từ “tất bật” trong ngôn ngữ gốc có nghĩa là “bồn chồn”, tức vướng mắc vào cuộc sống thế tục quá đáng, náo động nếp sống phẳng lặng hàng ngày, cho nên Chúa Giêsu khuyên chỉ cần một điều mà thôi. Nhiều người giải nghĩa điều cần là đĩa thức ăn hoặc chút ít cũng được. Johnson lại cho điều cần là lòng hiếu khách: chú ý đến sự hiện diện của khách là quan trọng, các thứ khác tuỳ tùng. Nếu vậy thì lựa chọn của Maria là chính xác, còn Mátta thì trệch đường. Maria chú ý vào đấng tiên tri trong nhà mình, tức sự tiếp đãi khách tốt hơn cả. Ngoài ra, cô còn “lắng nghe” lời khách nói. Vị khách nói toàn Lời Thiên Chúa. Phải chăng đó là điều cần thiết?
Dầu thế nào đi nữa, chúng ta ngày nay cũng phải tự hỏi: “Tôi đã tiếp đãi Chúa Giêsu ra sao? Liệu tôi mở lòng ra để đón nhận Ngài hay lăng xăng nhiều chuyện khác?” Cuộc sống hàng ngày cho chúng ta nhiều cơ hội gặp “khách”, đủ mọi loại, đủ mọi thứ. Liệu chúng ta lắng nghe họ hay chỉ biết huyên thuyên sự “thông thái” của mình? Bịt tai trước ý kiến khác: “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Biết đâu vị khách đó lại từ thiên giới đem bình an và ơn cứu rỗi cho nhân loại! Biết đâu là bất cứ cá nhân nào mà sự hiện diện của họ phá tan những thành kiến, những sai lầm cố hữu của não trạng kiêu căng nơi chúng ta? Hàng ngàn, hàng vạn “khả năng” khác hữu ích cho cuộc sống tẻ nhạt này? Chẳng ai nói trước được? Cho nên thái độ kiêu căng là vô lý. Nhưng xưa nay chúng ta lại thường mắc phải.
Vậy, đúng đắn nhất là đức tin, kính trọng, cậy nhờ vào Thần khí của Chúa Giêsu cư ngụ trong mỗi linh hồn. Chú ý vào những điều chúng ta nghe được, xem thấy và suy tư về chúng. Giống như Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu, nghe Lời Người dạy bảo, bỏ dần độc tài, võ đoán, hoặc chỉ nghe tiếng nói quen thuộc của “phe ta”, cộng đoàn ta. Cái gì cũng hay nhất, đúng nhất. Nhiều khi trên thực tế, chỉ là lố bịch. Biết đâu những điều chúng ta nghe thấy, kinh nghiệm được lại là những kho báu cho cuộc sống riêng ta và cộng đoàn? Biết đâu mình đang tiếp rước, “chuyện trò” với một ngôn sứ Thiên Chúa gởi đến vì lợi ích chúng ta? Vậy trước khi bịt tai, đóng cửa, rút cầu thì hãy mở trái tim ra cho những mới lạ và thực hành lòng hiếu khách đối với tha nhân, người khác chính kiến với mình, với tu viện mình, với phe nhóm mình, và ngay cả tôn giáo mình. Lịch sử đã chứng minh, hàng ngàn hàng vạn lần người ta đã bỏ lỡ cơ hội tốt để canh tân, thăng tiến chỉ vì thái độ đóng cửa, rút cầu để rồi sau này, hối hận cũng vô ích.
Thiên Chúa kêu gọi chúng ta yêu mến và phục vụ Ngài, yêu mến và phục vụ tha nhân. Nhưng yêu mến phải là ưu tiên. Yêu mến Thiên Chúa và tha nhân được diễn tả cách cụ thể bằng lời cầu nguyện. Cầu nguyện là dâng hiến cho Ngài lòng hiếu thảo của mình. Chúa Giêsu dạy bảo chúng ta phải liên lỉ cầu nguyện, chứ không phải liên lỉ phục vụ. Chính vì thế mà Phúc Am mô tả Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Cha Ngài không ngừng, ngay cả trong giờ tử nạn. Thánh Thomas tiến sĩ đã đặt đời sống chiêm niệm lên trên đời sống hoạt động (xc Summa Theologica 2a2ae 179). Chẳng lẽ, chân lý đó sai? Hay não trạng ngày nay không còn chấp nhận, cho là cổ hủ, chậm tiến?
Cuộc đời, nhất là của các tu sĩ, linh mục, không có tình yêu thì quả trống rỗng, thê lương buồn thảm, thậm chí tự sát. Nhưng tình yêu trước hết là thi hành kết hiệp với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện. Vì vậy, Chúa Giêsu tuyên bố: “Hỡi những ai khó nhọc và gánh vác nặng nề, hãy đến cùng Ta. Hãy mang lấy ách của Ta, vì Ta khiêm nhường và dịu dàng trong lòng, bởi vì ách của Ta thì êm ái, gánh của Ta thì nhẹ nhàng”. Chẳng có ách nào, gánh nào lại nhẹ nhàng, êm ái, nếu không phải là ách của tình yêu. Cho nên, ý nghĩa của bài Phúc Am hôm nay thật sâu sắc và thấm thía: người ta phải yếu mến và phục vụ trong đường lối cân bằng. Đừng lấy cớ phục vụ để trốn tránh cầu nguyện, và cũng đừng vì cầu nguyện mà sao lãng phục vụ.
Bài đọc thứ hai, trích thư Côlôsê, chỉ rõ tính cân bằng ấy: “Thưa anh em, giờ đây, tôi vui mừng vì được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội thánh”. Những lời nói thật lạ lùng nếu chúng ta không nhìn theo hướng tình yêu mến Chúa Kitô. Đại ý, thánh nhân tuyên bố ngài phải kết hiệp với Đức Kitô trong đau khổ. Ngài mang lấy đau khổ của Chúa bằng những gian truân, khốn khó hiện tại. Vậy thì làm thế nào chúng ta kết hiệp với Chúa bằng nhung lụa, tiện nghi, vui chơi, ăn sung mặc sướng, nhà lầu xe hơi? Chẳng hoá ra xưa nay chúng ta chỉ là những tay lừa đảo? Rao giảng một đàng, ăn ở một nẻo, rồi đưa ra biện minh: Để phục vụ tốt hơn, hợp thời hơn. Đọc kỹ bài đọc hai, thánh Phaolô không hề nói như vậy: “Đó là tôi phải rao giảng Lời của Người cho trọn vẹn”. Tức rao giảng cả bằng đời sống khổ đau để bày tỏ mầu nhiệm Nước Trời cho thiên hạ. Thánh nhân nhắc nhớ các tín hữu rằng, chúng ta phải kinh nghiệm những khổ đau mà Đức Kitô đã phải chịu trước khi Ngài Phục sinh. Chúng ta nên chịu đựng hy sinh hãm mình vì lợi ích của Hội thánh, vì công cuộc truyền giáo, rao giảng Tin mừng cho dân ngoại. Thánh Phaolô viết rõ: “Vì lợi ích cho thân thể Người”. Tại sao vậy? Cũng thánh nhân trả lời: Ngõ hầu việc rao giảng Lời Chúa được trọn vẹn. Không chi rõ ràng hơn!
Như vậy, chúng ta tự nguyện hy sinh hãm mình, hoặc bất cứ đau khổ, bách hại cỡ nào, đều trở nên việc công bố Tin Mừng bằng đời sống. Do đó, thánh nhân cảm nghiệm vui mừng khi chịu đau đớn. Hơn nữa, thánh Phaolô còn thêm: “Rao giảng mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời đại và qua bao thế hệ”. Nhưng nay đang được tỏ bày qua đời sống của những con cái “thánh thiện” Giáo hội. Nghĩa là qua đời sống hy sinh, đau khổ, nhọc nhằn, khó khăn, vất vả, thiết thốn, các môn đệ mạc khải chính Chúa Kitô. Thánh Phaolô “vui mừng” trong gian nan vì ông thâm tín rằng mình đang phục vụ Đức Kitô trong thân thể Ngài là Hội thánh. Chúng ta cũng phải biết mình làm được như thánh nhân qua những khốn khó bản thân. Nếu không, chẳng có chi làm bằng chứng. Danh từ “impostor” (hàng nhái) ngày nay xuất hiện rất nhiều trong thương mại, chẳng lẽ không có trong các môn đệ rao giảng của Giáo hội? Đặt câu hỏi tức là trả lời rồi. Bởi lẽ, quyền lực ma quỉ vẫn còn đang đè nặng nhân loại, kể cả những linh hồn khao khát thánh thiện. Nếu không tỉnh thức, khắc bị lừa dối dễ dàng, với lý lẽ thật hợp pháp thí dụ: sức khoẻ tinh thần thể xác, truyền giáo hữu hiệu. Nhưng những môn đệ của Chúa Giêsu luôn có khí giới “ánh sáng” cầm sẵn trong tay, tức tinh thần tỉnh thức, ăn chay, cầu nguyện, thi hành bái ái của Đức Kitô. Vậy mà còn phải vất vả lắm mới đứng vững trong đường lối trung thành với ơn Chúa kêu gọi. Làm thế nào Triều đại Đức Kitô được công bố cho toàn thế giới? Chỉ có thể do các môn đệ được Thần khí của Ngài dẫn dắt, ban quyền năng và sự sống.
Bởi lẽ: “Lời Ngài là ngọn đèn soi cho con tiến bước, là ánh sáng dẫn đường con đi”. Chúng ta thường đọc đi đọc lại lời ấy, nhưng có lẽ không hiểu thấu ý nghĩa, vì không đem Lời Chúa ra thực hành. Chỉ khi nào thực hành, mới có thể nắm bắt được được ý nghĩa, vì lúc ấy Lời Chúa mới thấm nhập xương cốt. Giống như thời thánh Phaolô, làm tín hữu lúc này không phải dễ, nhất là trong hoàn cảnh đảo điên hiện nay, với bao nhiêu tiếng nói trái ngược nhau. Người này bảo thế này mới là tinh thần Đức Kitô, kẻ khác nói: không phải, thế kia mới chính xác Phúc Âm. Nhưng môn đệ của Chúa chỉ có một tinh thần, một người hướng dẫn: “Anh em không biết rằng Đức Kitô chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới được vinh hiển sao?” (Ga 16,26). Nguyện xin Thiên Chúa soi sáng chúng ta lượng định đúng đâu là công việc Mátta, đâu là công việc của Maria trong cuộc sống hàng ngày. Amen.