CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN C
AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN CỦA TÔI?
(Lc 10, 25-37)
Thưa quí vị,
Trong một cuộc phỏng vấn tuyển dụng công nhân, người ta đưa ra câu hỏi: trong trường hơp bạn gặp tai nạn lao động, chúng tôi có thể liên lạc với ai? Địa chỉ? Số điện thoại? Nhân viên tuyển dụng nhận được một câu trả lời hết sức “bất thường”: Bất cứ ai có mặt tại hiện trường. Dĩ nhiên, câu trả lời bị loại và ứng viên không được nhận vào làm vì nằm ngòai tiêu chuẩn của xí nghiệp. Tuy nhiên, xét về mặt tôn giáo thì lại là câu trả lời “tuyệt vời”, đáp ứng đúng giáo huấn của Chúa Giêsu. Ông tiến sĩ luật trong bài Phúc Am hôm nay cũng hỏi Chúa Giêsu về đề tài này: Ai là thân cận của tôi? Mục tiêu của ông ta là đặt Chúa Giêsu vào một thử thách, vì lề luật đã chỉ rõ: Thân cận của người Do Thái là đồng chủng, đồng loại. Ngoài ra là hạng “chó má” và là kẻ thù. Về phần Chúa Giêsu, Ngài hỏi lại: vậy theo ông nghĩ ai trong ba người đó là thân cận của người bị nạn? Giáo lý của Chúa ngược với truyền thống Do Thái. Lúc này, chúng ta ngộ ra Giáo lý ấy là cao siêu, nhưng thời ấy quả khó nghe! Chẳng ai trong cư dân Giêrusalem có thể chấp nhận được và chứng cớ nằm ngay trong thái độ của thày Tư tế và Lê vi. Họ hiểu rõ Lề luật lắm chứ!
Riêng phần tôi, câu chuyện gợi cho tôi nhớ lại thời còn là trẻ con, (có lẽ cũng là thời thơ ấu của quí vị, của chung mọi người). Liệu câu hỏi ai là láng giềng của tôi khiến quí vị liên tưởng đến những người bạn thời son trẻ? Tôi lớn lên ở khu phố Brooklyn, New York, America. Láng giềng của gia đình tôi là bà Weissman, căn hộ bên cạnh, bà là người Do Thái, có hai con trai: Jules và Herbert. Chúng tôi thường chơi đùa trên hè phố. Mẹ tôi và bà Weissman trao đổi bánh mì vừa nướng với nhau. Khi ngửi thấy mùi thơm từ căn hộ bà Weissman bay sang, chúng tôi bấm bụng, thế nào chút nữa cũng được nếm bánh của bà. Ngược lại, gia đình bà cũng vậy. Đó là kiểu cách thông thường hàng xóm đối xử với nhau. Chúng tôi cũng có láng giềng khác ở phía dưới cầu thang. Họ là chủ nhân của những căn hộ chúng tôi thuê. Chị tôi và tôi đi học với con cái của họ: Mary Anne và Louie, cùng với các trẻ con Ai Nhĩ Lan khác.
Khi có ai đó trong các bà mẹ phải vắng nhà, thì những người chung quanh có bổn phận coi sóc con cái cho họ. Chúng tôi bày ra mọi thứ trò nghịch ngợm trên hè phố, nhất là đá lon. Các cha mẹ trong nhà đưa mắt canh chừng. Đôi khi có những cuộc ẩu đả nho nhỏ thì bất cứ cha mẹ nào cũng có bổn phận can thiệp. Chúng tôi là hàng xóm với nhau theo nghĩa đó. Đôi khi có những ông bà già hoặc tính nết khó khăn thì cũng than phiền chút ít vì chúng tôi quá ồn ào. Lúc ấy chưa có súng giả để chơi, nên các trò chơi đều mang tính hiền lành, vô hại. Những mùa hè nóng nực, nếu có hàng kem đi qua thì thật tuyệt vời, tình thế chung là như vậy. Chẳng ai tính đến chuyện tôn giáo hay kỳ thị. “Anh giúp đỡ tôi khi tôi có nhu cầu, lần khác tôi giúp đỡ gia đình, con cái anh”. Đó là luật chung!
Cho nên câu hỏi của nhà thông thái luật: “tôi phải làm chi để được sống muôn đời?” mang tính chất lý thuyết hơn, vì ông ta biết rõ câu trả lời. Thực tế ông đã đọc vanh vách Đệ Nhị Luật 6,5 và Lê Vi 19,18 không sai một chữ. Vậy, vấn đề không phải là không biết, mà lá không hiểu ý nghĩa, nhất là không thực hành: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân như chính mình”. Chúa trả lời ông ta: “Ông nói đúng lắm, cứ làm như vậy là sẽ được sống muôn đời”. Người tiến sĩ luật hài lòng về mình và tự nhủ: “thế là ta đã nên công chính trước mặt Đấng Tối Cao, không cần làm chi hơn nữa.” Phải chăng đây cũng là thái độ của tuyệt đại đa phần giáo dân, giáo sĩ, thầy tu hôm nay? Họ chắc chắn về việc giữ đạo của mình, hài lòng với hiện trạng và lên mặt kiêu căng, khinh bỉ kẻ khác? Nhưng ông luật sĩ chẳng biết thân cận mình là ai. Ngày nay chúng ta cũng mù tịt. Chí ít theo tiêu chuẩn của Chúa Giêsu. Vì thế, Chúa phải dạy ông ta một bài học, bằng dụ ngôn cụ thể và rất ấn tượng. Dụ ngôn đã trở thành câu chuyện ngàn đời: Một người từ Giêrusalem đi Jêricô…
Ngày nay, con đường này hầu như nguyên trạng, vắng vẻ và hoang vu như phong cảnh trên mặt trăng (xin coi: “What Jesus saw from the Cross” của A.D. Sertillanger, O.P. sắp được xuất bản tiếng Việt). Cuộc sống con người cũng vậy nếu không có hàng xóm, láng giềng, bạn bè, thân thích. Cho nên dụ ngôn của Chúa Giêsu kêu gọi mọi người xét lại tư duy và thái độ của mình. Chúng ta được dựng nên để yêu thương, sống với người khác. Chứ không phải đơn thương độc mã như một tu sĩ từng tuyên bố: con người bẩm sinh là cô đơn! Vậy mà cũng có bằng tiến sĩ đấy! Oi cái học thời nay! Chắc hẳn người Samaritanô là kẻ “vô đạo” theo tiêu chuẩn của các thầy thông luật. Nạn nhân từ Giêrusalem xuống Jericô là Do Thái chính hiệu. Vậy mà dân vô đạo lại tỏ lòng thương xót kẻ đạo dòng! Trong khi hai thầy chức việc lánh xa vì lý do tôn giáo! Bài học của Chúa Giêsu quả thấm thía và đau xót. Liệu đó có phải là lời cảnh tỉnh cho chúng ta? Ở đây lại chẳng là vấn đề biết hay không mà là hiểu và thực hành. Chúa Giêsu thật quá quắt, dạy dỗ những điều khuấy động lương tâm người ta, nhất là hạng quyền cao chức lớn. Thảo nào thập hình là cái giá “bắt buộc” phải trả cho tính “ngôn sứ” của mình!
Khi lãnh phép Rửa tội và Thêm sức, mọi tín hữu đều được kêu gọi trở nên người Samaritanô nhân hậu cho thế giới đầy dẫy hận thù, chia rẽ, bạo lực hiện nay. Chúng ta đã kể đi thuật lại Dụ ngôn của Chúa nhiều lần, thậm chí đặt tên cho các cơ sở từ thiện, quán ăn, phòng trọ, bệnh viện, ngay cả nguyện đường, nhà thờ… nhưng nhiều lúc thiếu suy nghĩ về ý nghĩa. Chúng ta chạy theo lợi nhuận để ganh đua. Chứng cớ là thường xảy ra bất đồng về lý tưởng, kéo theo chia rẽ vật chất. Phe “tiền” luôn luôn thắng thế vì vật chất bao giờ cũng có sức mạnh hơn. Câu hỏi cuối cùng của Chúa Giêsu: Theo ý ông, ai trong ba hạng người đó là thân cận của người bị nạn? Ít được chúng ta quan tâm. Số phận lời khuyên: “Ông hãy đi và cũng làm như vậy” càng bị bỏ ngòai tai. Tuy nhiên, người ta vẫn tự hào về thái độ “bác ái” của mình, quảng cáo lung tung và rất mạnh mẽ, vì có nhiều tiền. Từ đó, lợi nhuận ngày một cao hơn.
Xin đừng đặt câu hỏi: “Ai là thân cận tôi… Ai làng láng giềng, hàng xóm của tôi… Ai là anh chị em tôi?”. Theo Giáo lý của Chúa Giêsu, những câu hỏi đó là “thừa”. Trước mặt Ngài, mọi người đều là láng giềng, là anh chị em vì đều là con cái Đức Chúa Trời, được Người yêu thương. Nhưng vấn đề phải là: “Ai cần đến sự giúp đỡ của tôi? Ai có nhu cầu cần được cứu trợ? Như Chúa Giêsu đã nói với thầy thông luật: “Theo ý ông, ai là thân cận của kẻ bị nạn?” hay như câu trả lời của ứng viên tìm việc: “bất cứ những ai có mặt tại hiện trường”. Chúng ta nên nhạy cảm thương xót tha nhân, bất cứ họ là ai, không chi có thể tách chúng ta ra khỏi lòng bác ái, tương tự như người Samaritanô nhân hậu. Ông ta và người Do Thái luôn có mối bất hòa, ghen ghét, hậy thù, thậm chí nguyền rủ nhau không tiếc lời: chó má, heo ngựa. Vậy mà ông đã vượt thắng tất cả để trở nên thân cận với người Do Thái. Chao ôi! Một gương sáng bất tận cho mọi thời đại! Xin đừng huyên thuyên, huênh hoang với những “đại ngôn” rỗng tuếch của mình.
Xin nhắc lại, theo Giáo huấn của Chúa Giêsu, bất cứ những ai có nhu cầu cần trợ giúp đều là thân cận của chúng ta, không lọai trừ trường hợp nào, cũng không đặt điều kiện. Chuyện này đơn giản chẳng chút phức tạp, chẳng cần đại học chuyên khoa thần cũng có thể nắm bắt rõ ràng. Chẳng cần xét xem đương sự có xứng đáng hay không và biết ơn hay không, giàu hoặc nghèo. Như vậy, chứng tỏ rằng láng giềng của gia đình tôi còn thiết sót rất nhiều, không chỉ như mô tả ở trên. Ngòai ra, nếu có gia đình da màu nào đến cư ngụ, lập tức họ bị cô lập hoặc chúng tôi dần dần bỏ đi, tình láng giềng bị phá vỡ.
Gần đây có một chương trình truyền hình, nhan đề “Ông Rodgers” dành cho trẻ em. Những ai coi đều được mời gọi nhập vai hàng xóm. Ông ta theo đạo “trưởng lão”, nhưng không lôi kéo ai vào đạo. Ong chỉ khích lệ khán giả trở nên láng giềng của ông, rồi nói chuyện với nhiều minh họa làm thế nào để trở nên hàng xóm tốt, lương thiện, đáng kính và quan tâm, giúp đỡ. Mỗi chương trình đều mở màn với lời chào: “Hello, nào các em, hãy làm hàng xóm của ngộ nhé! Ngộ có điều này hay lắm”. Và Rodgers tiếp tục chương trình. Đôi mắt khán giả nhí dán chặt vào màn ảnh chờ đợi… Chẳng bao giời Rodgers làm các em thất vọng.
Chúng ta thường thiết lập các bức tường để ngăn cách nhau, mặc dầu miệng lưỡi thường xoen xoét nói lời thân thiện. Nhất là trong các hội nghị quốc gia, quốc tế, giao tiếp, chính trị, thương mại, ngay cả trong các nhà Dòng, tu viện, bạn bè… Chúa Giêsu khao khát rũ bỏ hết tất cả, từng viên đá một. Ngày nay nơi cửa ra vào các thánh đường, trong các giờ phụng vụ, kinh lễ, người ta mang phù hiệu chào đón thiện nam, tín nữ, nhưng chẳng hiểu thành thực được bao nhiêu phần trăm? Sỡ dĩ Chúa Giêsu cảm thông và chữa lành các bệnh nhân, vì Ngài đã mang thương tích và sống kiếp lầm than. Chúng ta sống nhung lụa tiện nghi quá quắt, thì có khả năng nghi ngờ tính chân thành của chúng ta, bởi lẽ chúng ta không có kinh nghiệm chịu đựng gian khổ, thì làm thế nào thành thực chạnh lòng thương? Cho nên dù mặc y phục đẹp, đeo phù hiệu lớn và luôn miệng chào đón: “tôi xin làm láng giềng của bạn” thì thế giới vẫn đầy nghi ngờ chưa chắc đã tin. Đức cố Giáo hòang Gioan Phaolô II phát biểu như sau: Sở dĩ có đau khổ trên thế giới bởi vì đau khổ phóng thích tình yêu, nếu không, tình yêu sẽ bị ích kỷ xiềng xích lại. Người ta chỉ tỏ lòng thương xót, yêu mến khi đứng trước đau khổ của tha nhân. Vậy, thiếu thốn và bất hạnh biến chúng ta thành những nhân tình mà Thiên Chúa muốn kêu gọi.
Xin kể ra đây một biến dạng của Dụ ngôn hôm nay: một phụ nữ trên đường đến bệnh viện để phá thai. Lương tâm chị kêu gọi là đừng làm như vậy. Đó là tội sát nhân. Nhưng người phụ nữ biện minh: thân xác là của tôi, tôi muốn làm chi mặc ý. Người chồng nói: Lỗi ở cô ta không ý tứ chứ nào đâu phải của tôi? Ông bác sĩ nói: Nhà nước cho phép phá thai, quốc hội đã tranh cãi và bỏ phiếu. Chẳng tội vạ chi hết. Linh mục nói: Giáo hội quá bảo thủ, tôi còn bận bịu trăm công nghìn việc, thời giờ đâu mà dính dáng đến chuyện này. Chính trị gia lên ý kiến: Tôi chỉ tuân theo cảm tính chung, nếu không, chẳng ai bỏ phiếu cho tôi trúng cử lần hai, lần ba. Một cử tri phàn nàn viết thư cho đại biểu của mình: “bao lâu ông ủng hộ luật phá thai, tôi sẽ chẳng bỏ phiếu cho ông!”. Rồi ông gởi tấm ngân phiếu 1 triệu đôla cho hội tranh đấu cho “quyền sống của con người” với lời nhắn: “xin cho tôi được phép ghi danh làm hội viên”. Trong những người ấy, theo ý bạn, ai là thân cận của đứa trẻ sắp bị hại? Nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Thể ban ơn cho chúng ta được sáng suốt phân định rõ ràng. Amen.
AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN CỦA TÔI?
(Lc 10, 25-37)
Thưa quí vị,
Trong một cuộc phỏng vấn tuyển dụng công nhân, người ta đưa ra câu hỏi: trong trường hơp bạn gặp tai nạn lao động, chúng tôi có thể liên lạc với ai? Địa chỉ? Số điện thoại? Nhân viên tuyển dụng nhận được một câu trả lời hết sức “bất thường”: Bất cứ ai có mặt tại hiện trường. Dĩ nhiên, câu trả lời bị loại và ứng viên không được nhận vào làm vì nằm ngòai tiêu chuẩn của xí nghiệp. Tuy nhiên, xét về mặt tôn giáo thì lại là câu trả lời “tuyệt vời”, đáp ứng đúng giáo huấn của Chúa Giêsu. Ông tiến sĩ luật trong bài Phúc Am hôm nay cũng hỏi Chúa Giêsu về đề tài này: Ai là thân cận của tôi? Mục tiêu của ông ta là đặt Chúa Giêsu vào một thử thách, vì lề luật đã chỉ rõ: Thân cận của người Do Thái là đồng chủng, đồng loại. Ngoài ra là hạng “chó má” và là kẻ thù. Về phần Chúa Giêsu, Ngài hỏi lại: vậy theo ông nghĩ ai trong ba người đó là thân cận của người bị nạn? Giáo lý của Chúa ngược với truyền thống Do Thái. Lúc này, chúng ta ngộ ra Giáo lý ấy là cao siêu, nhưng thời ấy quả khó nghe! Chẳng ai trong cư dân Giêrusalem có thể chấp nhận được và chứng cớ nằm ngay trong thái độ của thày Tư tế và Lê vi. Họ hiểu rõ Lề luật lắm chứ!
Riêng phần tôi, câu chuyện gợi cho tôi nhớ lại thời còn là trẻ con, (có lẽ cũng là thời thơ ấu của quí vị, của chung mọi người). Liệu câu hỏi ai là láng giềng của tôi khiến quí vị liên tưởng đến những người bạn thời son trẻ? Tôi lớn lên ở khu phố Brooklyn, New York, America. Láng giềng của gia đình tôi là bà Weissman, căn hộ bên cạnh, bà là người Do Thái, có hai con trai: Jules và Herbert. Chúng tôi thường chơi đùa trên hè phố. Mẹ tôi và bà Weissman trao đổi bánh mì vừa nướng với nhau. Khi ngửi thấy mùi thơm từ căn hộ bà Weissman bay sang, chúng tôi bấm bụng, thế nào chút nữa cũng được nếm bánh của bà. Ngược lại, gia đình bà cũng vậy. Đó là kiểu cách thông thường hàng xóm đối xử với nhau. Chúng tôi cũng có láng giềng khác ở phía dưới cầu thang. Họ là chủ nhân của những căn hộ chúng tôi thuê. Chị tôi và tôi đi học với con cái của họ: Mary Anne và Louie, cùng với các trẻ con Ai Nhĩ Lan khác.
Khi có ai đó trong các bà mẹ phải vắng nhà, thì những người chung quanh có bổn phận coi sóc con cái cho họ. Chúng tôi bày ra mọi thứ trò nghịch ngợm trên hè phố, nhất là đá lon. Các cha mẹ trong nhà đưa mắt canh chừng. Đôi khi có những cuộc ẩu đả nho nhỏ thì bất cứ cha mẹ nào cũng có bổn phận can thiệp. Chúng tôi là hàng xóm với nhau theo nghĩa đó. Đôi khi có những ông bà già hoặc tính nết khó khăn thì cũng than phiền chút ít vì chúng tôi quá ồn ào. Lúc ấy chưa có súng giả để chơi, nên các trò chơi đều mang tính hiền lành, vô hại. Những mùa hè nóng nực, nếu có hàng kem đi qua thì thật tuyệt vời, tình thế chung là như vậy. Chẳng ai tính đến chuyện tôn giáo hay kỳ thị. “Anh giúp đỡ tôi khi tôi có nhu cầu, lần khác tôi giúp đỡ gia đình, con cái anh”. Đó là luật chung!
Cho nên câu hỏi của nhà thông thái luật: “tôi phải làm chi để được sống muôn đời?” mang tính chất lý thuyết hơn, vì ông ta biết rõ câu trả lời. Thực tế ông đã đọc vanh vách Đệ Nhị Luật 6,5 và Lê Vi 19,18 không sai một chữ. Vậy, vấn đề không phải là không biết, mà lá không hiểu ý nghĩa, nhất là không thực hành: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân như chính mình”. Chúa trả lời ông ta: “Ông nói đúng lắm, cứ làm như vậy là sẽ được sống muôn đời”. Người tiến sĩ luật hài lòng về mình và tự nhủ: “thế là ta đã nên công chính trước mặt Đấng Tối Cao, không cần làm chi hơn nữa.” Phải chăng đây cũng là thái độ của tuyệt đại đa phần giáo dân, giáo sĩ, thầy tu hôm nay? Họ chắc chắn về việc giữ đạo của mình, hài lòng với hiện trạng và lên mặt kiêu căng, khinh bỉ kẻ khác? Nhưng ông luật sĩ chẳng biết thân cận mình là ai. Ngày nay chúng ta cũng mù tịt. Chí ít theo tiêu chuẩn của Chúa Giêsu. Vì thế, Chúa phải dạy ông ta một bài học, bằng dụ ngôn cụ thể và rất ấn tượng. Dụ ngôn đã trở thành câu chuyện ngàn đời: Một người từ Giêrusalem đi Jêricô…
Ngày nay, con đường này hầu như nguyên trạng, vắng vẻ và hoang vu như phong cảnh trên mặt trăng (xin coi: “What Jesus saw from the Cross” của A.D. Sertillanger, O.P. sắp được xuất bản tiếng Việt). Cuộc sống con người cũng vậy nếu không có hàng xóm, láng giềng, bạn bè, thân thích. Cho nên dụ ngôn của Chúa Giêsu kêu gọi mọi người xét lại tư duy và thái độ của mình. Chúng ta được dựng nên để yêu thương, sống với người khác. Chứ không phải đơn thương độc mã như một tu sĩ từng tuyên bố: con người bẩm sinh là cô đơn! Vậy mà cũng có bằng tiến sĩ đấy! Oi cái học thời nay! Chắc hẳn người Samaritanô là kẻ “vô đạo” theo tiêu chuẩn của các thầy thông luật. Nạn nhân từ Giêrusalem xuống Jericô là Do Thái chính hiệu. Vậy mà dân vô đạo lại tỏ lòng thương xót kẻ đạo dòng! Trong khi hai thầy chức việc lánh xa vì lý do tôn giáo! Bài học của Chúa Giêsu quả thấm thía và đau xót. Liệu đó có phải là lời cảnh tỉnh cho chúng ta? Ở đây lại chẳng là vấn đề biết hay không mà là hiểu và thực hành. Chúa Giêsu thật quá quắt, dạy dỗ những điều khuấy động lương tâm người ta, nhất là hạng quyền cao chức lớn. Thảo nào thập hình là cái giá “bắt buộc” phải trả cho tính “ngôn sứ” của mình!
Khi lãnh phép Rửa tội và Thêm sức, mọi tín hữu đều được kêu gọi trở nên người Samaritanô nhân hậu cho thế giới đầy dẫy hận thù, chia rẽ, bạo lực hiện nay. Chúng ta đã kể đi thuật lại Dụ ngôn của Chúa nhiều lần, thậm chí đặt tên cho các cơ sở từ thiện, quán ăn, phòng trọ, bệnh viện, ngay cả nguyện đường, nhà thờ… nhưng nhiều lúc thiếu suy nghĩ về ý nghĩa. Chúng ta chạy theo lợi nhuận để ganh đua. Chứng cớ là thường xảy ra bất đồng về lý tưởng, kéo theo chia rẽ vật chất. Phe “tiền” luôn luôn thắng thế vì vật chất bao giờ cũng có sức mạnh hơn. Câu hỏi cuối cùng của Chúa Giêsu: Theo ý ông, ai trong ba hạng người đó là thân cận của người bị nạn? Ít được chúng ta quan tâm. Số phận lời khuyên: “Ông hãy đi và cũng làm như vậy” càng bị bỏ ngòai tai. Tuy nhiên, người ta vẫn tự hào về thái độ “bác ái” của mình, quảng cáo lung tung và rất mạnh mẽ, vì có nhiều tiền. Từ đó, lợi nhuận ngày một cao hơn.
Xin đừng đặt câu hỏi: “Ai là thân cận tôi… Ai làng láng giềng, hàng xóm của tôi… Ai là anh chị em tôi?”. Theo Giáo lý của Chúa Giêsu, những câu hỏi đó là “thừa”. Trước mặt Ngài, mọi người đều là láng giềng, là anh chị em vì đều là con cái Đức Chúa Trời, được Người yêu thương. Nhưng vấn đề phải là: “Ai cần đến sự giúp đỡ của tôi? Ai có nhu cầu cần được cứu trợ? Như Chúa Giêsu đã nói với thầy thông luật: “Theo ý ông, ai là thân cận của kẻ bị nạn?” hay như câu trả lời của ứng viên tìm việc: “bất cứ những ai có mặt tại hiện trường”. Chúng ta nên nhạy cảm thương xót tha nhân, bất cứ họ là ai, không chi có thể tách chúng ta ra khỏi lòng bác ái, tương tự như người Samaritanô nhân hậu. Ông ta và người Do Thái luôn có mối bất hòa, ghen ghét, hậy thù, thậm chí nguyền rủ nhau không tiếc lời: chó má, heo ngựa. Vậy mà ông đã vượt thắng tất cả để trở nên thân cận với người Do Thái. Chao ôi! Một gương sáng bất tận cho mọi thời đại! Xin đừng huyên thuyên, huênh hoang với những “đại ngôn” rỗng tuếch của mình.
Xin nhắc lại, theo Giáo huấn của Chúa Giêsu, bất cứ những ai có nhu cầu cần trợ giúp đều là thân cận của chúng ta, không lọai trừ trường hợp nào, cũng không đặt điều kiện. Chuyện này đơn giản chẳng chút phức tạp, chẳng cần đại học chuyên khoa thần cũng có thể nắm bắt rõ ràng. Chẳng cần xét xem đương sự có xứng đáng hay không và biết ơn hay không, giàu hoặc nghèo. Như vậy, chứng tỏ rằng láng giềng của gia đình tôi còn thiết sót rất nhiều, không chỉ như mô tả ở trên. Ngòai ra, nếu có gia đình da màu nào đến cư ngụ, lập tức họ bị cô lập hoặc chúng tôi dần dần bỏ đi, tình láng giềng bị phá vỡ.
Gần đây có một chương trình truyền hình, nhan đề “Ông Rodgers” dành cho trẻ em. Những ai coi đều được mời gọi nhập vai hàng xóm. Ông ta theo đạo “trưởng lão”, nhưng không lôi kéo ai vào đạo. Ong chỉ khích lệ khán giả trở nên láng giềng của ông, rồi nói chuyện với nhiều minh họa làm thế nào để trở nên hàng xóm tốt, lương thiện, đáng kính và quan tâm, giúp đỡ. Mỗi chương trình đều mở màn với lời chào: “Hello, nào các em, hãy làm hàng xóm của ngộ nhé! Ngộ có điều này hay lắm”. Và Rodgers tiếp tục chương trình. Đôi mắt khán giả nhí dán chặt vào màn ảnh chờ đợi… Chẳng bao giời Rodgers làm các em thất vọng.
Chúng ta thường thiết lập các bức tường để ngăn cách nhau, mặc dầu miệng lưỡi thường xoen xoét nói lời thân thiện. Nhất là trong các hội nghị quốc gia, quốc tế, giao tiếp, chính trị, thương mại, ngay cả trong các nhà Dòng, tu viện, bạn bè… Chúa Giêsu khao khát rũ bỏ hết tất cả, từng viên đá một. Ngày nay nơi cửa ra vào các thánh đường, trong các giờ phụng vụ, kinh lễ, người ta mang phù hiệu chào đón thiện nam, tín nữ, nhưng chẳng hiểu thành thực được bao nhiêu phần trăm? Sỡ dĩ Chúa Giêsu cảm thông và chữa lành các bệnh nhân, vì Ngài đã mang thương tích và sống kiếp lầm than. Chúng ta sống nhung lụa tiện nghi quá quắt, thì có khả năng nghi ngờ tính chân thành của chúng ta, bởi lẽ chúng ta không có kinh nghiệm chịu đựng gian khổ, thì làm thế nào thành thực chạnh lòng thương? Cho nên dù mặc y phục đẹp, đeo phù hiệu lớn và luôn miệng chào đón: “tôi xin làm láng giềng của bạn” thì thế giới vẫn đầy nghi ngờ chưa chắc đã tin. Đức cố Giáo hòang Gioan Phaolô II phát biểu như sau: Sở dĩ có đau khổ trên thế giới bởi vì đau khổ phóng thích tình yêu, nếu không, tình yêu sẽ bị ích kỷ xiềng xích lại. Người ta chỉ tỏ lòng thương xót, yêu mến khi đứng trước đau khổ của tha nhân. Vậy, thiếu thốn và bất hạnh biến chúng ta thành những nhân tình mà Thiên Chúa muốn kêu gọi.
Xin kể ra đây một biến dạng của Dụ ngôn hôm nay: một phụ nữ trên đường đến bệnh viện để phá thai. Lương tâm chị kêu gọi là đừng làm như vậy. Đó là tội sát nhân. Nhưng người phụ nữ biện minh: thân xác là của tôi, tôi muốn làm chi mặc ý. Người chồng nói: Lỗi ở cô ta không ý tứ chứ nào đâu phải của tôi? Ông bác sĩ nói: Nhà nước cho phép phá thai, quốc hội đã tranh cãi và bỏ phiếu. Chẳng tội vạ chi hết. Linh mục nói: Giáo hội quá bảo thủ, tôi còn bận bịu trăm công nghìn việc, thời giờ đâu mà dính dáng đến chuyện này. Chính trị gia lên ý kiến: Tôi chỉ tuân theo cảm tính chung, nếu không, chẳng ai bỏ phiếu cho tôi trúng cử lần hai, lần ba. Một cử tri phàn nàn viết thư cho đại biểu của mình: “bao lâu ông ủng hộ luật phá thai, tôi sẽ chẳng bỏ phiếu cho ông!”. Rồi ông gởi tấm ngân phiếu 1 triệu đôla cho hội tranh đấu cho “quyền sống của con người” với lời nhắn: “xin cho tôi được phép ghi danh làm hội viên”. Trong những người ấy, theo ý bạn, ai là thân cận của đứa trẻ sắp bị hại? Nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Thể ban ơn cho chúng ta được sáng suốt phân định rõ ràng. Amen.