Vì dốt nát mà phạm tội.
Chuyển ngữ từ bài “On Being Sinfully Ignorant” của Lm. James V. Schall, S.J. trên trang web Crisis.
Lm. James V. Schall, S.J. là giáo sư môn Political Science tại Georgetown University.
xxx
Mặc dầu có những học giả đương thời không công nhận quan điểm này, triết gia Socrates cho rằng tội lỗi chỉ là vấn đề dốt nát. Để loại bỏ tất cả những xáo trộn trong tâm hồn, chúng ta chỉ cần dạy dỗ sự thật. Sự giáo dục tốt hơn chính là chìa khóa cho vấn đề. Chúng ta cần đến phương pháp và sự kiên trì. Nếu chúng ta hiểu biết nhiều hơn, chúng ta sẽ chẳng bao giờ phạm tội. Cách nhìn này là một trong những giả thuyết khó được chấp nhận nhất. Thật ra, càng học cao thì những chất liệu tạo ra tội lỗi khiến sự phạm tội càng phức tạp hơn, và dường như là hai điểm này đi song song với nhau.
Triết gia Socrates không hoàn toàn sai. Hầu như nguời ta cho rằng ông luôn luôn đúng, ngay cả khi ông sai. Một thành phần của tri thức là một yếu tố được coi như nghệ thuật khéo léo của sự ác. Triết gia Aristotle còn cứng rắn hơn. Cũng như cách nhìn của Socrates với quan điểm của ông, triết gia Aristotle cho rằng người tệ nhất thường là người thông minh nhất. Ông cũng cho rằng trước khi phạm tội, chính chúng ta đã lựa chọn thành phần cấu tạo có tri thức cho tội lỗi đó.
Tri thức tự nó là tốt. Chúng ta phải hiểu tội lỗi là gì, ngay cả ở nơi chốn sâu thẳm của nó. Sự dốt nát không phải là đức tính Kitô giáo. Chúng ta không thể biết được điều tốt nếu chúng ta không biết đến cái xấu có liên quan tới nó. Trước khi có ý phạm tội, chúng ta đã có những lựa chọn để hướng dẫn mình vào hành động tội lỗi. Như vậy, nếu chúng ta muốn làm điều gì sai, chúng ta luôn có thể tạo ra được một lý do có vẻ chấp nhận được để giải thích việc làm đó, ít nhất là để nó giúp chúng ta thỏa mãn và giải thích tại sao điều mà chúng ta làm là ‘có thể chấp nhận được’.
Nhưng câu hỏi ‘Sự dốt nát đơn thuần có thể gây ra tội lỗi không?’ là một câu hỏi khiến chúng ta phải suy nghĩ. Chẳng hạn như câu hỏi ‘Người Công giáo có thờ phượng Đức Maria như thờ phượng Thiên Chúa không?’. Hoặc ‘Người Công giáo tuyên xưng có ba Chúa?’. Người ta đã đưa ra những thắc mắc này, cũng như những luận cứ tương tự để giải thích rằng Đạo Công giáo là không ‘thật’.
Chúng ta dễ thấy rằng những người Công giáo muốn bảo vệ niềm tin có khuynh hướng cho rằng những luận cứ hoang tưởng chống lại niềm tin như trên là những lý do khiến niềm tin bị chối bỏ. Nếu Giáo hội Công giáo nói rằng Đức Maria là Chúa hoặc quả thực có Ba Chúa, sẽ không có ai trong chúng ta với đầu óc bình thường sẽ còn là người Công giáo nữa. Những ai gán cho rằng người Công giáo thờ Đức Maria cũng như tuyên xưng Ba Chúa đã không biết đến những quan niệm của người Công giáo trong hai vấn đề này. Để làm người Công giáo, ít nhất, cũng đòi hỏi đến sự phán đoán của chúng ta.
Hoặc giả chúng ta lấy tình huống ngược lại: Người ta cho rằng giáo huấn Công giáo về vấn đề kiểm soát sanh đẻ và phá thai là không có cơ sở luận lý. Những giáo huấn này không là gì cả mà chỉ là vô lý. Thực ra những giáo huấn này có cơ sở lý luận nhất trong toàn bộ vấn đề. Hầu như người ta luôn luôn cho rằng những phản bác của học thuyết Công giáo là nghịch lý chỉ vì họ không muốn đối diện với những lý luận đúng đắn làm nền tảng cho những phản bác này. Nếu người ta muốn công nhận kiểm soát sanh đẻ hoặc phá thai, người ta sẽ không cần xét vấn đề một cách thận trọng như vậy để tìm hiểu tại sao vấn đề không có giá trị.
Toàn bộ vấn đề về cuốn tiểu thuyết Da Vinci Code nêu lên một khía cạnh khác về ‘Sự phạm tội do dốt nát’. Cái nét ngụy-sử hấp dẫn về Judas, về Mary Magdalene, về Gioan Tẩy Giả, và về sự tái tạo Sự Thương Khó chỉ là những chất liệu mới mẻ của một cuốn tiểu thuyết. Nhưng nếu niềm tin của ai đó bị lay động bởi cái gọi là ‘hợp lý có tính khoa học’ của tác giả Dan Brown thì sự xuyên tạc méo mó còn đi xa hơn. Vấn đề không phải là các vị học giả Công giáo chưa lường trước được hay chưa xét đến những luận cứ như trên trong ánh sáng thích hợp nhất. Vấn đề là chúng ta đã không đầu tư đủ công sức để tìm ra những ứng phó hữu hiệu.
Người ta đang nghĩ đến hằng trăm ngàn học sinh, sinh viên trong các trường trung học và đại học, công cũng như tư. Các học sinh, sinh viên nên được hướng dẫn để biết trước rằng những môi trường giáo dục là những bãi chiến trường nho nhỏ. Họ phải biết quay về đâu khi họ muốn tìm phương hướng. Không có hành động gì cả, không nỗ lực tìm hiểu tác dụng của những quan điểm chống Công giáo, là một sự phạm tội do dốt nát. Chúng ta phải biết quay về đâu để tìm ra sự ứng phó quân bình và đầy đủ. ‘Không biết’ có nghĩa là chúng ta dựa vào những gì chúng ta ‘vốn đã không biết’.
“Các vị bước tới để thấy được gì? Một ngọn liễu bị gió lung lay?”
Chuyển ngữ từ bài “On Being Sinfully Ignorant” của Lm. James V. Schall, S.J. trên trang web Crisis.
Lm. James V. Schall, S.J. là giáo sư môn Political Science tại Georgetown University.
xxx
Mặc dầu có những học giả đương thời không công nhận quan điểm này, triết gia Socrates cho rằng tội lỗi chỉ là vấn đề dốt nát. Để loại bỏ tất cả những xáo trộn trong tâm hồn, chúng ta chỉ cần dạy dỗ sự thật. Sự giáo dục tốt hơn chính là chìa khóa cho vấn đề. Chúng ta cần đến phương pháp và sự kiên trì. Nếu chúng ta hiểu biết nhiều hơn, chúng ta sẽ chẳng bao giờ phạm tội. Cách nhìn này là một trong những giả thuyết khó được chấp nhận nhất. Thật ra, càng học cao thì những chất liệu tạo ra tội lỗi khiến sự phạm tội càng phức tạp hơn, và dường như là hai điểm này đi song song với nhau.
Triết gia Socrates không hoàn toàn sai. Hầu như nguời ta cho rằng ông luôn luôn đúng, ngay cả khi ông sai. Một thành phần của tri thức là một yếu tố được coi như nghệ thuật khéo léo của sự ác. Triết gia Aristotle còn cứng rắn hơn. Cũng như cách nhìn của Socrates với quan điểm của ông, triết gia Aristotle cho rằng người tệ nhất thường là người thông minh nhất. Ông cũng cho rằng trước khi phạm tội, chính chúng ta đã lựa chọn thành phần cấu tạo có tri thức cho tội lỗi đó.
Tri thức tự nó là tốt. Chúng ta phải hiểu tội lỗi là gì, ngay cả ở nơi chốn sâu thẳm của nó. Sự dốt nát không phải là đức tính Kitô giáo. Chúng ta không thể biết được điều tốt nếu chúng ta không biết đến cái xấu có liên quan tới nó. Trước khi có ý phạm tội, chúng ta đã có những lựa chọn để hướng dẫn mình vào hành động tội lỗi. Như vậy, nếu chúng ta muốn làm điều gì sai, chúng ta luôn có thể tạo ra được một lý do có vẻ chấp nhận được để giải thích việc làm đó, ít nhất là để nó giúp chúng ta thỏa mãn và giải thích tại sao điều mà chúng ta làm là ‘có thể chấp nhận được’.
Nhưng câu hỏi ‘Sự dốt nát đơn thuần có thể gây ra tội lỗi không?’ là một câu hỏi khiến chúng ta phải suy nghĩ. Chẳng hạn như câu hỏi ‘Người Công giáo có thờ phượng Đức Maria như thờ phượng Thiên Chúa không?’. Hoặc ‘Người Công giáo tuyên xưng có ba Chúa?’. Người ta đã đưa ra những thắc mắc này, cũng như những luận cứ tương tự để giải thích rằng Đạo Công giáo là không ‘thật’.
Chúng ta dễ thấy rằng những người Công giáo muốn bảo vệ niềm tin có khuynh hướng cho rằng những luận cứ hoang tưởng chống lại niềm tin như trên là những lý do khiến niềm tin bị chối bỏ. Nếu Giáo hội Công giáo nói rằng Đức Maria là Chúa hoặc quả thực có Ba Chúa, sẽ không có ai trong chúng ta với đầu óc bình thường sẽ còn là người Công giáo nữa. Những ai gán cho rằng người Công giáo thờ Đức Maria cũng như tuyên xưng Ba Chúa đã không biết đến những quan niệm của người Công giáo trong hai vấn đề này. Để làm người Công giáo, ít nhất, cũng đòi hỏi đến sự phán đoán của chúng ta.
Hoặc giả chúng ta lấy tình huống ngược lại: Người ta cho rằng giáo huấn Công giáo về vấn đề kiểm soát sanh đẻ và phá thai là không có cơ sở luận lý. Những giáo huấn này không là gì cả mà chỉ là vô lý. Thực ra những giáo huấn này có cơ sở lý luận nhất trong toàn bộ vấn đề. Hầu như người ta luôn luôn cho rằng những phản bác của học thuyết Công giáo là nghịch lý chỉ vì họ không muốn đối diện với những lý luận đúng đắn làm nền tảng cho những phản bác này. Nếu người ta muốn công nhận kiểm soát sanh đẻ hoặc phá thai, người ta sẽ không cần xét vấn đề một cách thận trọng như vậy để tìm hiểu tại sao vấn đề không có giá trị.
Toàn bộ vấn đề về cuốn tiểu thuyết Da Vinci Code nêu lên một khía cạnh khác về ‘Sự phạm tội do dốt nát’. Cái nét ngụy-sử hấp dẫn về Judas, về Mary Magdalene, về Gioan Tẩy Giả, và về sự tái tạo Sự Thương Khó chỉ là những chất liệu mới mẻ của một cuốn tiểu thuyết. Nhưng nếu niềm tin của ai đó bị lay động bởi cái gọi là ‘hợp lý có tính khoa học’ của tác giả Dan Brown thì sự xuyên tạc méo mó còn đi xa hơn. Vấn đề không phải là các vị học giả Công giáo chưa lường trước được hay chưa xét đến những luận cứ như trên trong ánh sáng thích hợp nhất. Vấn đề là chúng ta đã không đầu tư đủ công sức để tìm ra những ứng phó hữu hiệu.
Người ta đang nghĩ đến hằng trăm ngàn học sinh, sinh viên trong các trường trung học và đại học, công cũng như tư. Các học sinh, sinh viên nên được hướng dẫn để biết trước rằng những môi trường giáo dục là những bãi chiến trường nho nhỏ. Họ phải biết quay về đâu khi họ muốn tìm phương hướng. Không có hành động gì cả, không nỗ lực tìm hiểu tác dụng của những quan điểm chống Công giáo, là một sự phạm tội do dốt nát. Chúng ta phải biết quay về đâu để tìm ra sự ứng phó quân bình và đầy đủ. ‘Không biết’ có nghĩa là chúng ta dựa vào những gì chúng ta ‘vốn đã không biết’.
“Các vị bước tới để thấy được gì? Một ngọn liễu bị gió lung lay?”