ROME (Zenit.org).- Suy niệm các bài đọc phụng vụ Chúa nhật, do Cha Raniero Cantalamessa Dòng Capuchin, cha giảng Phủ giáo Hoàng.
* * *
Phải đặt tên cháu là Gioan
Lễ Trọng Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả
Isaia 49:1-6; Công Vụ Tông Đồ 13 :22-26; Luca 1:57-66,80
Năm nay Lễ Trọng Sinh Nhật Gioan Tẩy Giả được cử hành thay thế Chúa Nhật thứ 12 mùa Thường Niên. Đó là một lễ lâu đời từ Thế Kỷ thứ bốn.
Tại sao lại lấy ngày 36/4? Khi loan báo sự sinh của Chúa Kitô cho Đức Maria, thiên thần cho ngài biết chị họ của ngài là Elizabeth đang có thai trong tháng thứ sáu. Cho nên, Gioan Tẩy Giả phải được sinh ra sáu tháng trước Chúa Giêsu và như vậy bảng niên đại được tôn trọng.
Lý do tại sao 24/6 thay vì 25/6, là vì theo cách tính ngày xưa, tức là theo calends( ngày mùng 1), ides(ngày 15) và nones(ngày thứ chín). Dĩ nhiên, những niên hiệu này có một giá trị phụng vụ và biểu trưng hơn là một giá trị lịch sử. Chúng ta không biết chính xác ngày và năm Chúa Giêsu sinh ra và như vậy chúng ta không biết chính xác khi nào Gioan sinh ra nữa.
Sự sùng kính Thánh Gioan Tẩy Giả phổ biến mau chóng và nhiều nhà thờ khắp thế giới được dâng kính ngài. Có 23 Giáo Hoàng lấy tên ngài. Câu trong Tin Mừng thứ bốn được áp dụng cho vị cuối cùng, Gioan XXIII: “ Có một người Chúa sai đến và tên ngài là Gioan.” Ít người biết rằng bảy dấu nhạc—do, re, mi, fa, sol, la, si, --có một cái gì liên hệ với Gioan Tẩy Giả. Những dấu nhạc đó phát xuất từ bảy vần thứ nhất của vế thứ nhất trong thánh thi được sáng tác để kinh nhớ ngài. [Ut queant laxis resonare fibris- Mira gestorum famuli tuorum- Solve polluti labii reatum-Sancte Joannes].
Bài Tin Mừng Chúa Nhật, nói về sự chọn tên Gioan. Nhưng điều chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất và thánh vịnh cũng quan trọng. Bài đọc thứ nhất, trích từ Ngôn Sứ Isaiah, nói: “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời Người đã nhắc đến tên tôi. Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén, gíấu tôi dưới bàn tay của Người. Người đã biến tôi thành mũi tên nhọn, cất tôi trong ống tên của Người.”
Thánh vịnh trở lại với ý niệm này, tức là, Chúa biết chúng ta từ trong lòng mẹ: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con…Khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu. Con mới là bao thai, mắt Ngài đã thấy.”
Chúng ta có một ý niệm rất hẹp hòi và có tính pháp lý về con người, gây nhiều hoang mang trong sự bàn cãi về nạn phá thai. Xem ra một đứa bé được sở hữu phẩm giá con người chỉ khi nó được các thẩm quyền con người thừa nhận.
Đối với Kinh Thánh con người là kẻ được Thiên Chúa nhận biết, kẻ được Thiên Chúa gọi tên; và Thiên Chúa, chúng ta biết chắc, biết chúng ta từ lòng mẹ. mắt Người thấy chúng ta khi chúng ta còn tượng hình trong bụng mẹ.
Khoa học nói với chúng ta rằng trong phôi thai, toàn diện hữu thể nhân bản đang hành hình, được phản chiếu trong mỗi chi tiết rất nhỏ; đàng khác, đức tin chúng ta thêm rằng điều chúng ta có không phải là công trình vô danh của tạo vật, nhưng một công trình tình yêu của đấng Sáng tạo. Sứ vụ của Gioan Tẩy Giả hoàn toàn được phác họa trước lúc sinh ra: “Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao, con sẽ đi trước Chúa mở lối cho Người.”
Giáo Hội tin rằng Gioan Tẩy Giả đã được thánh hoá trong bụng mẹ nhờ sự hiện diện của Chúa Kitô. Đó là lý do Giáo Hội cử hành lễ sinh nhật của ngài. Điều này cho chúng ta cơ hội đề cập một vấn đề tế nhị, vấn đề trở nên rất nghiêm trọng ngày nay, bởi vì hàng triệu trẻ con chết mà không được rửa tội, vì sự lan tràn đáng sợ đến việc phá thai. Chúng ta phải nói gì về chúng? Chúng cũng được thánh hoá cách nào đó trong bụng mẹ chúng không? Chúng có được cứu rỗi không?
Câu trả lời của tôi không do dự: Chắc chắn chúng được cứu rỗi. Chúa Kitô phục sinh cũng nói về chúng: “Hãy để trẻ nhó đến với Thầy.” Theo một ý kiến đã trở nên phổ thông từ Trung Cổ, những trẻ con không được rửa tội thì xuống lâm bô, một nơi trung gian trong đó không có đau khổ cũng không được thấy mặt Chúa.
Nhưng điều chúng ta có ở đây là một ý niệm không bao giờ được Giáo Hội định nghĩa là một chân lý đức tin. Đó là một giả thuyết của các thần học gia, giả thuyết này, trong ánh sáng của sự phát triển lương thâm Kitô hữu và sự hiểu biết Kinh Thánh, chúng ta không thể kéo dài lâu hơn nữa.
Khi tôi diễn tả ý kiến này của tôi cách đây không lâu trong một những sự giải thích này, có những phản ứng khác nhau. Một số người bày tỏ lòng biết ơn tôi vì lập trường này cất đi gánh nặng khỏi lòng họ; những kẻ khác khiển trách tôi chối bỏ giáo lý truyền thống và coi nhẹ tầm quan trọng của bí tích rửa tội. Bây giờ sự tranh cãi bị đóng kín bởi vì Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, làm việc cho Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã phát hành một văn kiện trong đó Ủy Ban khẳng định cũng một việc.
Tôi tưởng điều hữu ích là trở lại vấn đề dưới ánh sáng của văn kiện quan trọng này hầu giải thích một số lý do đã dẫn đưa Giáo Hội đi tới kết luận này.
Chúa Giêsu đã thiết lập các bì tích như những phương tiện bình thường của việc cứu rỗi. Do đó, các bí tích là cần thiết, và những ai dầu có khả năng nhận lãnh bí tích, mà từ chối hay biếng nhác nhận lãnh bí tích đi nghịch lại lương tâm của mình, gây lâm nguy trầm trọng cho sự rỗi muôn đời của mình. Nhưng Thiên Chúa không bị ràng buộc bởi những phương tiện này. Thiên Chúa cũng có thể cứu rỗi bằng những phương tiện bất thường, khi con người, không do lỗi mình, không được lãnh bí tích rửa tội. Chúa làm như vậy, ví dụ, với các thánh Anh Hài, những em bé đã chết không được rửa tội.
Giáo Hội đã luôn luôn công nhận khả năng của một phép rửa tội bằng ý muốn và một phép rửa tội bằng máu, và nhiều em bé chắc chắn đã biết một phép rửa tội bằng máu, dầu thuộc về một bản tánh khác.
Tôi không tưởng rằng sự làm sáng tỏ của Giáo Hội sẽ khuyến khích việc phá thai; nếu quả vậy, thì đó là sự thê thảm và chúng ta cần phải lo lắng cách nghiêm trọng, không phải về sự cứu rỗi của những trẻ con không được rửa tội, nhưng của những cha mẹ đã được rửa tội. Điều đó ắt là một sự giễu cợt đến Thiên Chúa.
Ngược lại, sự làm sáng tỏ này sẽ mang lại một sự thoải mái cho những kẻ tin, những kẻ, như mọi người, mất bình thản trước số phận khủng khiếp của rất nhiều em bé trong thế giới ngày nay.
Chúng ta hãy trở lại với Thánh Gioan Tẩy Giả và ngày lễ Chúa Nhật. Khi loan báo sự sinh của con trẻ cho Giacaria, Thiên Thần nói với ông: “ Elizabeth vợ ông sẽ sinh cho ông một con trai ông sẽ gọi là Gioan. Ông sẽ được vui mừng hớn hở và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời” (Lk 1:13-14). Nhiều người thật đã hỷ hoan khi con trẻ sinh ra nếu, 20 thế kỷ sau, chúng ta còn ở đây nói về con trẻ này.
Tôi cũng muớn gởi những lời này cho tất cả những người cha và bà mẹ, như bà Elizabeth và ông Giacaria, đang chờ đợi hay kinh nghiệm sự sinh con: Các ông bà có thể có niềm vui và hớn hở trong đứa con Chúa đã trao phó cho các ông bà, và vui mừng trong sự sinh của đứa con ấy suốt đời ông bà và cho đến muôn đời!
Đức Ông Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ
* * *
Phải đặt tên cháu là Gioan
Lễ Trọng Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả
Isaia 49:1-6; Công Vụ Tông Đồ 13 :22-26; Luca 1:57-66,80
Năm nay Lễ Trọng Sinh Nhật Gioan Tẩy Giả được cử hành thay thế Chúa Nhật thứ 12 mùa Thường Niên. Đó là một lễ lâu đời từ Thế Kỷ thứ bốn.
Tại sao lại lấy ngày 36/4? Khi loan báo sự sinh của Chúa Kitô cho Đức Maria, thiên thần cho ngài biết chị họ của ngài là Elizabeth đang có thai trong tháng thứ sáu. Cho nên, Gioan Tẩy Giả phải được sinh ra sáu tháng trước Chúa Giêsu và như vậy bảng niên đại được tôn trọng.
Lý do tại sao 24/6 thay vì 25/6, là vì theo cách tính ngày xưa, tức là theo calends( ngày mùng 1), ides(ngày 15) và nones(ngày thứ chín). Dĩ nhiên, những niên hiệu này có một giá trị phụng vụ và biểu trưng hơn là một giá trị lịch sử. Chúng ta không biết chính xác ngày và năm Chúa Giêsu sinh ra và như vậy chúng ta không biết chính xác khi nào Gioan sinh ra nữa.
Sự sùng kính Thánh Gioan Tẩy Giả phổ biến mau chóng và nhiều nhà thờ khắp thế giới được dâng kính ngài. Có 23 Giáo Hoàng lấy tên ngài. Câu trong Tin Mừng thứ bốn được áp dụng cho vị cuối cùng, Gioan XXIII: “ Có một người Chúa sai đến và tên ngài là Gioan.” Ít người biết rằng bảy dấu nhạc—do, re, mi, fa, sol, la, si, --có một cái gì liên hệ với Gioan Tẩy Giả. Những dấu nhạc đó phát xuất từ bảy vần thứ nhất của vế thứ nhất trong thánh thi được sáng tác để kinh nhớ ngài. [Ut queant laxis resonare fibris- Mira gestorum famuli tuorum- Solve polluti labii reatum-Sancte Joannes].
Bài Tin Mừng Chúa Nhật, nói về sự chọn tên Gioan. Nhưng điều chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất và thánh vịnh cũng quan trọng. Bài đọc thứ nhất, trích từ Ngôn Sứ Isaiah, nói: “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời Người đã nhắc đến tên tôi. Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén, gíấu tôi dưới bàn tay của Người. Người đã biến tôi thành mũi tên nhọn, cất tôi trong ống tên của Người.”
Thánh vịnh trở lại với ý niệm này, tức là, Chúa biết chúng ta từ trong lòng mẹ: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con…Khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu. Con mới là bao thai, mắt Ngài đã thấy.”
Chúng ta có một ý niệm rất hẹp hòi và có tính pháp lý về con người, gây nhiều hoang mang trong sự bàn cãi về nạn phá thai. Xem ra một đứa bé được sở hữu phẩm giá con người chỉ khi nó được các thẩm quyền con người thừa nhận.
Đối với Kinh Thánh con người là kẻ được Thiên Chúa nhận biết, kẻ được Thiên Chúa gọi tên; và Thiên Chúa, chúng ta biết chắc, biết chúng ta từ lòng mẹ. mắt Người thấy chúng ta khi chúng ta còn tượng hình trong bụng mẹ.
Khoa học nói với chúng ta rằng trong phôi thai, toàn diện hữu thể nhân bản đang hành hình, được phản chiếu trong mỗi chi tiết rất nhỏ; đàng khác, đức tin chúng ta thêm rằng điều chúng ta có không phải là công trình vô danh của tạo vật, nhưng một công trình tình yêu của đấng Sáng tạo. Sứ vụ của Gioan Tẩy Giả hoàn toàn được phác họa trước lúc sinh ra: “Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao, con sẽ đi trước Chúa mở lối cho Người.”
Giáo Hội tin rằng Gioan Tẩy Giả đã được thánh hoá trong bụng mẹ nhờ sự hiện diện của Chúa Kitô. Đó là lý do Giáo Hội cử hành lễ sinh nhật của ngài. Điều này cho chúng ta cơ hội đề cập một vấn đề tế nhị, vấn đề trở nên rất nghiêm trọng ngày nay, bởi vì hàng triệu trẻ con chết mà không được rửa tội, vì sự lan tràn đáng sợ đến việc phá thai. Chúng ta phải nói gì về chúng? Chúng cũng được thánh hoá cách nào đó trong bụng mẹ chúng không? Chúng có được cứu rỗi không?
Câu trả lời của tôi không do dự: Chắc chắn chúng được cứu rỗi. Chúa Kitô phục sinh cũng nói về chúng: “Hãy để trẻ nhó đến với Thầy.” Theo một ý kiến đã trở nên phổ thông từ Trung Cổ, những trẻ con không được rửa tội thì xuống lâm bô, một nơi trung gian trong đó không có đau khổ cũng không được thấy mặt Chúa.
Nhưng điều chúng ta có ở đây là một ý niệm không bao giờ được Giáo Hội định nghĩa là một chân lý đức tin. Đó là một giả thuyết của các thần học gia, giả thuyết này, trong ánh sáng của sự phát triển lương thâm Kitô hữu và sự hiểu biết Kinh Thánh, chúng ta không thể kéo dài lâu hơn nữa.
Khi tôi diễn tả ý kiến này của tôi cách đây không lâu trong một những sự giải thích này, có những phản ứng khác nhau. Một số người bày tỏ lòng biết ơn tôi vì lập trường này cất đi gánh nặng khỏi lòng họ; những kẻ khác khiển trách tôi chối bỏ giáo lý truyền thống và coi nhẹ tầm quan trọng của bí tích rửa tội. Bây giờ sự tranh cãi bị đóng kín bởi vì Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, làm việc cho Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã phát hành một văn kiện trong đó Ủy Ban khẳng định cũng một việc.
Tôi tưởng điều hữu ích là trở lại vấn đề dưới ánh sáng của văn kiện quan trọng này hầu giải thích một số lý do đã dẫn đưa Giáo Hội đi tới kết luận này.
Chúa Giêsu đã thiết lập các bì tích như những phương tiện bình thường của việc cứu rỗi. Do đó, các bí tích là cần thiết, và những ai dầu có khả năng nhận lãnh bí tích, mà từ chối hay biếng nhác nhận lãnh bí tích đi nghịch lại lương tâm của mình, gây lâm nguy trầm trọng cho sự rỗi muôn đời của mình. Nhưng Thiên Chúa không bị ràng buộc bởi những phương tiện này. Thiên Chúa cũng có thể cứu rỗi bằng những phương tiện bất thường, khi con người, không do lỗi mình, không được lãnh bí tích rửa tội. Chúa làm như vậy, ví dụ, với các thánh Anh Hài, những em bé đã chết không được rửa tội.
Giáo Hội đã luôn luôn công nhận khả năng của một phép rửa tội bằng ý muốn và một phép rửa tội bằng máu, và nhiều em bé chắc chắn đã biết một phép rửa tội bằng máu, dầu thuộc về một bản tánh khác.
Tôi không tưởng rằng sự làm sáng tỏ của Giáo Hội sẽ khuyến khích việc phá thai; nếu quả vậy, thì đó là sự thê thảm và chúng ta cần phải lo lắng cách nghiêm trọng, không phải về sự cứu rỗi của những trẻ con không được rửa tội, nhưng của những cha mẹ đã được rửa tội. Điều đó ắt là một sự giễu cợt đến Thiên Chúa.
Ngược lại, sự làm sáng tỏ này sẽ mang lại một sự thoải mái cho những kẻ tin, những kẻ, như mọi người, mất bình thản trước số phận khủng khiếp của rất nhiều em bé trong thế giới ngày nay.
Chúng ta hãy trở lại với Thánh Gioan Tẩy Giả và ngày lễ Chúa Nhật. Khi loan báo sự sinh của con trẻ cho Giacaria, Thiên Thần nói với ông: “ Elizabeth vợ ông sẽ sinh cho ông một con trai ông sẽ gọi là Gioan. Ông sẽ được vui mừng hớn hở và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời” (Lk 1:13-14). Nhiều người thật đã hỷ hoan khi con trẻ sinh ra nếu, 20 thế kỷ sau, chúng ta còn ở đây nói về con trẻ này.
Tôi cũng muớn gởi những lời này cho tất cả những người cha và bà mẹ, như bà Elizabeth và ông Giacaria, đang chờ đợi hay kinh nghiệm sự sinh con: Các ông bà có thể có niềm vui và hớn hở trong đứa con Chúa đã trao phó cho các ông bà, và vui mừng trong sự sinh của đứa con ấy suốt đời ông bà và cho đến muôn đời!
Đức Ông Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ