HUYỀN NHIỆM TÌNH YÊU
Dịp cuối tháng 5, đầu tháng 6 quả là dịp khá vất vả cho các vị làm mục vụ giáo xứ. Vừa lo cho các em thiều nhi chuẩn bị “xưng tội rước Lễ” lần đầu cũng như lãnh nhận Bí tích Thêm Sức, lại vừa phải chạy sô đó đây tham dự lễ khấn dòng do bởi các tương quan này nọ, khiến không thể vắng mặt nếu không muốn sống như kẻ vô tình. Bản thân người viết bài này vừa mới trải qua kinh nghiệm ấy : Tham dự hai Lễ Khấn dòng liên tiếp với quảng đường trên 400 cây số. Điều muốn chia sẻ ở đây không phải là cái vất vả do đường xa hay dự Lễ dài hơn bình thường nhưng ở sắc thái của hai Thánh Lễ có Nghi thức Khấn Dòng mà người khấn là con cái trong giáo xứ tôi đang phụ trách.
Vào lúc 02 giờ sáng ngày Thứ Hai ( 28-5-2007 ), lên xe từ xứ Thuận Hiếu ( Ban Mê Thuột ) về Nha Trang. Hơn 5 giờ đã đến Nhà Dòng Carmel. Thánh Lễ bắt đầu lúc 6 giờ do Đức Cha Giuse Võ Đức Minh, Giám mục Phó giáo phận Nha Trang chủ tế. Quý Cha đồng tế vỏn vẹn muời vị không dư. Bà con tín hữu giáo dân độ chừng trên dưới 60 người, hầu hết là thân nhân của tân khấn sinh và tân tập sinh. Trong căn Nhà Nguyện bé nhỏ, Thánh lễ diễn ra vừa đơn sơ vừa nhẹ nhàng cả hình thức bên ngoài lẫn nội dung. Đến phần tuyên khấn, ngoài Đức Giám Mục, chú giúp lễ và người phó nhòm thì chẳng ai thấy được sự gì. Hàng linh mục đồng tế may ra thấy được cái lưng của Đức Giám Mục. Gia đình thân nhân tân khấn sinh chỉ nghe thoang thoảng lời thưa đáp và lời khấn của con em mình. Một bầu khí quả là rất đơn sơ và đạm bạc của một sinh hoạt lớn của Dòng Carmel ta quen gọi là Dòng kín. Chẳng có rước xách, chẳng có ca đoàn “chuyên nghiệp”, chẳng có trang trí cờ xí hay băng rôn… cũng là một lễ đính hôn hay thành hôn của một con người với Thiên Chúa qua lời giao ước ( lời khấn hay lời cam kết ).
Vào lúc 6 giờ 45’ ngày Thứ Tư ( 30-5-2007 ), từ Thuận Hiếu tôi đi xe máy lên Nhà Dòng Nữ Vương Hòa Bình. Quảng đường khoảng 34 Km. Đến cổng Nhà Dòng đồng hồ chỉ 7 giờ 30’. Tưởng rằng mình là một trong những người đến sớm vì Thánh lễ bắt đầu lúc 08 giờ theo lịch trình. Giật mình vì khuôn viên Nhà Dòng đã đông nghịt người. Quý Sơ, các em đệ tử và bà con tín hữu đã vào hàng danh dự chuẩn bị cho cuộc rước. Ngoài Đức Giám Quản Phaolô Nguyễn Văn Hòa thì số linh mục đồng tế không dưới 70 vị. Sau phần chụp hình chung thì cuộc rước bắt đầu. Tiếng hát của “dàn ca đoàn” Nhà Dòng vừa du dương vừa tăng phần hoành tráng nhờ dàn âm thanh hiện đại của một giáo xứ lớn đến phục vụ. Thánh Lễ dĩ nhiên là long trọng. Các Nghi thức tuyên khấn thật uy nghiêm và sốt sắng. Dù rằng Nhà Dòng chưa có Nhà Nguyện chính thức nhưng căn phòng dùng để dâng Lễ vẫn đủ rộng, lớn và trang nhã hơn nhiều Ngôi Nhà Nguyện khác. Hơn nữa chính bầu khí trang trọng của Thánh Lễ, sự uy nghiêm của các Nghi Thức tuyên khấn và sự hiện diện đông đảo của người tham dự đã làm cho căn phòng tăng thêm sự hùng vĩ. Một Thánh Lễ với các Nghi Thức long trọng trong bầu khí tạm gọi là “hùng vĩ” biểu thị sự hiến dâng của những con người với Thiên Chúa qua lời khấn hứa.
Qua hai Thánh lễ có Nghi thức Khấn Dòng, xin được chia sẻ đôi tâm tình lẫn ước vọng :
1.Việc các nam nữ tu sĩ khấn hứa là chính thức đi vào cuộc tình với Thiên Chúa. Sách Giáo Lý Công giáo chung đã lấy lại khái niệm mà Bộ Giáo Luật 1983 trình bày : “ Đời sống tận hiến qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm là một lối sống bền vững, nhờ đó các tín hữu theo sát Đức Kitô, dưới tác động của Thánh Linh, tự hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa như Đấng đáng yêu mến tột bậc…” ( GL Điều 573.1; x. GLCG chung số 916 ). Các lời cầu và kinh tiền tụng trong Thánh Lễ khấn Dòng còn ví các nữ tu tuyên khấn là đính hôn với Đức Kitô. Tình yêu thật muôn màu muôn sắc. Ai dám nói đám cưới dân quê nghèo hèn là thiếu mặn nồng. Cũng chẳng ai dám đoan chắc tiệc cưới được tổ chức rầm rộ với trống kèn ca nhạc linh đình là có mối tình sâu nặng của đôi lứa. Dù hoành tráng hay đơn sơ, dù vài ba trăm mâm cổ hay một vài bàn cho hai họ thì điều quan trọng là tấm lòng của đôi lứa dành cho nhau. Ước mong sao các khấn sinh hiểu được điều này để giữ mãi tấm lòng son với Thầy Chí Thánh.
2.Đã là yêu thì không có chuyện thử, chuyện tạm thời. Nhân một buổi đi chơi với quý ngài tự nhận là thành viên dòng “Bon-na-tu-ra”, nay đã ở trong bậc hôn nhân. Anh em đã phân trần chuyện thật khó xử. Thưa cha, sao Hội Thánh cho các tu sĩ nam nữ một hai năm thử, một hai năm tập, rồi khấn tạm một thời gian, sau đó mới khấn vĩnh viễn. Còn chúng con, đùng một cái là khấn trọn đời ngay. Ước gì Hội Thánh cho phép chúng con thử, tập, hay ít là khấn tạm với nhau vài năm, sau đó mới khấn trọn đời. Quả thật Giáo luật quy định rằng tu sĩ chỉ được khấn trọn đời ít là sau ba năm khấn tạm, có miễn chuẩn để sớm hơn thì không nhiều hơn ba tháng. Bình thường thì sau 6 năm khấn tạm, phải khấn trọn đời. Nếu vì lý do gì đó cần kéo dài thì không quá 3 năm ( x. GL Điều 655; 656; 657; 658 ). Thú thật tôi chẳng biết giải thích cho thấu đáo. Nếu xét trên bình diện giao ước, mà là giao ước tình yêu thì phải là vĩnh viễn ngay từ đầu.
Giáo luật ghi rõ : “Đời sống tu trì, xét vì là sự hiến dâng hoàn toàn bản thân, biểu lộ trong Hội Thánh cuộc kết hôn huyền diệu mà Thiên Chúa đã thiết lập như dấu chỉ của đời sau. Như vậy tu sĩ hoàn tất sự trao hiến toàn vẹn tựa như hy lễ dâng cho Thiên Chúa, nhờ đó tất cả cuộc đời của họ trở nên việc liên lỉ thờ phượng Thiên Chúa trong đức ái” ( Điều 607.1 ). Sự toàn vẹn trong hành vi dâng hiến này chắc hẳn không chỉ dừng lại ở mức độ ( intensité - hết lòng ), ở trương độ ( extensibilité - cả hồn lẫn xác ) mà còn cả trong kỳ gian ( durée de temps - “trọn đời” hay “cho đến chết” theo công thức khấn trọn của các Hội Dòng ). Cũng thế việc đôi nam nữ tuyên hứa nhận nhau làm vợ làm chồng là một hành vi dâng hiến toàn vẹn cho nhau. Vì thế sự bất khả phân ly là một hệ lụy tất yếu. Nguời ta có thể nại đến hậu quả phát sinh do việc cam kêt nên duyên vợ chồng là con cái để rồi làm bằng chứng cho việc phải thủy chung đến trọn đời. Cho dù lý do này khả dĩ khá thực tế nhưng nó không phải là căn bản. Lý do chính là hệ lụy của việc tự dâng hiến trong tình yêu. Đã yêu thì không thể chấp nhận chuyện nửa vời một cách ý thức và chủ động.
Biết rằng dù dùng ba tấc lưỡi Tô Tần cũng khó có thể khiến quý anh em tu xuất tâm phục khẩu phục nên bèn dùng kế khác vậy. Đó là nại đến lề luật. Hôn nhân bất khả phân ly là luật của Chúa nên chỉ có Chúa mới có quyền trên luật ấy. Dù vậy vẫn có một luật trừ đó là đặc ân Thánh Phaolô (x. GL Điều 1143 ). Còn chuyện khấn hứa trong đời tu trì là luật của Hội Thánh. Hội Thánh làm ra luật thì Hội Thánh có quyền trên luật. Và hiện nay Hội Thánh quy định như thế thì ta nhận như vậy. Tuy nhiên là con cái trong nhà, ta cũng có thể không chỉ mong mà còn có bổn phận góp ý cho các vị hữu trách. Theo thiển ý của tôi thì có lẽ một ngày nào đó ta nên quy định thời gian thử luyện trong đời sống tu trì khà dài đủ để rồi sau đó đã khấn là khấn trọn đời luôn, chứ không còn kiểu khấn tạm. Mặc dù khấn tạm là giải pháp khôn ngoan theo lối nghĩ suy nhân trần nhưng nó không hợp lắm trong cái nhìn về “giao ước tình yêu”.
3.Nhất bên trọng, nhất bên khinh : Dĩ nhiên theo giáo lý Công giáo thì hai bậc sống hôn nhân và tu trì đều có giá trị đặc thù riêng và cùng đều phát xuất từ Đức Kitô nên vừa phải đề cao đời sống tu trì vừa phải tôn trọng đời sống hôn nhân ( x. GLCG số 1620 ). Mặc dù nhìn nhân giá trị cao quý của đời sống hôn nhân thế mà trong thực tế vẫn có đó chuyện nhất bên trọng nhất bên khinh. Điều này sở dĩ bang bạc trong ý thức của tín hữu không nguyên chỉ vì số lượng người đi tu ít hơn số người lập gia đình. Cái gì ít thì dễ được xem là quý ! Tuy nhiên cần phải chân nhận rằng chính sự hơn kém trong các nghi thức khấn dòng và kết hôn đã gây nên tâm lý này. Nghi thức cử hành bí tích hôn nhân xem ra không long trọng bằng nghi thức tuyên khấn trọn đời. Trong nghi thức tuyên khấn trọn đời có phần cầu xin lòng thương xót Chúa và cầu xin sự cầu bàu của Mẹ Maria và các thánh. Quả thật, bản thân tôi thường cảm thấy xúc động và thực tâm cầu nguyện nhiều cho các khấn sinh trong phần này. Còn trong nghi thức cử hành Bí tích hôn phối thì không thấy có cầu xin Chúa, Mẹ và các thánh gì cả trước khi hai anh chị cam kết với nhau, một sự cam kết rất hệ trọng cho hạnh phúc của nhau đời này lẫn đời sau.
Chuyện nhất bên trọng, nhất bên khinh còn thể hiện nơi Nghi thức cử hành Hôn Nhân khác đạo. Dù rằng đã được phép chuẩn của Đấng bản Quyền, dù rằng Giáo Luật không minh thị hạn chế, nhưng quy đinh dưới luật lại cấm không được cử hành Nghi thức hôn nhân khác đạo trong Thánh Lễ. ( x. Ordo Celebrandi Matrimonium Editio typical altera 1990.n 36 ). Một anh chị em lương dân hay khác đạo đến tham dự Thánh Lễ thì chẳng ai cấm cản, thế mà khi họ được phép chuẩn cử hành Nghi thức hôn nhân với người Công giáo thì họ không được cử hành trong Thánh Lễ !
Chuyện quy định Nghi thức này nọ là của các đấng hữu trách, nhưng bản thân tôi thiết nghĩ rằng phải chăng nên quy định Nghi Thức Hôn Phối cho trang trọng hơn. Nếu được thì nên có một dạng kinh cầu riêng cho đôi hôn nhân trước khi họ cam kết với nhau. Trước khi mình thề hứa chọn nhau làm vợ làm chồng mà cả công đoàn cầu xin long thương xót của Chúa, cầu xin sự cầu bàu của Mẹ Maria và các thánh trên trời, hẳn mình sẽ ý hơn hơn nhiều về những gì mình cam kết. Và chắc hẳn kỷ niệm này thật khó phai đối với rất nhiều đôi hôn nhân. Một kỷ niệm được giữ mãi thì việc tuân giữ lời cam kết sẽ tốt hơn nhiều.
Tình yêu thật huyền diệu. Cái nét huyền diệu của tình yêu không chỉ thể hiện ở sắc thái muôn màu mà còn còn thể hiện nơi chính sự trọn vẹn của nó. Đã yêu là yêu đến cùng. Đã yêu là không chấp nhận giới hạn. Đã yêu là không chấp nhận sự nửa vời. Bởi vì biên giới của tình yêu là một tình yêu không biên giới.
Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột
Dịp cuối tháng 5, đầu tháng 6 quả là dịp khá vất vả cho các vị làm mục vụ giáo xứ. Vừa lo cho các em thiều nhi chuẩn bị “xưng tội rước Lễ” lần đầu cũng như lãnh nhận Bí tích Thêm Sức, lại vừa phải chạy sô đó đây tham dự lễ khấn dòng do bởi các tương quan này nọ, khiến không thể vắng mặt nếu không muốn sống như kẻ vô tình. Bản thân người viết bài này vừa mới trải qua kinh nghiệm ấy : Tham dự hai Lễ Khấn dòng liên tiếp với quảng đường trên 400 cây số. Điều muốn chia sẻ ở đây không phải là cái vất vả do đường xa hay dự Lễ dài hơn bình thường nhưng ở sắc thái của hai Thánh Lễ có Nghi thức Khấn Dòng mà người khấn là con cái trong giáo xứ tôi đang phụ trách.
Vào lúc 02 giờ sáng ngày Thứ Hai ( 28-5-2007 ), lên xe từ xứ Thuận Hiếu ( Ban Mê Thuột ) về Nha Trang. Hơn 5 giờ đã đến Nhà Dòng Carmel. Thánh Lễ bắt đầu lúc 6 giờ do Đức Cha Giuse Võ Đức Minh, Giám mục Phó giáo phận Nha Trang chủ tế. Quý Cha đồng tế vỏn vẹn muời vị không dư. Bà con tín hữu giáo dân độ chừng trên dưới 60 người, hầu hết là thân nhân của tân khấn sinh và tân tập sinh. Trong căn Nhà Nguyện bé nhỏ, Thánh lễ diễn ra vừa đơn sơ vừa nhẹ nhàng cả hình thức bên ngoài lẫn nội dung. Đến phần tuyên khấn, ngoài Đức Giám Mục, chú giúp lễ và người phó nhòm thì chẳng ai thấy được sự gì. Hàng linh mục đồng tế may ra thấy được cái lưng của Đức Giám Mục. Gia đình thân nhân tân khấn sinh chỉ nghe thoang thoảng lời thưa đáp và lời khấn của con em mình. Một bầu khí quả là rất đơn sơ và đạm bạc của một sinh hoạt lớn của Dòng Carmel ta quen gọi là Dòng kín. Chẳng có rước xách, chẳng có ca đoàn “chuyên nghiệp”, chẳng có trang trí cờ xí hay băng rôn… cũng là một lễ đính hôn hay thành hôn của một con người với Thiên Chúa qua lời giao ước ( lời khấn hay lời cam kết ).
Vào lúc 6 giờ 45’ ngày Thứ Tư ( 30-5-2007 ), từ Thuận Hiếu tôi đi xe máy lên Nhà Dòng Nữ Vương Hòa Bình. Quảng đường khoảng 34 Km. Đến cổng Nhà Dòng đồng hồ chỉ 7 giờ 30’. Tưởng rằng mình là một trong những người đến sớm vì Thánh lễ bắt đầu lúc 08 giờ theo lịch trình. Giật mình vì khuôn viên Nhà Dòng đã đông nghịt người. Quý Sơ, các em đệ tử và bà con tín hữu đã vào hàng danh dự chuẩn bị cho cuộc rước. Ngoài Đức Giám Quản Phaolô Nguyễn Văn Hòa thì số linh mục đồng tế không dưới 70 vị. Sau phần chụp hình chung thì cuộc rước bắt đầu. Tiếng hát của “dàn ca đoàn” Nhà Dòng vừa du dương vừa tăng phần hoành tráng nhờ dàn âm thanh hiện đại của một giáo xứ lớn đến phục vụ. Thánh Lễ dĩ nhiên là long trọng. Các Nghi thức tuyên khấn thật uy nghiêm và sốt sắng. Dù rằng Nhà Dòng chưa có Nhà Nguyện chính thức nhưng căn phòng dùng để dâng Lễ vẫn đủ rộng, lớn và trang nhã hơn nhiều Ngôi Nhà Nguyện khác. Hơn nữa chính bầu khí trang trọng của Thánh Lễ, sự uy nghiêm của các Nghi Thức tuyên khấn và sự hiện diện đông đảo của người tham dự đã làm cho căn phòng tăng thêm sự hùng vĩ. Một Thánh Lễ với các Nghi Thức long trọng trong bầu khí tạm gọi là “hùng vĩ” biểu thị sự hiến dâng của những con người với Thiên Chúa qua lời khấn hứa.
Qua hai Thánh lễ có Nghi thức Khấn Dòng, xin được chia sẻ đôi tâm tình lẫn ước vọng :
1.Việc các nam nữ tu sĩ khấn hứa là chính thức đi vào cuộc tình với Thiên Chúa. Sách Giáo Lý Công giáo chung đã lấy lại khái niệm mà Bộ Giáo Luật 1983 trình bày : “ Đời sống tận hiến qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm là một lối sống bền vững, nhờ đó các tín hữu theo sát Đức Kitô, dưới tác động của Thánh Linh, tự hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa như Đấng đáng yêu mến tột bậc…” ( GL Điều 573.1; x. GLCG chung số 916 ). Các lời cầu và kinh tiền tụng trong Thánh Lễ khấn Dòng còn ví các nữ tu tuyên khấn là đính hôn với Đức Kitô. Tình yêu thật muôn màu muôn sắc. Ai dám nói đám cưới dân quê nghèo hèn là thiếu mặn nồng. Cũng chẳng ai dám đoan chắc tiệc cưới được tổ chức rầm rộ với trống kèn ca nhạc linh đình là có mối tình sâu nặng của đôi lứa. Dù hoành tráng hay đơn sơ, dù vài ba trăm mâm cổ hay một vài bàn cho hai họ thì điều quan trọng là tấm lòng của đôi lứa dành cho nhau. Ước mong sao các khấn sinh hiểu được điều này để giữ mãi tấm lòng son với Thầy Chí Thánh.
2.Đã là yêu thì không có chuyện thử, chuyện tạm thời. Nhân một buổi đi chơi với quý ngài tự nhận là thành viên dòng “Bon-na-tu-ra”, nay đã ở trong bậc hôn nhân. Anh em đã phân trần chuyện thật khó xử. Thưa cha, sao Hội Thánh cho các tu sĩ nam nữ một hai năm thử, một hai năm tập, rồi khấn tạm một thời gian, sau đó mới khấn vĩnh viễn. Còn chúng con, đùng một cái là khấn trọn đời ngay. Ước gì Hội Thánh cho phép chúng con thử, tập, hay ít là khấn tạm với nhau vài năm, sau đó mới khấn trọn đời. Quả thật Giáo luật quy định rằng tu sĩ chỉ được khấn trọn đời ít là sau ba năm khấn tạm, có miễn chuẩn để sớm hơn thì không nhiều hơn ba tháng. Bình thường thì sau 6 năm khấn tạm, phải khấn trọn đời. Nếu vì lý do gì đó cần kéo dài thì không quá 3 năm ( x. GL Điều 655; 656; 657; 658 ). Thú thật tôi chẳng biết giải thích cho thấu đáo. Nếu xét trên bình diện giao ước, mà là giao ước tình yêu thì phải là vĩnh viễn ngay từ đầu.
Giáo luật ghi rõ : “Đời sống tu trì, xét vì là sự hiến dâng hoàn toàn bản thân, biểu lộ trong Hội Thánh cuộc kết hôn huyền diệu mà Thiên Chúa đã thiết lập như dấu chỉ của đời sau. Như vậy tu sĩ hoàn tất sự trao hiến toàn vẹn tựa như hy lễ dâng cho Thiên Chúa, nhờ đó tất cả cuộc đời của họ trở nên việc liên lỉ thờ phượng Thiên Chúa trong đức ái” ( Điều 607.1 ). Sự toàn vẹn trong hành vi dâng hiến này chắc hẳn không chỉ dừng lại ở mức độ ( intensité - hết lòng ), ở trương độ ( extensibilité - cả hồn lẫn xác ) mà còn cả trong kỳ gian ( durée de temps - “trọn đời” hay “cho đến chết” theo công thức khấn trọn của các Hội Dòng ). Cũng thế việc đôi nam nữ tuyên hứa nhận nhau làm vợ làm chồng là một hành vi dâng hiến toàn vẹn cho nhau. Vì thế sự bất khả phân ly là một hệ lụy tất yếu. Nguời ta có thể nại đến hậu quả phát sinh do việc cam kêt nên duyên vợ chồng là con cái để rồi làm bằng chứng cho việc phải thủy chung đến trọn đời. Cho dù lý do này khả dĩ khá thực tế nhưng nó không phải là căn bản. Lý do chính là hệ lụy của việc tự dâng hiến trong tình yêu. Đã yêu thì không thể chấp nhận chuyện nửa vời một cách ý thức và chủ động.
Biết rằng dù dùng ba tấc lưỡi Tô Tần cũng khó có thể khiến quý anh em tu xuất tâm phục khẩu phục nên bèn dùng kế khác vậy. Đó là nại đến lề luật. Hôn nhân bất khả phân ly là luật của Chúa nên chỉ có Chúa mới có quyền trên luật ấy. Dù vậy vẫn có một luật trừ đó là đặc ân Thánh Phaolô (x. GL Điều 1143 ). Còn chuyện khấn hứa trong đời tu trì là luật của Hội Thánh. Hội Thánh làm ra luật thì Hội Thánh có quyền trên luật. Và hiện nay Hội Thánh quy định như thế thì ta nhận như vậy. Tuy nhiên là con cái trong nhà, ta cũng có thể không chỉ mong mà còn có bổn phận góp ý cho các vị hữu trách. Theo thiển ý của tôi thì có lẽ một ngày nào đó ta nên quy định thời gian thử luyện trong đời sống tu trì khà dài đủ để rồi sau đó đã khấn là khấn trọn đời luôn, chứ không còn kiểu khấn tạm. Mặc dù khấn tạm là giải pháp khôn ngoan theo lối nghĩ suy nhân trần nhưng nó không hợp lắm trong cái nhìn về “giao ước tình yêu”.
3.Nhất bên trọng, nhất bên khinh : Dĩ nhiên theo giáo lý Công giáo thì hai bậc sống hôn nhân và tu trì đều có giá trị đặc thù riêng và cùng đều phát xuất từ Đức Kitô nên vừa phải đề cao đời sống tu trì vừa phải tôn trọng đời sống hôn nhân ( x. GLCG số 1620 ). Mặc dù nhìn nhân giá trị cao quý của đời sống hôn nhân thế mà trong thực tế vẫn có đó chuyện nhất bên trọng nhất bên khinh. Điều này sở dĩ bang bạc trong ý thức của tín hữu không nguyên chỉ vì số lượng người đi tu ít hơn số người lập gia đình. Cái gì ít thì dễ được xem là quý ! Tuy nhiên cần phải chân nhận rằng chính sự hơn kém trong các nghi thức khấn dòng và kết hôn đã gây nên tâm lý này. Nghi thức cử hành bí tích hôn nhân xem ra không long trọng bằng nghi thức tuyên khấn trọn đời. Trong nghi thức tuyên khấn trọn đời có phần cầu xin lòng thương xót Chúa và cầu xin sự cầu bàu của Mẹ Maria và các thánh. Quả thật, bản thân tôi thường cảm thấy xúc động và thực tâm cầu nguyện nhiều cho các khấn sinh trong phần này. Còn trong nghi thức cử hành Bí tích hôn phối thì không thấy có cầu xin Chúa, Mẹ và các thánh gì cả trước khi hai anh chị cam kết với nhau, một sự cam kết rất hệ trọng cho hạnh phúc của nhau đời này lẫn đời sau.
Chuyện nhất bên trọng, nhất bên khinh còn thể hiện nơi Nghi thức cử hành Hôn Nhân khác đạo. Dù rằng đã được phép chuẩn của Đấng bản Quyền, dù rằng Giáo Luật không minh thị hạn chế, nhưng quy đinh dưới luật lại cấm không được cử hành Nghi thức hôn nhân khác đạo trong Thánh Lễ. ( x. Ordo Celebrandi Matrimonium Editio typical altera 1990.n 36 ). Một anh chị em lương dân hay khác đạo đến tham dự Thánh Lễ thì chẳng ai cấm cản, thế mà khi họ được phép chuẩn cử hành Nghi thức hôn nhân với người Công giáo thì họ không được cử hành trong Thánh Lễ !
Chuyện quy định Nghi thức này nọ là của các đấng hữu trách, nhưng bản thân tôi thiết nghĩ rằng phải chăng nên quy định Nghi Thức Hôn Phối cho trang trọng hơn. Nếu được thì nên có một dạng kinh cầu riêng cho đôi hôn nhân trước khi họ cam kết với nhau. Trước khi mình thề hứa chọn nhau làm vợ làm chồng mà cả công đoàn cầu xin long thương xót của Chúa, cầu xin sự cầu bàu của Mẹ Maria và các thánh trên trời, hẳn mình sẽ ý hơn hơn nhiều về những gì mình cam kết. Và chắc hẳn kỷ niệm này thật khó phai đối với rất nhiều đôi hôn nhân. Một kỷ niệm được giữ mãi thì việc tuân giữ lời cam kết sẽ tốt hơn nhiều.
Tình yêu thật huyền diệu. Cái nét huyền diệu của tình yêu không chỉ thể hiện ở sắc thái muôn màu mà còn còn thể hiện nơi chính sự trọn vẹn của nó. Đã yêu là yêu đến cùng. Đã yêu là không chấp nhận giới hạn. Đã yêu là không chấp nhận sự nửa vời. Bởi vì biên giới của tình yêu là một tình yêu không biên giới.
Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột