BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT THĂNG THIÊN (2007)
Tôi không có quyền giữ chiếc đàn nầy
Dẫn nhập đầu lễ : Kính thưa cộng đoàn,
Mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô Thăng Thiên, trong tiến trình lịch sử cứu rỗi, chính là công trình chóp đĩnh và hoàn tất của Mầu Nhiệm Nhập Thể –Cứu Độ của Ngôi Hai Thiên Chúa. “Chúa Giêsu-Kitô về trời ngự bên hữu Thiên Chúa” phải chăng là một cách diễn tả khác “sự hoàn tất thành công” của Chúa Giêsu trong kế đồ cứu độ nhân loại, trong việc đánh bại ma quỷ và tội lỗi, chiến thắng sự chết, đưa nhân loại và vũ trụ tiến vào lộ trình của phục sinh vinh thắng. Chính vì thế, ngày đại lễ hôm nay là ngày của hân hoan và vui mừng, như niềm vui của các Tông đồ khi “tạm biệt Chúa Kitô buổi về trời” để trở lại Giêrusalem bắt đầu cuộc lên đường loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho toàn thế giới.
Chính trong ý nghĩa nầy, cộng đoàn chúng ta hiệp dâng Thánh lễ với tâm tình tri ân cảm tạ, đồng thời cùng nỗ lực hiệp thông với mọi thành phần Dân Chúa ra đi loan báo Tin Mừng bằng cuộc sống tràn đây hân hoan hy vọng, niềm hân hoan phát xuất từ Bí Tích Vượt Qua mà dòng Nước Thánh Tẩy một lần nữa nhắc nhở chúng ta.
Giảng Lời Chúa :
June là một cô bé 5 tuổi xinh đẹp và lanh lợi. Cha là một mục sư. Mẹ mỗi khi đi đâu, thường cho em theo.
Ngày nọ, khi hai mẹ con vào bưu điện, một ông lão thấy em liền hỏi : “Này bé, ai cho bé mái tóc đẹp thế ?"
"Chúa cho cháu đó ! ”Nói xong bé nhìn thẳng vào ông hỏi : “Thế ông có được Chúa cho gì không ? có được Chúa cứu không ?"
Ông già kinh ngạc và xúc động trước câu hỏi đơn sơ đó. Ông thẫn thờ đáp : “Không, bé ạ !"
"Thế thì ông phải đến với Chúa ngay đi. Rồi Chúa sẽ cho ông thành một người thật đẹp đẽ ! ”. Nói xong, bé vội chạy theo mẹ.
Ít tuần sau, ông tìm đến nhà thờ và theo đạo. Ông cho biết lời của em bé luôn ám ảnh trong đầu và ông quyết định theo Chúa. (Góp nhặt).
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Với chỉ một câu trả lời giản đơn “Chúa cho cháu đó”, cô bé có mái tóc đẹp đã đưa một ông cụ vô thần trở lại với đức tin. Một cuộc truyền giáo sao mà đẹp, một lời chứng sao mà dễ thương !
1. Mầu nhiệm Chúa Về Trời” mời gọi chúng ta lên đường :
Từ sự kiện đó, trở lại với ý nghĩa phụng vụ hôm nay, lễ Chúa Lên trời, chúng ta có thể tìm thấy ý nghĩa đầu tiên : Chúa Lên trời : Lời mời gọi chúng ta lên đường.
Thật vậy, chính trong biến cố đặc biệt của phút giây cuối cùng hiện diện trên trần gian, Chúa Giêsu đã long trọng ban phát mệnh lệnh : “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêsrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân của những điều nầy”.
Chính anh em chứ không ai khác, và phải làm chứng về những điều nầy chứ không phải điều gì khác. Và như thế, ơn gọi Tông Đồ, sứ mệnh chứng nhân đã ở ngay cội nguồn của đức tin Kitô giáo, ở ngay bản chất của đời sống làm con cái Chúa. Chắc chắn, tất cả những tông đồ và những môn sinh của Chúa Giêsu có mặt trong buổi sáng “tạm biệt về trời hôm ấy” không ai lại cảm thấy mình là một người ngoại cuộc, để rồi trở về Giêrusalem trong trạng thái thụ động, thờ ơ với mệnh lệnh của Thầy.
Và cho đến mãi hôm nay, mệnh lệnh lên đường làm chứng nhân cho tin mừng Tử Nạn-Phục sinh cũng vẫn mang tính thời sự và khẩn thiết như thuở ban đầu dành cho tất cả những ai cùng theo Đức Kitô khi được “dìm xuống trong bí tích Thanh Tẩy” để chỗi dậy lên đường trong ánh sáng phục sinh và trong sức mạnh của Thần Khí. Đã mang danh là Kitô hữu nhờ nhiệm tích Rửa tội và phép Thêm Sức, không ai được phép sống cách bàng quang, thụ động với công cuộc loan báo Tin Mừng, với sứ mệnh làm chứng nhân.
Thế nhưng, phải nói thật rằng, có nhiều anh chị em chúng ta lại đã chọn một lối sống đức tin theo kiểu “tội gì phải đổ mồ hôi cho mệt xác”, sống làm sao cho khỏi mất linh hồn là được rồi. Bé cái lầm. Hiến chế Giáo Hội của Công đồng Vatican II đã khẳng định : “Thiên Chúa không muốn cứu độ loài người cách riêng lẽ”. Quả thật, nếu ai còn nghĩ rằng, mình có thể rỗi linh hồn mà không cần thực thi mệnh lệnh chứng nhân, không cần chung tay loan báo Tin Mừng thì thật đã lầm to. Cuộc sống ích kỷ, mang nảo trạng chủ nghĩa cá nhân và thiếu vắng tinh thần dấn thân truyền giáo, làm chứng nhân cho Tin Mừng, thì chỉ có một con đường duy nhất là mãi mãi đi xa khỏi vương quốc Thiên Chúa, đi xa khởi mái nhà và quê hương Nước Trời, nơi dành cho những kẻ đã một lòng tín trung lao động cật lực để vun quén, đắp xây, để chiến đấu và chiến thắng, như chính Đức Kitô đã phán : “Ai thắng, ta sẽ cho ngự bên Ta trên ngai của Ta, như Ta đã thắng và ngự bên Cha Ta trên ngai của Người” (Kh 3,21)
Như thế, mừng đại lễ Thăng Thiên hôm nay phải là một cơ hội để chúng ta tiếp tục nói lên lời cam kết : “vâng lời Thầy con sẽ buông lưới”. Cho dù thuộc đấng bực nào, ở vị trí nào, giữ vai trò nào…mỗi người chúng ta luôn ý thức mình là một chứng nhân của Tin Mừng Phục Sinh, một tác nhân rao giảng Tin Mừng, một nhà truyền giáo. Nếu không có được những cơ hội làm chứng đức tin như những Phêrô, Gioan, trước các cộng đồng, trước tòa án…hay như những bước chân vượt xa ngàn dặm của những Phaolô, Phanxicô Xaviê…hay những hành vi bác ái tông đồ của Mẹ Thánh Têrêxa Calcutta…thì ít ra cũng có được những lời giản đơn của cô bé có mái tóc đẹp “Chúa cho cháu đó”.
Trước khi đặt vấn đề, làm chứng thế nào, rao giảng làm sao, chúng ta hãy điều chỉnh lại căn cước đức tin của mình, điều chỉnh lại tờ lý lịch công giáo với cái nghề cơ bản mà chính Chúa Giêsu đã chọn lựa và tín thác: “Anh em hãy là những tay chài lưới người”. Hãy xác tín và hãnh diện về cái nghề cao cả nhưng cũng rất phũ phàng đó.
2. Để trở thành “Lời chững thuyết phục” :
“Làm chứng về một Đấng chết rồi sống lại”, làm chứng về một “Tin Mừng Phục Sinh”, làm chứng về một “nhân sinh quan mới mẻ” không còn đặt trên những giá trị bấp bênh của một thân phận con người mà cội nguồn thì mơ hồ hoang tưởng, hiện tại thì dang dở bầy hầy, còn tương lai thì mịt mù tăm tối, mà là một thân phận vinh quang đang đĩnh đạc tiến lên trong lộ trình của ánh sáng phục sinh và hạnh phúc vĩnh hằng, quả thật là một lời chứng khó khăn.
Thế nhưng, các anh dân chài xứ Galilê, các phụ nữ nghèo nàn ở Bêtania, Giuđêa, Galilê, Samaria…các kitô hữu của một thuở ban đầu bị vùi dập dưới những trận bách hại tàn bạo của các thế lực đạo đời từ vùng Palestine mịt mù cát đá tới thủ đô hoa lệ của đế quốc Rôma…đã làm chứng được và làm chứng một cách thuyết phục cho đến nổi chỉ sau hơn 3 thế kỷ, ngọn cờ Thánh Giá đã tung bay trên đồi Vatican và khắp các thành thị vùng Địa Trung Hải, và sau hai mươi thế kỷ, Tin Mừng Phục Sinh đã vang lên khắp mọi miền thế giới.
Thế lực nào, quyền năng nào, phương thế nào đã làm nên công trình kỳ diệu đó ?
Lời Chúa hôm nay đã như chìa khóa cho vấn nạn nầy. Chính Chúa Thánh Thần là quyền năng, là điểm tựa, là ánh sáng soi đường dẫn lối :
“anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (BĐ 1)
“Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”. (TM)
Đã có không ít những nơi và những lúc Giáo Hội rơi vào cơn cám dỗ “dùng bánh mì thay cho Lời Chúa”, dùng sự sang trọng và giàu có thế gian thay vì “luôn biết trở về Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hẳng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa”, thay vì chịu khó, hy sinh và cật lực trong tình yêu thì chọn giải pháp “trần tục và kiêu căng : nhảy xuống từ đỉnh tháp đền thờ Salem”…Những phương cách đó chỉ làm méo mó gương mặt của Đấng “chịu đóng đinh” và làm cho Tin Mừng Phục Sinh không còn tính thuyết phục như thuở ban đầu.
Chúng ta hãy luôn trở nên như những cây sáo rỗng để cho những “Làn Hơi của Thiên Chúa” thổi vào hầu trở nên những giai điệu tuyệt vời. Vã lại, khi những tấm bánh và những con cá nhỏ một khi “nằm gọn trong lòng bàn tay của Thiên Chúa” sẽ trở thành đại tiệc.
Kinh nghiệm của “Người chài lưới Phêrô” thuở nào chưa bao giờ bị coi là lỗi thời để Giáo Hội muôn nơi và muôn thuở cùng noi theo : “Vàng bạc thì tôi không có, nhưng cái tôi có tôi cho anh đây : nhân danh Đức Giêsu Kitô người Nadarét, anh đứng dậy mà đi” (Cv 3,6).
3. Thăng Thiên : hy vọng và chia sẻ
Thăng Thiên, trong ý nghĩa của Kinh Tiền Tụng mà Hội Thánh đọc lên hôm nay, lại chính là niềm hy vọng ngút ngàn của cuộc lữ hành kitô hữu :
“Người lên trời không phải để lìa xa chúng con là những kẻ yếu đuối, nhưng vi là đầu và là thủ lãnh của chúng con, nên Người đã lên trước, để chúng con là những chi thể của Người vững một niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo”
Đó cũng chính là điều mà Đức Kitô đã nói cùng các môn đệ: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em…để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,3). Khi từ giã họ, Ngài đã dâng lên TC một lời cầu nguyện mà cũng là một lời hứa: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con” (Ga 17,24). Và như thế, chúng ta có thể nói được rằng : Thăng Thiên cũng chính là diểm đến của mỗi người chúng ta, và ngay từ hôm nay, chúng ta đã được gọi mời để chia sẻ niềm vui và hy vọng nầy cách sâu xa và trọn vẹn.
Tuy nhiên, niềm hy vọng Thăng Thiên lại không thể đi đôi với cuộc sống cúi xuống với đam mê trần tục, một cuộc sống chỉ biết chọn trần gian như thiên đàng để đầu tư và hưởng thụ. Bởi chưng, ngày lễ hôm nay đã làm rực lên Lời chân lý nầy : “Quê hương chúng ta là ở trên trời” (Ph 3,20); hay như một lời khác của thánh Tông đô Phaolô : “Anh em đã được chỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Col 3,1). Vậy nếu chúng ta xác tín rằng mình “là giòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện…” thì phải “ái mộ những sự trên trời”, phải qui hướng đời sống chúng ta về đó và đừng để mình bị nô lệ bởi những ràng buộc và quyền lực của thế gian : của cải, gia đình, việc làm, thành công…. Hạnh phúc cho ai trải qua cuộc đời trong sự trung thành bước theo “Đấng đã lên ngự bên hữu ngai uy nghi trên các tầng trời” (Dt 8,1), như chính Ngài đã tuyên bố : “Ai thắng, ta sẽ cho ngự bên Ta trên ngai của ta” (Kh 3,21)
Sau hết, niềm hy vọng Thăng Thiên cũng là niềm hy vọng của trao ban và chia sẻ. Thật vậy, hồng an cứu độ được ban tặng cho mỗi người chúng ta quá ư là cao cả, quá ư tuyệt vời. Chúng ta không thể ôm lấy khư khư và giữ chặt cho riêng mình. Điều nầy cũng giống như câu chuyện về chiếc vĩ cầm của Fritz Kreisler :
Fritz Kreisler (1875-1962) là một nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng khắp thế giới. Ông đã tạo được một cơ nghiệp đồ sộ nhờ các buổi hoà nhạc và soạn nhạc, nhưng lại hào phóng cho đi gần hết của cải. Do đó, trong một chuyến lưu diễn, ông tìm được một cây vĩ cầm thanh tú nhưng không đủ tiền mua.
Đến khi ông kiếm đủ tiền và trở lại, thì cây đờn đã được bán cho một nhà sưu tầm nhạc cụ. Kreisler tìm đến chủ mới của cây vĩ cầm để xin mua lại. Nhà sưu tầm không muốn bán vì theo ông, nó là một bảo vật quí giá. Kreisler buồn bã và sắp sửa ra về, bỗng nảy ra một ý : “Xin đàn một lần trước khi nó bị ký thác cho sự câm lặng”.Chủ nhân chấp thuận. Vị nhạc sĩ tài ba đã làm cho nhà sưu tầm thực sự xúc động vì tiếng đàn du dương của mình, đến nỗi ông ấy phải kêu lên “Kreisler ơi ! Tôi, tôi không có quyền giữ chiếc đàn này. Nó thuộc về ông. Ông hãy đem nó đi khắp thế giới để thiên hạ được thưởng thức âm thanh của nó”.
Lạy Chúa, con cũng không có quyền giữ cho mình tất cả hồng ân Người đã ban tặng cho con. Tất cả đã được đón nhận thì tất cả cũng phải được sẻ chia. Amen. (Epphata).
Tôi không có quyền giữ chiếc đàn nầy
Dẫn nhập đầu lễ : Kính thưa cộng đoàn,
Mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô Thăng Thiên, trong tiến trình lịch sử cứu rỗi, chính là công trình chóp đĩnh và hoàn tất của Mầu Nhiệm Nhập Thể –Cứu Độ của Ngôi Hai Thiên Chúa. “Chúa Giêsu-Kitô về trời ngự bên hữu Thiên Chúa” phải chăng là một cách diễn tả khác “sự hoàn tất thành công” của Chúa Giêsu trong kế đồ cứu độ nhân loại, trong việc đánh bại ma quỷ và tội lỗi, chiến thắng sự chết, đưa nhân loại và vũ trụ tiến vào lộ trình của phục sinh vinh thắng. Chính vì thế, ngày đại lễ hôm nay là ngày của hân hoan và vui mừng, như niềm vui của các Tông đồ khi “tạm biệt Chúa Kitô buổi về trời” để trở lại Giêrusalem bắt đầu cuộc lên đường loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho toàn thế giới.Chính trong ý nghĩa nầy, cộng đoàn chúng ta hiệp dâng Thánh lễ với tâm tình tri ân cảm tạ, đồng thời cùng nỗ lực hiệp thông với mọi thành phần Dân Chúa ra đi loan báo Tin Mừng bằng cuộc sống tràn đây hân hoan hy vọng, niềm hân hoan phát xuất từ Bí Tích Vượt Qua mà dòng Nước Thánh Tẩy một lần nữa nhắc nhở chúng ta.
Giảng Lời Chúa :
June là một cô bé 5 tuổi xinh đẹp và lanh lợi. Cha là một mục sư. Mẹ mỗi khi đi đâu, thường cho em theo.
Ngày nọ, khi hai mẹ con vào bưu điện, một ông lão thấy em liền hỏi : “Này bé, ai cho bé mái tóc đẹp thế ?"
"Chúa cho cháu đó ! ”Nói xong bé nhìn thẳng vào ông hỏi : “Thế ông có được Chúa cho gì không ? có được Chúa cứu không ?"
Ông già kinh ngạc và xúc động trước câu hỏi đơn sơ đó. Ông thẫn thờ đáp : “Không, bé ạ !"
"Thế thì ông phải đến với Chúa ngay đi. Rồi Chúa sẽ cho ông thành một người thật đẹp đẽ ! ”. Nói xong, bé vội chạy theo mẹ.
Ít tuần sau, ông tìm đến nhà thờ và theo đạo. Ông cho biết lời của em bé luôn ám ảnh trong đầu và ông quyết định theo Chúa. (Góp nhặt).
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Với chỉ một câu trả lời giản đơn “Chúa cho cháu đó”, cô bé có mái tóc đẹp đã đưa một ông cụ vô thần trở lại với đức tin. Một cuộc truyền giáo sao mà đẹp, một lời chứng sao mà dễ thương !
1. Mầu nhiệm Chúa Về Trời” mời gọi chúng ta lên đường :
Từ sự kiện đó, trở lại với ý nghĩa phụng vụ hôm nay, lễ Chúa Lên trời, chúng ta có thể tìm thấy ý nghĩa đầu tiên : Chúa Lên trời : Lời mời gọi chúng ta lên đường.
Thật vậy, chính trong biến cố đặc biệt của phút giây cuối cùng hiện diện trên trần gian, Chúa Giêsu đã long trọng ban phát mệnh lệnh : “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêsrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân của những điều nầy”.
Chính anh em chứ không ai khác, và phải làm chứng về những điều nầy chứ không phải điều gì khác. Và như thế, ơn gọi Tông Đồ, sứ mệnh chứng nhân đã ở ngay cội nguồn của đức tin Kitô giáo, ở ngay bản chất của đời sống làm con cái Chúa. Chắc chắn, tất cả những tông đồ và những môn sinh của Chúa Giêsu có mặt trong buổi sáng “tạm biệt về trời hôm ấy” không ai lại cảm thấy mình là một người ngoại cuộc, để rồi trở về Giêrusalem trong trạng thái thụ động, thờ ơ với mệnh lệnh của Thầy.
Và cho đến mãi hôm nay, mệnh lệnh lên đường làm chứng nhân cho tin mừng Tử Nạn-Phục sinh cũng vẫn mang tính thời sự và khẩn thiết như thuở ban đầu dành cho tất cả những ai cùng theo Đức Kitô khi được “dìm xuống trong bí tích Thanh Tẩy” để chỗi dậy lên đường trong ánh sáng phục sinh và trong sức mạnh của Thần Khí. Đã mang danh là Kitô hữu nhờ nhiệm tích Rửa tội và phép Thêm Sức, không ai được phép sống cách bàng quang, thụ động với công cuộc loan báo Tin Mừng, với sứ mệnh làm chứng nhân.
Thế nhưng, phải nói thật rằng, có nhiều anh chị em chúng ta lại đã chọn một lối sống đức tin theo kiểu “tội gì phải đổ mồ hôi cho mệt xác”, sống làm sao cho khỏi mất linh hồn là được rồi. Bé cái lầm. Hiến chế Giáo Hội của Công đồng Vatican II đã khẳng định : “Thiên Chúa không muốn cứu độ loài người cách riêng lẽ”. Quả thật, nếu ai còn nghĩ rằng, mình có thể rỗi linh hồn mà không cần thực thi mệnh lệnh chứng nhân, không cần chung tay loan báo Tin Mừng thì thật đã lầm to. Cuộc sống ích kỷ, mang nảo trạng chủ nghĩa cá nhân và thiếu vắng tinh thần dấn thân truyền giáo, làm chứng nhân cho Tin Mừng, thì chỉ có một con đường duy nhất là mãi mãi đi xa khỏi vương quốc Thiên Chúa, đi xa khởi mái nhà và quê hương Nước Trời, nơi dành cho những kẻ đã một lòng tín trung lao động cật lực để vun quén, đắp xây, để chiến đấu và chiến thắng, như chính Đức Kitô đã phán : “Ai thắng, ta sẽ cho ngự bên Ta trên ngai của Ta, như Ta đã thắng và ngự bên Cha Ta trên ngai của Người” (Kh 3,21)
Như thế, mừng đại lễ Thăng Thiên hôm nay phải là một cơ hội để chúng ta tiếp tục nói lên lời cam kết : “vâng lời Thầy con sẽ buông lưới”. Cho dù thuộc đấng bực nào, ở vị trí nào, giữ vai trò nào…mỗi người chúng ta luôn ý thức mình là một chứng nhân của Tin Mừng Phục Sinh, một tác nhân rao giảng Tin Mừng, một nhà truyền giáo. Nếu không có được những cơ hội làm chứng đức tin như những Phêrô, Gioan, trước các cộng đồng, trước tòa án…hay như những bước chân vượt xa ngàn dặm của những Phaolô, Phanxicô Xaviê…hay những hành vi bác ái tông đồ của Mẹ Thánh Têrêxa Calcutta…thì ít ra cũng có được những lời giản đơn của cô bé có mái tóc đẹp “Chúa cho cháu đó”.
Trước khi đặt vấn đề, làm chứng thế nào, rao giảng làm sao, chúng ta hãy điều chỉnh lại căn cước đức tin của mình, điều chỉnh lại tờ lý lịch công giáo với cái nghề cơ bản mà chính Chúa Giêsu đã chọn lựa và tín thác: “Anh em hãy là những tay chài lưới người”. Hãy xác tín và hãnh diện về cái nghề cao cả nhưng cũng rất phũ phàng đó.
2. Để trở thành “Lời chững thuyết phục” :
“Làm chứng về một Đấng chết rồi sống lại”, làm chứng về một “Tin Mừng Phục Sinh”, làm chứng về một “nhân sinh quan mới mẻ” không còn đặt trên những giá trị bấp bênh của một thân phận con người mà cội nguồn thì mơ hồ hoang tưởng, hiện tại thì dang dở bầy hầy, còn tương lai thì mịt mù tăm tối, mà là một thân phận vinh quang đang đĩnh đạc tiến lên trong lộ trình của ánh sáng phục sinh và hạnh phúc vĩnh hằng, quả thật là một lời chứng khó khăn.
Thế nhưng, các anh dân chài xứ Galilê, các phụ nữ nghèo nàn ở Bêtania, Giuđêa, Galilê, Samaria…các kitô hữu của một thuở ban đầu bị vùi dập dưới những trận bách hại tàn bạo của các thế lực đạo đời từ vùng Palestine mịt mù cát đá tới thủ đô hoa lệ của đế quốc Rôma…đã làm chứng được và làm chứng một cách thuyết phục cho đến nổi chỉ sau hơn 3 thế kỷ, ngọn cờ Thánh Giá đã tung bay trên đồi Vatican và khắp các thành thị vùng Địa Trung Hải, và sau hai mươi thế kỷ, Tin Mừng Phục Sinh đã vang lên khắp mọi miền thế giới.
Thế lực nào, quyền năng nào, phương thế nào đã làm nên công trình kỳ diệu đó ?
Lời Chúa hôm nay đã như chìa khóa cho vấn nạn nầy. Chính Chúa Thánh Thần là quyền năng, là điểm tựa, là ánh sáng soi đường dẫn lối :
“anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (BĐ 1)
“Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”. (TM)
Đã có không ít những nơi và những lúc Giáo Hội rơi vào cơn cám dỗ “dùng bánh mì thay cho Lời Chúa”, dùng sự sang trọng và giàu có thế gian thay vì “luôn biết trở về Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hẳng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa”, thay vì chịu khó, hy sinh và cật lực trong tình yêu thì chọn giải pháp “trần tục và kiêu căng : nhảy xuống từ đỉnh tháp đền thờ Salem”…Những phương cách đó chỉ làm méo mó gương mặt của Đấng “chịu đóng đinh” và làm cho Tin Mừng Phục Sinh không còn tính thuyết phục như thuở ban đầu.
Chúng ta hãy luôn trở nên như những cây sáo rỗng để cho những “Làn Hơi của Thiên Chúa” thổi vào hầu trở nên những giai điệu tuyệt vời. Vã lại, khi những tấm bánh và những con cá nhỏ một khi “nằm gọn trong lòng bàn tay của Thiên Chúa” sẽ trở thành đại tiệc.
Kinh nghiệm của “Người chài lưới Phêrô” thuở nào chưa bao giờ bị coi là lỗi thời để Giáo Hội muôn nơi và muôn thuở cùng noi theo : “Vàng bạc thì tôi không có, nhưng cái tôi có tôi cho anh đây : nhân danh Đức Giêsu Kitô người Nadarét, anh đứng dậy mà đi” (Cv 3,6).
3. Thăng Thiên : hy vọng và chia sẻ
Thăng Thiên, trong ý nghĩa của Kinh Tiền Tụng mà Hội Thánh đọc lên hôm nay, lại chính là niềm hy vọng ngút ngàn của cuộc lữ hành kitô hữu :
“Người lên trời không phải để lìa xa chúng con là những kẻ yếu đuối, nhưng vi là đầu và là thủ lãnh của chúng con, nên Người đã lên trước, để chúng con là những chi thể của Người vững một niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo”
Đó cũng chính là điều mà Đức Kitô đã nói cùng các môn đệ: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em…để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,3). Khi từ giã họ, Ngài đã dâng lên TC một lời cầu nguyện mà cũng là một lời hứa: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con” (Ga 17,24). Và như thế, chúng ta có thể nói được rằng : Thăng Thiên cũng chính là diểm đến của mỗi người chúng ta, và ngay từ hôm nay, chúng ta đã được gọi mời để chia sẻ niềm vui và hy vọng nầy cách sâu xa và trọn vẹn.
Tuy nhiên, niềm hy vọng Thăng Thiên lại không thể đi đôi với cuộc sống cúi xuống với đam mê trần tục, một cuộc sống chỉ biết chọn trần gian như thiên đàng để đầu tư và hưởng thụ. Bởi chưng, ngày lễ hôm nay đã làm rực lên Lời chân lý nầy : “Quê hương chúng ta là ở trên trời” (Ph 3,20); hay như một lời khác của thánh Tông đô Phaolô : “Anh em đã được chỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Col 3,1). Vậy nếu chúng ta xác tín rằng mình “là giòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện…” thì phải “ái mộ những sự trên trời”, phải qui hướng đời sống chúng ta về đó và đừng để mình bị nô lệ bởi những ràng buộc và quyền lực của thế gian : của cải, gia đình, việc làm, thành công…. Hạnh phúc cho ai trải qua cuộc đời trong sự trung thành bước theo “Đấng đã lên ngự bên hữu ngai uy nghi trên các tầng trời” (Dt 8,1), như chính Ngài đã tuyên bố : “Ai thắng, ta sẽ cho ngự bên Ta trên ngai của ta” (Kh 3,21)
Sau hết, niềm hy vọng Thăng Thiên cũng là niềm hy vọng của trao ban và chia sẻ. Thật vậy, hồng an cứu độ được ban tặng cho mỗi người chúng ta quá ư là cao cả, quá ư tuyệt vời. Chúng ta không thể ôm lấy khư khư và giữ chặt cho riêng mình. Điều nầy cũng giống như câu chuyện về chiếc vĩ cầm của Fritz Kreisler :
![]() |
| Nhạc sĩ vĩ cầm Kreisler |
Đến khi ông kiếm đủ tiền và trở lại, thì cây đờn đã được bán cho một nhà sưu tầm nhạc cụ. Kreisler tìm đến chủ mới của cây vĩ cầm để xin mua lại. Nhà sưu tầm không muốn bán vì theo ông, nó là một bảo vật quí giá. Kreisler buồn bã và sắp sửa ra về, bỗng nảy ra một ý : “Xin đàn một lần trước khi nó bị ký thác cho sự câm lặng”.Chủ nhân chấp thuận. Vị nhạc sĩ tài ba đã làm cho nhà sưu tầm thực sự xúc động vì tiếng đàn du dương của mình, đến nỗi ông ấy phải kêu lên “Kreisler ơi ! Tôi, tôi không có quyền giữ chiếc đàn này. Nó thuộc về ông. Ông hãy đem nó đi khắp thế giới để thiên hạ được thưởng thức âm thanh của nó”.
Lạy Chúa, con cũng không có quyền giữ cho mình tất cả hồng ân Người đã ban tặng cho con. Tất cả đã được đón nhận thì tất cả cũng phải được sẻ chia. Amen. (Epphata).
