CHÚA NHẬT 4 PS (C), CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH : NGÀY QUỐC TẾ CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI LINH MỤC-TU SĨ
Bước đi trong tiếng gọi của Người Mục Tử
Dẫn nhập đầu lễ : Kính thưa cộng đoàn,
Chúng ta đang họp nhau cử hành Chúa Nhật “Chúa Chiên Lành”, mà sứ điệp phụng vụ có nội dung cốt lõi đó là : Đức Kitô, Vị Mục Tử nhân lành, nhờ cái chết và sự phục sinh, Ngài đã mang lại cho chúng ta nguồn sống dồi dào. Cũng chính trong ý nghĩa nầy, Hội Thánh đã chọn Ngày Chúa Nhật hôm nay làm ngày “Quốc Tế cầu nguyện cho ơn gọi linh mục-tu sĩ để Giáo Hội có thêm nhiều ơn gọi dấn thân trong chức linh mục và đời sống thánh hiến; đặc biệt cầu nguyện cho Giáo phận, giáo hạt và giáo xứ chúng ta có được nhiều tâm hồn thanh niên thiếu nữ quảng đại và nhiệt thành đáp trả lời mời gọi của Chúa Kitô trên con đường tu trì. Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho tất cả những ai đang dấn thân trên con đường thánh thiện nhưng cũng đầy thử thách gian nan nầy được trung thành mỗi ngày trong chọn lựa của mình để phục vụ Chúa và anh chị em.
Giờ đây, để xứng đáng cử hành Thánh lễ, xứng đáng sống trọn vẹn ơn gọi của Bí Tích Thánh Tẩy, là nhiệm tích đưa chúng ta vào đời sống siêu nhiên do chính Đức Kitô Vị Mục Tử Nhân Lành dẫn đưa và chăm sóc, chúng ta hãy (đón nhận Nước Thánh với tâm hồn sám hối).
Giảng Lời Chúa : Kính thưa ông bà và anh chị em,
Có một bài Thánh vịnh trong Thánh Kinh Cựu Uớc mà hình như tôi đọc chưa bao giờ thấy chán đó chính là Thánh vịnh 22 (Có chỗ ghi là 23), mang tựa đề “Mục tử nhân hậu”. Bởi chưng, khi cầu nguyện với Thánh vịnh nầy, tôi cam thấy cuộc đời bé nhỏ dại khờ ốm đói của tôi lại được chính Thiên Chúa, Vị Mục Tử nhân lành ân cần chăm sóc dẫn đưa trên những lối “đậm nghĩa yêu thương và chan hòa ân sủng” của Ngài; sự ân cần chăm sóc ấy được diển tả bằng những hình ảnh rất thân thương dịu vợi và cũng gần gũi đời thường : “đồng cỏ xanh, dòng nước trong, dầu thơm, rượu đầy…”
“Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi năm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi…
Dẫu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng…
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
Ly rượu con dầy tràn chan chứa…”
Tuy nhiên, nếu tinh ý một chút, chúng ta có thể nhận ra rằng : nơi những hình ảnh thoạt như tình cờ, chân quê mộc mạc của môi trường du mục trên vùng thảo nguyên Palestine được mô tả trong thánh vịnh 22 lại cưu mang cả một “kho tàng ý nghĩa” sẽ được đong đầy và hiện thực ngay chính trong Mùa Phục Sinh nầy.
Thật vậy, nếu Gia-vê Thiên Chúa, “Người Mục Tử của cựu ước” dẫn dắt đoàn chiên với “dòng nước trong”, với “rượu đầy tràn”, với “dầu thơm lựng”, thì “Người Chăn Chiên của Tân ước”, Đức Kitô -Tử nạn - Phục sinh, đã chăm sóc “đoàn chiên mới” với “dòng nước tinh tuyền của Nhiệm tích Thánh Tẩy”, với “ly rượu, tấm bánh là chính Máu Thịt Người”, với “Dầu Thánh Thần được thông ban qua hồng ân Thêm Sức”.
Chẳng phải trọng tâm của mùa Phụng Vụ Phục Sinh đó chính là cử hành, sống và đào sâu ý nghĩa của ba Nhiệm Tích Khai Tâm Kitô giáo : Thánh Tẩy, Thánh Thể và Thêm sức đó sao ! Và đó chính là phương thế, là con đường, là năng lực Người Chăn chiên vô hình Giêsu” đã chọn để chăm sóc, dẫn đưa và nuôi sống đoàn chiên mà Ngài đã cứu chuộc bằng chính cuộc Nhập Thể-Tử nạn- Phục sinh của Ngài suốt 2000 năm nay và cho mãi đến tận thế.
Khẳng định điều đó cũng có nghĩa là một lần nữa chúng ta tuyên xưng : Hôm qua, hôm nay và mãi mãi, “Người chăn chiên vô hình Giêsu-Kitô” chưa bao giờ buông tay bỏ mặc đoàn chiên nhỏ của Người.
1. Người Chăn chiên vô hình đang có mặt.
Đó chính là chân lý của hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Đức Kitô Mục Tử, Người Chăn chiên vô hình đã chăn dắt đoàn chiên bé bỏng của Ngài ngay từ thuở ban sơ, ngay từ khi còn trong trứng nước và Ngài vẫn chăn dắt đàn chiên của Ngài như thế trãi dài qua muôn thế hệ. Chúng ta thử đưa mắt theo dấu sách Công Vụ Tông đồ để nhìn về điểm khởi đầu của Hội Thánh.
Khi các Thượng tế Do Thái thành công trong việc đòi tổng trấn Philatô cho bằng được “bản án tử hình Đức Giêsu Nadarét”, thì họ chắc mẩm rằng : cái tổ chức gọi là “Nước thiên Chúa” của tên Giêsu thợ mộc người Nadarét kia vĩnh viễn bị “xóa sổ bụi đời”, và nhóm tông đồ cọng sự viên thân tín quê mùa dốt nát xuất thân từ làng chài Galilê kia rồi cũng sẽ rã đám, chả làm được trò trống gì để đáng quan ngại. Tuy nhiên, hơn 50 ngày sau cái chết của Giêsu, cũng ngay tại thủ đô Giêrusalem, giữa thanh thiên bạch nhật, Phêrô, người tông đồ đã từng sợ hải chối thầy 3 lần trong đêm thầy bị bắt, đã hùng hồn công bố “sứ điệp phục sinh”, làm chứng Đức Giêsu và Vương quốc của Ngài đang thực sự bắt đầu, một sự kiện làm “choáng váng” giới lãnh đạo Do Thái giáo.
Và một cú “sốc” nặng nề khác dội vào các lãnh đạo Do Thái Giáo, dội vào các cơ chế cứng ngắt của Đạo Cũ, đó chính là “sự trở lại của chàng thanh niên Biệt phái Saolô khi với biến cố Đamas đã trở thành Tông đồ Phaolô hăng say rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu, mặc cho bao nhiêu đe dọa, khước từ, tẩy chay và nguy hiểm. ( Như sách Công Vụ Tông đồ nhắc đến trong BĐ 1 hôm nay) :
“Những người Do Thái sách động nhóm phụ nữ thượng lưu và đã theo đạo Do Thái,và những thân hào trong thành, xúi dục họ ngược đãi ông Phaolô và ông Banaba,và trục xuất hai ông khỏi lãnh thổ của họ”.
Nếu cho rằng, Hội Thánh sở dĩ có mặt, kiện toàn và phát triển là hoàn toàn do những phương thế và yếu tố trần tục thì không nghiêm chỉnh chút nào. Bởi chưng, ngay từ những tháng năm đầu giáp mặt cùng thế giới, thế giới cuồng tín và duy luật của do Thái, thế giới triết lý văn hóa sâu sắc của Hi Lạp, thế giới đa thần, hưởng thụ và và hùng cường của đế quốc Rôma…quả thật “đàn chiên nhỏ” của Đức Kitô chỉ là “hạt bụi, là cỏ dại bên vệ đường lịch sử”, những hạt bụi, những cọng cỏ lại liên tục bị những “bàn chân sắt máu” của con người chà đạp, bách hại thảm thương. Thế nhưng những hạt bụi bé bỏng, những cọng cỏ âm thầm đó cứ tồn tại và lớn lên, cho đến một ngày đã trở nên một “Nhiệm Thể” đĩnh đạt, một “Cây Tùng” tỏa bóng khắp địa cầu, hay như ngôi “Đại Thánh Đường Phêrô” sừng sững trên đồi Vatican mà Sienkievich đã nhắc đến trongđoạn kết thúc tác phẩm “Quo Vadis” :
“Và thế là qua đi Nêrô, như đã qua đi cơn lốc, giông bảo, hỏa hoạn, chiến tranh hay một cơn ác mộng, còn Ngôi Đại Thánh Đường Thánh Phêrô cho tới nay vẫn đang ngự trị thành đô và thế giới từ trên cao nguyên Vatican”[1]
Chỉ có thể cắt nghĩa được “hiện tượng” nầy : đó là nhờ có một sức thiêng, một điểm tựa nhiệm mầu, một bàn tay quyến thế dẫn dắt đỡ nâng, một chiếc gậy uy linh bảo vệ chăm sóc. Bàn tay đó, chiếc gậy đó chính là “dòng nước Thánh Tẩy tinh tuyền”, là “Thánh Thể và Thánh Thần” của Đức Kitô phục sinh, “Người Chăn Chiên vô Hình”, âm thầm nhưng mãnh liệt, ẩn khuất nhưng đầy tràn, tưởng chừng xa xôi nhưng thật gần gũi…đã dẫn dắt đoàn chiên nhỏ trên từng cây số của lịch sử con người.
Chúng ta có thể đọc thấy sự đồng cảm trong ý tưởng nầy nơi bài thơ “Người Chăn Chiên vô hình” của linh mục thi sĩ Trăng Thập Tự. Xin trích [2]:
Thì ra Người ấy vẫn chăn chiên
Ngài vẫn chăn chiên cách độc quyền
Ngài ở đây từ bao thế hệ
Bầy chiên nhờ đó vẫn an nhiên.
Tôi cứ tưởng rằng chiên bơ vơ
Chẳng ốm tong teo cũng dại khờ
Tôi phải về mau làm mục tử
Ngờ đâu bé cái đã lầm to
Chiều nay lạc bước trở về đây
Mắt bổng rưng rưng lệ ướt đầy.
Ngài đã chăn từng con chiên nhỏ
No tròn bụ bẫm có ai hay…
Và trên cuộc hành trình theo sau Vị Mục Tử Nhân lành, “Người Chăn Chiên vô hình” đầy quyền năng đó, lại cứ đông vui, mỗi tháng, mỗi năm, mỗi ngày, qua bí tích rửa tội, không chỉ có “3000 người” như hôm Lễ Ngũ Tuần cách đây 2000 năm, mà hàng năm, cứ mỗi Đêm Vọng Phục Sinh trở về là có tới hàng chục vạn anh chị em dự tòng gia nhập Kitô giáo; và nếu nhìn xa hơn như sách Khải huyền trong BĐ 2 hôm nay, thì “Đoàn chiên nhỏ” hôm nào tụ tập chung quanh Người Mục Tử Giêsu đã vươn lên, lớn mạnh thành “đoàn dân vĩ đại” : “kìa; một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ…Họ là những người đã đến, sau khi trãi qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt và tẩy áo mình trong máu Con Chiên”.
2. Bước đi trong tiếng gọi của Người Mục Tử.
Có một chân lý nền tảng mà đã là kitô hữu, đã là thành viên trong Giáo Hội, ai ai cũng phải chấp nhận : Theo Đức Kitô thì phải “lắng nghe tiếng gọi của Người”, phải đi trên lối bước mà người Mục tử nhân lành đã khải lối dẫn đầu, phải luôn đối diện, gặp gỡ một Đấng Phục sinh. Tuy nhiên, rất ít người trong chúng ta thực hành đến nơi đến chốn chân lý nầy và cứ muốn tìm kiếm một “con đường rộng rãi thênh thang với đầy hoa thơm cỏ lạ” do ma quỷ hay cái tôi dục vọng đề xuất. Chính vì thế, suốt dọc dài lịch sử Hội Thánh, đã có không ít người đã bỏ cuộc, đã thối lui, sau khi đối diện thực sự với thập giá, với Canvê, với những đòi hỏi của Tin Mừng Tám Mối.
Vì thế, hơn lúc nào hết, mầu nhiệm “Mục Tử-Đàn chiên” cần được sống và thể hiện tích cực, sinh động và khôn ngoan trong một bối cảnh xã hội mà chủ nghĩa “bài giáo sĩ”, chủ nghĩa “phản đối Giáo Hội”, chủ nghĩa “trần tục hóa những giá trị thiêng thánh” và chủ nghĩa “tự do phóng túng” trước những nguyên tắc luân lý ngàn đời của Hội Thánh đang nỡ rộ khắp nơi. Ở giữa cái thế giới mà các phương tiện thông tin dày đặt và hiện đại ảnh hưởng đến từng centimét của cuộc sống, chúng ta nghe vang lên quá nhiều luồn sóng và âm thanh không phải của “Người Mục Tử nhân lành” mà là của “những Phản Ki-tô” đang bày đàng xúi dại cho những đàn chiên thật thà chơn chất quay lưng chối từ “Người Chăn chiên đích thực”, ngoãnh mặt với “cánh cửa đích thực của chuồng chiên” phát xuất từ Thiên Chúa.
Mỗi người Kitô hữu chỉ có một tờ “căn cước đích thực là Kitô hữu” khi tấm thẻ ấy được viết bằng ngôn ngữ của Tin Mừng mà Mẹ Hội Thánh dạy cho”; thứ ngôn ngữ của tình hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, Vị Cha Chung và là Đấng Đại diện cho Mục Tử Giêsu, thứ ngôn ngữ của niềm vâng phục khôn ngoan và trưởng thành các Đấng bản Quyền trong Hội Thánh, thứ ngôn ngữ của tình liên đới, bác ái với mọi anh chị em trong cộng đồng Dân Chúa, thứ ngôn ngữ của can đảm nhiệt tình nhưng khoan dung và tế nhị trong sứ vụ Ngôn sứ. Đó chính là ngôn ngữ mà Người chăn chiên Kitô đã từng căn dặn :
“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (TM)
3. Và thế giới hôm nay đang cần những “cuộc đập bể bình dầu thơm”.
Nhưng cũng đã 2000 năm, Người chăn chiên vô hình Giêsu lại không ngừng sai đến những mục tử môn sinh, những “cánh tay và chiếc gậy nối dài” của Ngài để chăm sóc đàn chiên mỗi ngày mỗi đông và cũng sinh ra lăm điều phức tạp. Chính vì thế, vẫn mãi mãi cần những Phêrô, những Gioan, những Giacôbê, những Maria Mađalêna, những Augustinô, Đôminicô, Phanxicô, Anrê Phú Yên, Têrêxa Calcutta, Gioan-Phaolô II
Chính trong trăn trở và thao thức đó, Đức cố GH.GP.II trong đoạn kết của Tông huấn Pastores Dabo vobis đã có những lời hiệu triệu thật tha thiết :
“Tôi xin gởi đến các gia đình một lời kêu gọi đặc biệt : xin các bậc cha mẹ, cách riêng những người làm mẹ, hãy quảng đại để ban tặng cho Chúa những người con của mình được Chúa mời gọi tiến tới chức linh mục; xin hãy vui mừng cọng tác vào tiến trình ơn gọi của con cái, đoan chắc rằng, bằng cách ấy, sẽ làm cho sự sai nở của Kitô giáo và của Giáo Hội, cũng là của mình, được nên lớn mạnh hơn và sâu rộng hơn và sẽ nghiệm biết, một cách nào đó, hạnh phúc của Đức Trinh Nữ Maria : “Trong số các phụ nữ, người được được diễm phúc, hoa quả lòng người thật đáng chúc tụng” (Lc 1,42)[3]
Ngài cũng đã động viên các bạn trẻ :
“Với những người trẻ hôm nay, tôi muốn nhắn nhủ điều nầy : các bạn hãy ngoan ngùy hơn nữa đối với Thần Khí, hãy để cho vang vọng lên trong lòng các bạn những nỗi mong chờ lớn lao của Giáo Hội và của nhân loại, đừng ngại mở rộng tâm trí các bạn trước lời mời gọi của Chúa Kitô, hãy khám phá ra ánh mắt yêu thương của Đức Giêsu đang hướng thẳng về phía các bạn và hãy đáp lại một cách hăng say lời Ngài đề nghị nối gót theo Ngài cho đến cùng”[4]
Cho nên hôm nay, Giáo Hội lại một lần nữa tha thiết nguyện cầu cho ơn kêu gọi linh mục-tu sĩ, cầu nguyện cho Giáo Hội có những tâm hồn quảng đại và anh hùng “sẵn sàng đập bể bình dầu thơm cuộc đời để xức chân cho Chúa, để làm rực lên mùi thơm cho ngôi nhà Giáo Hội” như cách cắt nghĩa đầy thâm thúy và chính xác trích đoạn Tin Mừng Gioan 12,1-8 của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II trong tông huấn Đời Thánh Hiến [5]:
…Dầu thơm quí giá được đổ ra như một tác động hoàn toàn vì tình yêu, và như thế vượt ra ngoài mọi tính toán "vụ lợi", là dấu chỉ của một sự nhưng không tràn đầy biểu lộ qua một đời sống được tiêu hao đi để yêu mến và phục vụ Chúa, để hiến thân cho Người và cho Nhiệm thể Người. Đời sống "được đổ tràn ra" không tính toán đó lan toả hương thơm khắp cả nhà. Cũng như xưa, ngôi nhà của Thiên Chúa là Giáo Hội được trang điểm và nên giàu có nhờ sự hiện diện của đời thánh hiến.”
Chúng ta hãy cầu xin cho thế giới hôm nay, Giáo Hội hôm nay và cộng đoàn giáo xứ chúng ta hôm nay có được những “cuộc đập bể bình dầu thơm” ngoạn mục như thế.
LM. Giuse Trương Đình Hiền
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Henryk Sienkievich, Quo vadis, Tiểu thuyết, bản dịch của Nguyễn Hữu Dụng, NXB Văn Học, Hà Nội - 1986
[2] Trăng Thập Tự,Có ai về Cát Minh, Tuyển tập thơ, NXB Tôn giáo, Hà Nội – 2005, tr. 78
[3] ĐGH. GP. II, Tông huấn Pastores dabo vobis, tr. 200
[4] Sđd, tr. 200
[5] ĐGH. GP. II, Tông huấn Đời Thánh Hiến, số 104, tr. 212
Bước đi trong tiếng gọi của Người Mục Tử
Dẫn nhập đầu lễ : Kính thưa cộng đoàn,
Chúng ta đang họp nhau cử hành Chúa Nhật “Chúa Chiên Lành”, mà sứ điệp phụng vụ có nội dung cốt lõi đó là : Đức Kitô, Vị Mục Tử nhân lành, nhờ cái chết và sự phục sinh, Ngài đã mang lại cho chúng ta nguồn sống dồi dào. Cũng chính trong ý nghĩa nầy, Hội Thánh đã chọn Ngày Chúa Nhật hôm nay làm ngày “Quốc Tế cầu nguyện cho ơn gọi linh mục-tu sĩ để Giáo Hội có thêm nhiều ơn gọi dấn thân trong chức linh mục và đời sống thánh hiến; đặc biệt cầu nguyện cho Giáo phận, giáo hạt và giáo xứ chúng ta có được nhiều tâm hồn thanh niên thiếu nữ quảng đại và nhiệt thành đáp trả lời mời gọi của Chúa Kitô trên con đường tu trì. Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho tất cả những ai đang dấn thân trên con đường thánh thiện nhưng cũng đầy thử thách gian nan nầy được trung thành mỗi ngày trong chọn lựa của mình để phục vụ Chúa và anh chị em.
Giờ đây, để xứng đáng cử hành Thánh lễ, xứng đáng sống trọn vẹn ơn gọi của Bí Tích Thánh Tẩy, là nhiệm tích đưa chúng ta vào đời sống siêu nhiên do chính Đức Kitô Vị Mục Tử Nhân Lành dẫn đưa và chăm sóc, chúng ta hãy (đón nhận Nước Thánh với tâm hồn sám hối).
Giảng Lời Chúa : Kính thưa ông bà và anh chị em,
Có một bài Thánh vịnh trong Thánh Kinh Cựu Uớc mà hình như tôi đọc chưa bao giờ thấy chán đó chính là Thánh vịnh 22 (Có chỗ ghi là 23), mang tựa đề “Mục tử nhân hậu”. Bởi chưng, khi cầu nguyện với Thánh vịnh nầy, tôi cam thấy cuộc đời bé nhỏ dại khờ ốm đói của tôi lại được chính Thiên Chúa, Vị Mục Tử nhân lành ân cần chăm sóc dẫn đưa trên những lối “đậm nghĩa yêu thương và chan hòa ân sủng” của Ngài; sự ân cần chăm sóc ấy được diển tả bằng những hình ảnh rất thân thương dịu vợi và cũng gần gũi đời thường : “đồng cỏ xanh, dòng nước trong, dầu thơm, rượu đầy…”
“Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi năm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi…
Dẫu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng…
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
Ly rượu con dầy tràn chan chứa…”
Tuy nhiên, nếu tinh ý một chút, chúng ta có thể nhận ra rằng : nơi những hình ảnh thoạt như tình cờ, chân quê mộc mạc của môi trường du mục trên vùng thảo nguyên Palestine được mô tả trong thánh vịnh 22 lại cưu mang cả một “kho tàng ý nghĩa” sẽ được đong đầy và hiện thực ngay chính trong Mùa Phục Sinh nầy.
Thật vậy, nếu Gia-vê Thiên Chúa, “Người Mục Tử của cựu ước” dẫn dắt đoàn chiên với “dòng nước trong”, với “rượu đầy tràn”, với “dầu thơm lựng”, thì “Người Chăn Chiên của Tân ước”, Đức Kitô -Tử nạn - Phục sinh, đã chăm sóc “đoàn chiên mới” với “dòng nước tinh tuyền của Nhiệm tích Thánh Tẩy”, với “ly rượu, tấm bánh là chính Máu Thịt Người”, với “Dầu Thánh Thần được thông ban qua hồng ân Thêm Sức”.
Chẳng phải trọng tâm của mùa Phụng Vụ Phục Sinh đó chính là cử hành, sống và đào sâu ý nghĩa của ba Nhiệm Tích Khai Tâm Kitô giáo : Thánh Tẩy, Thánh Thể và Thêm sức đó sao ! Và đó chính là phương thế, là con đường, là năng lực Người Chăn chiên vô hình Giêsu” đã chọn để chăm sóc, dẫn đưa và nuôi sống đoàn chiên mà Ngài đã cứu chuộc bằng chính cuộc Nhập Thể-Tử nạn- Phục sinh của Ngài suốt 2000 năm nay và cho mãi đến tận thế.
Khẳng định điều đó cũng có nghĩa là một lần nữa chúng ta tuyên xưng : Hôm qua, hôm nay và mãi mãi, “Người chăn chiên vô hình Giêsu-Kitô” chưa bao giờ buông tay bỏ mặc đoàn chiên nhỏ của Người.
1. Người Chăn chiên vô hình đang có mặt.
Đó chính là chân lý của hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Đức Kitô Mục Tử, Người Chăn chiên vô hình đã chăn dắt đoàn chiên bé bỏng của Ngài ngay từ thuở ban sơ, ngay từ khi còn trong trứng nước và Ngài vẫn chăn dắt đàn chiên của Ngài như thế trãi dài qua muôn thế hệ. Chúng ta thử đưa mắt theo dấu sách Công Vụ Tông đồ để nhìn về điểm khởi đầu của Hội Thánh.
Khi các Thượng tế Do Thái thành công trong việc đòi tổng trấn Philatô cho bằng được “bản án tử hình Đức Giêsu Nadarét”, thì họ chắc mẩm rằng : cái tổ chức gọi là “Nước thiên Chúa” của tên Giêsu thợ mộc người Nadarét kia vĩnh viễn bị “xóa sổ bụi đời”, và nhóm tông đồ cọng sự viên thân tín quê mùa dốt nát xuất thân từ làng chài Galilê kia rồi cũng sẽ rã đám, chả làm được trò trống gì để đáng quan ngại. Tuy nhiên, hơn 50 ngày sau cái chết của Giêsu, cũng ngay tại thủ đô Giêrusalem, giữa thanh thiên bạch nhật, Phêrô, người tông đồ đã từng sợ hải chối thầy 3 lần trong đêm thầy bị bắt, đã hùng hồn công bố “sứ điệp phục sinh”, làm chứng Đức Giêsu và Vương quốc của Ngài đang thực sự bắt đầu, một sự kiện làm “choáng váng” giới lãnh đạo Do Thái giáo.
Và một cú “sốc” nặng nề khác dội vào các lãnh đạo Do Thái Giáo, dội vào các cơ chế cứng ngắt của Đạo Cũ, đó chính là “sự trở lại của chàng thanh niên Biệt phái Saolô khi với biến cố Đamas đã trở thành Tông đồ Phaolô hăng say rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu, mặc cho bao nhiêu đe dọa, khước từ, tẩy chay và nguy hiểm. ( Như sách Công Vụ Tông đồ nhắc đến trong BĐ 1 hôm nay) :
“Những người Do Thái sách động nhóm phụ nữ thượng lưu và đã theo đạo Do Thái,và những thân hào trong thành, xúi dục họ ngược đãi ông Phaolô và ông Banaba,và trục xuất hai ông khỏi lãnh thổ của họ”.
Nếu cho rằng, Hội Thánh sở dĩ có mặt, kiện toàn và phát triển là hoàn toàn do những phương thế và yếu tố trần tục thì không nghiêm chỉnh chút nào. Bởi chưng, ngay từ những tháng năm đầu giáp mặt cùng thế giới, thế giới cuồng tín và duy luật của do Thái, thế giới triết lý văn hóa sâu sắc của Hi Lạp, thế giới đa thần, hưởng thụ và và hùng cường của đế quốc Rôma…quả thật “đàn chiên nhỏ” của Đức Kitô chỉ là “hạt bụi, là cỏ dại bên vệ đường lịch sử”, những hạt bụi, những cọng cỏ lại liên tục bị những “bàn chân sắt máu” của con người chà đạp, bách hại thảm thương. Thế nhưng những hạt bụi bé bỏng, những cọng cỏ âm thầm đó cứ tồn tại và lớn lên, cho đến một ngày đã trở nên một “Nhiệm Thể” đĩnh đạt, một “Cây Tùng” tỏa bóng khắp địa cầu, hay như ngôi “Đại Thánh Đường Phêrô” sừng sững trên đồi Vatican mà Sienkievich đã nhắc đến trongđoạn kết thúc tác phẩm “Quo Vadis” :
“Và thế là qua đi Nêrô, như đã qua đi cơn lốc, giông bảo, hỏa hoạn, chiến tranh hay một cơn ác mộng, còn Ngôi Đại Thánh Đường Thánh Phêrô cho tới nay vẫn đang ngự trị thành đô và thế giới từ trên cao nguyên Vatican”[1]
Chỉ có thể cắt nghĩa được “hiện tượng” nầy : đó là nhờ có một sức thiêng, một điểm tựa nhiệm mầu, một bàn tay quyến thế dẫn dắt đỡ nâng, một chiếc gậy uy linh bảo vệ chăm sóc. Bàn tay đó, chiếc gậy đó chính là “dòng nước Thánh Tẩy tinh tuyền”, là “Thánh Thể và Thánh Thần” của Đức Kitô phục sinh, “Người Chăn Chiên vô Hình”, âm thầm nhưng mãnh liệt, ẩn khuất nhưng đầy tràn, tưởng chừng xa xôi nhưng thật gần gũi…đã dẫn dắt đoàn chiên nhỏ trên từng cây số của lịch sử con người.
Chúng ta có thể đọc thấy sự đồng cảm trong ý tưởng nầy nơi bài thơ “Người Chăn Chiên vô hình” của linh mục thi sĩ Trăng Thập Tự. Xin trích [2]:
Thì ra Người ấy vẫn chăn chiên
Ngài vẫn chăn chiên cách độc quyền
Ngài ở đây từ bao thế hệ
Bầy chiên nhờ đó vẫn an nhiên.
Tôi cứ tưởng rằng chiên bơ vơ
Chẳng ốm tong teo cũng dại khờ
Tôi phải về mau làm mục tử
Ngờ đâu bé cái đã lầm to
Chiều nay lạc bước trở về đây
Mắt bổng rưng rưng lệ ướt đầy.
Ngài đã chăn từng con chiên nhỏ
No tròn bụ bẫm có ai hay…
Và trên cuộc hành trình theo sau Vị Mục Tử Nhân lành, “Người Chăn Chiên vô hình” đầy quyền năng đó, lại cứ đông vui, mỗi tháng, mỗi năm, mỗi ngày, qua bí tích rửa tội, không chỉ có “3000 người” như hôm Lễ Ngũ Tuần cách đây 2000 năm, mà hàng năm, cứ mỗi Đêm Vọng Phục Sinh trở về là có tới hàng chục vạn anh chị em dự tòng gia nhập Kitô giáo; và nếu nhìn xa hơn như sách Khải huyền trong BĐ 2 hôm nay, thì “Đoàn chiên nhỏ” hôm nào tụ tập chung quanh Người Mục Tử Giêsu đã vươn lên, lớn mạnh thành “đoàn dân vĩ đại” : “kìa; một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ…Họ là những người đã đến, sau khi trãi qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt và tẩy áo mình trong máu Con Chiên”.
2. Bước đi trong tiếng gọi của Người Mục Tử.
Có một chân lý nền tảng mà đã là kitô hữu, đã là thành viên trong Giáo Hội, ai ai cũng phải chấp nhận : Theo Đức Kitô thì phải “lắng nghe tiếng gọi của Người”, phải đi trên lối bước mà người Mục tử nhân lành đã khải lối dẫn đầu, phải luôn đối diện, gặp gỡ một Đấng Phục sinh. Tuy nhiên, rất ít người trong chúng ta thực hành đến nơi đến chốn chân lý nầy và cứ muốn tìm kiếm một “con đường rộng rãi thênh thang với đầy hoa thơm cỏ lạ” do ma quỷ hay cái tôi dục vọng đề xuất. Chính vì thế, suốt dọc dài lịch sử Hội Thánh, đã có không ít người đã bỏ cuộc, đã thối lui, sau khi đối diện thực sự với thập giá, với Canvê, với những đòi hỏi của Tin Mừng Tám Mối.
Vì thế, hơn lúc nào hết, mầu nhiệm “Mục Tử-Đàn chiên” cần được sống và thể hiện tích cực, sinh động và khôn ngoan trong một bối cảnh xã hội mà chủ nghĩa “bài giáo sĩ”, chủ nghĩa “phản đối Giáo Hội”, chủ nghĩa “trần tục hóa những giá trị thiêng thánh” và chủ nghĩa “tự do phóng túng” trước những nguyên tắc luân lý ngàn đời của Hội Thánh đang nỡ rộ khắp nơi. Ở giữa cái thế giới mà các phương tiện thông tin dày đặt và hiện đại ảnh hưởng đến từng centimét của cuộc sống, chúng ta nghe vang lên quá nhiều luồn sóng và âm thanh không phải của “Người Mục Tử nhân lành” mà là của “những Phản Ki-tô” đang bày đàng xúi dại cho những đàn chiên thật thà chơn chất quay lưng chối từ “Người Chăn chiên đích thực”, ngoãnh mặt với “cánh cửa đích thực của chuồng chiên” phát xuất từ Thiên Chúa.
Mỗi người Kitô hữu chỉ có một tờ “căn cước đích thực là Kitô hữu” khi tấm thẻ ấy được viết bằng ngôn ngữ của Tin Mừng mà Mẹ Hội Thánh dạy cho”; thứ ngôn ngữ của tình hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, Vị Cha Chung và là Đấng Đại diện cho Mục Tử Giêsu, thứ ngôn ngữ của niềm vâng phục khôn ngoan và trưởng thành các Đấng bản Quyền trong Hội Thánh, thứ ngôn ngữ của tình liên đới, bác ái với mọi anh chị em trong cộng đồng Dân Chúa, thứ ngôn ngữ của can đảm nhiệt tình nhưng khoan dung và tế nhị trong sứ vụ Ngôn sứ. Đó chính là ngôn ngữ mà Người chăn chiên Kitô đã từng căn dặn :
“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (TM)
3. Và thế giới hôm nay đang cần những “cuộc đập bể bình dầu thơm”.
Nhưng cũng đã 2000 năm, Người chăn chiên vô hình Giêsu lại không ngừng sai đến những mục tử môn sinh, những “cánh tay và chiếc gậy nối dài” của Ngài để chăm sóc đàn chiên mỗi ngày mỗi đông và cũng sinh ra lăm điều phức tạp. Chính vì thế, vẫn mãi mãi cần những Phêrô, những Gioan, những Giacôbê, những Maria Mađalêna, những Augustinô, Đôminicô, Phanxicô, Anrê Phú Yên, Têrêxa Calcutta, Gioan-Phaolô II
Chính trong trăn trở và thao thức đó, Đức cố GH.GP.II trong đoạn kết của Tông huấn Pastores Dabo vobis đã có những lời hiệu triệu thật tha thiết :
“Tôi xin gởi đến các gia đình một lời kêu gọi đặc biệt : xin các bậc cha mẹ, cách riêng những người làm mẹ, hãy quảng đại để ban tặng cho Chúa những người con của mình được Chúa mời gọi tiến tới chức linh mục; xin hãy vui mừng cọng tác vào tiến trình ơn gọi của con cái, đoan chắc rằng, bằng cách ấy, sẽ làm cho sự sai nở của Kitô giáo và của Giáo Hội, cũng là của mình, được nên lớn mạnh hơn và sâu rộng hơn và sẽ nghiệm biết, một cách nào đó, hạnh phúc của Đức Trinh Nữ Maria : “Trong số các phụ nữ, người được được diễm phúc, hoa quả lòng người thật đáng chúc tụng” (Lc 1,42)[3]
Ngài cũng đã động viên các bạn trẻ :
“Với những người trẻ hôm nay, tôi muốn nhắn nhủ điều nầy : các bạn hãy ngoan ngùy hơn nữa đối với Thần Khí, hãy để cho vang vọng lên trong lòng các bạn những nỗi mong chờ lớn lao của Giáo Hội và của nhân loại, đừng ngại mở rộng tâm trí các bạn trước lời mời gọi của Chúa Kitô, hãy khám phá ra ánh mắt yêu thương của Đức Giêsu đang hướng thẳng về phía các bạn và hãy đáp lại một cách hăng say lời Ngài đề nghị nối gót theo Ngài cho đến cùng”[4]
Cho nên hôm nay, Giáo Hội lại một lần nữa tha thiết nguyện cầu cho ơn kêu gọi linh mục-tu sĩ, cầu nguyện cho Giáo Hội có những tâm hồn quảng đại và anh hùng “sẵn sàng đập bể bình dầu thơm cuộc đời để xức chân cho Chúa, để làm rực lên mùi thơm cho ngôi nhà Giáo Hội” như cách cắt nghĩa đầy thâm thúy và chính xác trích đoạn Tin Mừng Gioan 12,1-8 của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II trong tông huấn Đời Thánh Hiến [5]:
…Dầu thơm quí giá được đổ ra như một tác động hoàn toàn vì tình yêu, và như thế vượt ra ngoài mọi tính toán "vụ lợi", là dấu chỉ của một sự nhưng không tràn đầy biểu lộ qua một đời sống được tiêu hao đi để yêu mến và phục vụ Chúa, để hiến thân cho Người và cho Nhiệm thể Người. Đời sống "được đổ tràn ra" không tính toán đó lan toả hương thơm khắp cả nhà. Cũng như xưa, ngôi nhà của Thiên Chúa là Giáo Hội được trang điểm và nên giàu có nhờ sự hiện diện của đời thánh hiến.”
Chúng ta hãy cầu xin cho thế giới hôm nay, Giáo Hội hôm nay và cộng đoàn giáo xứ chúng ta hôm nay có được những “cuộc đập bể bình dầu thơm” ngoạn mục như thế.
LM. Giuse Trương Đình Hiền
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Henryk Sienkievich, Quo vadis, Tiểu thuyết, bản dịch của Nguyễn Hữu Dụng, NXB Văn Học, Hà Nội - 1986
[2] Trăng Thập Tự,Có ai về Cát Minh, Tuyển tập thơ, NXB Tôn giáo, Hà Nội – 2005, tr. 78
[3] ĐGH. GP. II, Tông huấn Pastores dabo vobis, tr. 200
[4] Sđd, tr. 200
[5] ĐGH. GP. II, Tông huấn Đời Thánh Hiến, số 104, tr. 212