CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH C

LẮNG NGHE VÀ THỰC HÀNH LỜI CHÚA TRONG CUỘC SỐNG

Ga 10, 27 – 30


Thưa quý vị,

Tuần trước tôi đề nghị mùa này chúng ta suy niệm bài đọc 1 và 2, tức sách Tông Đồ Công Vụ và sách Khải Huyền. Tuần vừa qua, chúng ta suy niệm về sách Khải Huyền. Tuần này về Công Vụ.

Thánh sử Luca kết thúc Phúc Âm khá đột ngột với lời dặn dò của Chúa Giêsu: “Phần thầy, thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em hãy ở lại trong thành cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”(Lc 24,49). Trong Công Vụ Tông Đồ, Luca nhắc lại lời hứa ấy: “Một hôm, đang khi dùng bữa với các tông đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe thầy nói.” (Cv 1, 4). Chúng ta nên theo gương các môn đệ, cũng chờ đợi ơn đổi mới của thần khí đổ xuống trên chúng ta và trên Giáo Hội. Nghĩa là cầu nguyện và tỉnh thức suốt mùa Phục Sinh này cho tới ngày đức Thánh Linh ngự xuống. Công Vụ tuyên bố rõ như vậy khi mô tả lưỡi lửa xuất hiện và đậu trên mỗi môn đệ trong nhà tiệc ly – tức lời hứa cuả Chúa Giêsu đã được làm tròn: “Và họ đầy tràn Thần Khí.”(2, 4). Bản văn hôm nay mô tả sứ vụ của hai môn đệ Barnaba và Phaolô (13, 1-15; 35). Phaolô có cơ hội rao giảng trong hội đường (13, 16-41). Đầu tiên người ta nghe ông thuận lợi. Nhưng ngày thứ 7 sau, ông gặp chống đối từ “các người Dothái”. Hậu quả là ông và Barnaba chuyển đổi sứ vụ “Chúng tôi sẽ quay sang dân ngoại”. Đây là khúc quẹo quyết định của Giáo Hội tiên khởi, đúng lúc mà các ông nhận ra rằng ơn cứu độ của Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho dân Dothái mà thôi, nhưng cho cả thế giới.

Bước đi từ đóng kín sang mở rộng không phải dễ dàng. Giáo Hội tiên khởi đã ăn rễ sâu trong truyền thống Dothái, lúc này thay đổi não trạng để chấp nhận dân ngoại quả là điều khó khăn. Hơn nữa các dân ngoại đâu có biết chi về truyền thống và tôn giáo của các tín hữu tiên khởi thì làm thế nào thích nghi nổi? Ngoài ra dân tộc Dothái từng chịu và đang chịu đau khổ do các bàn tay độc ác của quyền bính dân ngoại. Làm sao có thể tin tưởng và yêu mến “dân ngoại”? Những cuộc lưu đày Ai Cập, Babylon, những kiếp nô lệ, thần phục ngoại bang chưa đủ bằng chứng sao? Chưa chết đối với não trạng truyền thống tôn giáo của cha ông và ngay cả dân chúng lúc này, dân ngoại chẳng qua chỉ là kẻ thờ ngẫu tượng, phục bái gỗ đá, satan, và vô luân thường đạo lý thì làm sao ngồi chung với họ? Cho nên các tín hữu gốc Dothái phải chịu một sự chia rẽ đau đớn. Một số muốn giữ cặn kẽ luật Môsê và truyền thống của dân tộc không muốn quan hệ với dân ngoại, ngay cả khi họ đã tin kính Đức Kitô. Số khác ý thức về nghĩa vụ truyền giáo Chúa ban, muốn rao giảng Ngài cho muôn dân, đem họ về tin kính Đức Kitô càng nhều càng tốt.

Ngay cả thời nay việc mở cưả Giáo Hội cho cộng đồng dân ngoại, thâu nhận họ vào hàng ngũ tín hữu không phải lúc nào cũng thuận lợi. Cứ nhìn xem tình hình các giáo xứ hẳn chúng ta nhận ra sự thật: Di dân, người nước ngoài, da màu, nghèo khổ, thất nghiệp, ly dị, đồng tính luyến ái đâu có được chấp nhận dễ dàng, đâu có hoà hợp hoàn hảo? Cứ hỏi chính các đương sự, người ta sẽ cho biết mình bị các chức sắc Giáo Hội “hành” ra sao? Giấy tờ, tiền bạc, chứng minh thư, điều kiện, thôi thì đủ mọi thứ! Có người phải mất tới nửa năm mới “ổn” được một chỗ trong giáo xứ! Thử hỏi chúng ta có tiến bộ hơn công đoàn tín hữu tiên khởi? Câu trả lời phải là “không”, vì tiêu cực đầy rẫy.

Vậy thì tại sao lại xảy ra tình trạng đó? Nhiều người ngày nay đặt câu hỏi: “ecumenism”(phong trào đại kết) mà Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII lớn tiếng hô hào nghĩa là gì? (ĐGH dùng tiếng Ý “aggionamento”). Đã là tín hữu Chúa Kitô, tại sao người ta phân biệt, kỳ thị? Tín hữu Chúa Kitô, hay tín hữu cha này, cha kia? Rào cản tự ý dựng nên nhiều quá! Tại sao sợ hãi tìm hiểu đối thoại? Sợ mất cái chi? Thua thiệt điều gì mà không hạ bớt các hàng rào ngăn cách các tín hữu? Phải chăng sợ mất uy quyền, lợi lộc, căn cước? Câu hỏi không khó trả lời. Cho nên chúng ta không thể trách cứ cộng đồng tiên khởi. Việc Phaolô, Barnaba quay sang dân ngoại là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Hội Thánh! Chọn lựa của hai vị rất đúng và do Thánh Linh quyết định.

Suy gẫm kỹ hơn, người ta nhận ra đặc tính của các tông đồ sau khi Chúa lên trời là sẵn lòng chịu bách hại và khiển trách, một đặc trưng của các ngôn sứ! Bài đọc kể, nếu nơi nào đó, người nào đó từ chối, các ngài rũ bụi chân lại mà đi nơi khác, vì Lời Chúa không thể bị trói buộc. Bị khước từ, họ không bi quan yếm thế, nhưng ý thức mạnh mẽ hơn sứ vụ “bởi Chúa đã truyền cho chúng tôi phải nói nhân danh Đức Kitô.” Đấy cũng là đặc trưng khác của các tông đồ. Bài đọc tuần qua kể: “Các tông đồ ra khỏi thượng hội đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Kitô” (Cv 5, 4). Khi đi rao giảng lần thứ nhất, các tông đồ loại trừ dân ngoại (Mt 10, 5). Nhưng hôm nay hai ông Barnaba và Phaolô lại đến với họ. Sau này Phaolô được mệnh danh là tông đồ dân ngoại. Như vậy các ông đã ngộ ra lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ thầy".(Mt 28, 19). Phúc Âm phải vươn tới thế giới. Do thái và dân ngoại không loại ra khỏi tầm với của nó. Hai tông đồ ý thức được điểm nhấn của Chúa trong sứ vụ rao giảng.

Như vậy trong tinh thần của họ, chúng ta cũng nên thực hiện một bước ngoặt trong nhiệm vụ gieo rắc Lời Chúa cho thế giới, nhất là trực tiếp trong môi trường giáo xứ, các đoàn thể và phụng vụ. Xin đừng “hành” thiên hạ nữa, mà thực sự phục vụ. Gặp khó khăn thì nên tháo gỡ thay vì trói buộc, cảm thông hơn là hành quyền. Liệu quý chức trong ban hành giáo, giám đốc các đoàn thể có phản ứng ra sao về tính đa dạng trong các hàng ghế nhà thờ? Kỳ thị hay thân thiện? Liệu ý kiến của thiểu số được tôn trọng hay đám đông a dua nịnh bợ bề trên là hơn hết? Liệu đúng là nhóm cầm “nọc” quyết định mọi sự? Liệu chúng ta có vui lòng chào đón những di dân, người ngoại quốc hay khinh bỉ, tẩy chay? Liệu “dân ngoại” tân thời có tồn tại trong giáo xứ chúng ta? Nhiều câu hỏi khác sẽ thức tỉnh thái độ giữ đạo của tín hữu hôm nay. Lời Chúa Giêsu trước khi về trời là hứu ban Thánh Thần xuống trên các môn đệ, Thần Khí của Ngài sẽ đem khả năng cho các ông hiểu đúng và tuân giữ các lệnh truyền. Ngày lễ hiện xuống, chúng ta cử hành Chúa Thánh Thần xuất hiện trên mỗi linh hồn và ở với chúng ta luôn mãi. Trong danh Thần Khí đó mà Barnaba và Phaolô đã đến với dân ngoại. Còn chúng ta thì sao? “Dân ngoại” của chúng ta là những ai? Tin Mừng hôm nay sẽ trả lời câu hỏi.

Chúa nhật 4 Phục sinh được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Tiêu đề này phần nào trả lời cho câu hỏi trên. Trước bản văn là tường thuật Chúa Giêsu đi đi lại lại trong đền thờ vào dịp lễ cung hiến: “Khi ấy, ở Giêrusalem người ta đang mừng lễ cung hiến đền thờ. Bấy giờ là mùa đông, Đức Giêsu đi đi lại lại trong đền thờ, tại hành lang Salomon” (Ga 10, 23). Vậy thì bối cảnh là lễ cung hiến đền thờ tại thành thánh Giêrusalem.

Đền thờ này bị vua Antiocho và người Seleucid làm ô uế khi họ chiếm đóng Giuđa. Tướng Maccabêô và anh em nổi dậy đánh đuổi quân thù. Các ông thành công, tẩy rửa và thánh hiến đền thờ. Hàng năm người Dothái kỷ niệm biến cố này trọng thể vào phỏng tháng 9 dương lịch, Phúc Âm Gioan chỉ viết là mùa đông. Đây cũng là kỷ niệm chiến công hiển hách của dân Dothái chống ngoại xâm.

Dịp lễ rất là trọng đại, có ý nghĩa sâu sắc cho việc Chúa Giêsu tự xưng là Chúa Chiên Lành, Chúa chiên đích thực như chúng ta vừa nghe trong bài đọc 3. cứ như văn bản, khi việc nổi dây và tài lãnh đạo cách mạng được kính nhớ, người Dothái vây quanh Chúa Giêsu hỏi Ngài “Ông còn để lòng trí chúng tôi thắc mắc cho tới bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.” Câu hỏi biểu lộ họ đang trông đợi một Giuđa Maccabeo mới để chống lại quân ngoại xâm Lamã.

Bài đọc hôm nay tiếp nối, Chúa Giêsu trả lời cho họ: “Tôi đã nói cho các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin vì các ông không thuộc về đàn chiên của tôi. Chiên tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi.”

Chúa Giêsu có thể dễ dàng thuận theo ý muốn của người Dothái, kêu gọi dân chúng đứng dậy chống Rôma như nhiều người đã làm. Ngài sẽ có cả một đám đông hùng hậu đằng sau mình. chí ít cũng 5 ngàn đàn ông muốn tôn Ngài làm vua sau phép lạ hoá bánh trước đó.

Nhưng không, sứ vụ lãnh đạo của Ngài mang ý nghĩa khác. Ngài lấy lại hình ảnh chúa chiên lành của các ngôn sứ trong Cựu Ước, nhất là Amos, Isaia, David, những ngôn sứ đã từng là kẻ chăn chiên. Dĩ nhiên khi nghe Ngài dân chúng nhớ lại kỷ niệm về các ngôn sứ và nội dung họ rao giảng. Vua chúa Giuđa, Israel cũng được mệnh danh là kẻ chăn dắt tuyển dân. Nhưng sau khi loại bỏ các vua chúa bất xứng, không trung thành với giao ước thì Thiên Chúa hứa ban cho dân tộc một người dẫn dắt mới “bonum pastorem dabo vobis”(Ta sẽ ban cho các ngươi một chúa chiên tốt lành).

Đó chính là hình ảnh Chúa Giêsu nói đến hôm nay, chứ không phải Maccabêô mới mà người Dothái mong chờ. Ngài xưng mình là mục tử nhân lành, là sứ giả của Thiên Chúa và các công việc Ngài làm tỏ lộ như vậy. Nếu như tuyển dân được giải phóng, sống tự do hạnh phúc thì họ phải được Thiên Chúa chăm sóc, hướng dẫn và đi trong đường lối của Ngài, chứ không phải bạo lực chính trị. Những ai nghe tiếng Chúa Giêsu thì Ngài sẽ chăm sóc. Người mục tử tốt luôn bên cạnh đàn chiên và đàn chiên nhận ra và đi theo người ấy. Chẳng có chi phân tán được đàn chiên- ngay cả sự chết và cửa hoả ngục: “Ta sẽ ban cho chúng sự sống đời đời, chúng sẽ không bị diệt vong.” Chắc chắn đây không phải là lời hứa hão huyền.

Cho nên hôm nay là cơ hội tốt để chúng ta gẫm lại ơn gọi của mình. mỗi người đều có ơn gọi. Nhưng ơn gọi chung nhất và căn bản nhất là yêu mến. Yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Nhất là các linh mục, tu sĩ phải nêu cao tấm gương mục tử.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, khi nói với 23 thày phó tế trước mặt ngài để lãnh tác vụ linh mục, ngài đã lý luận như sau: “Người ta gọi tôi là đại diện Chúa Kitô, nhưng chức vụ ấy đâu bằng chức vụ mục tử mà các thày sắp lãnh nhận? Nó nói lên rằng các thày sẽ hành động trong ngôi vị Đức Kitô (in persona christi). Trong ngôi vị Đức Kitô mạnh mẽ và đòi hỏi hơn đại diện Chúa Kitô. Đó là một màu nhiệm ghê gớm và hấp dẫn.” Các linh mục nghĩ thế nào? Vì hôm nay cũng là ngaỳ cầu nguyện cho ơn gọi linh mục!

Giống như các tông đồ, họ phải chịu bắt bớ, chết chóc hàng ngày như chức vụ môn đệ Chúa đói hỏi. Chúng ta cũng sẽ gặp hoàn cảnh tương tự cho đế khi đối diện với cái chết thể lý. Chúng ta phải neo chặt vào Lời Chúa và nghe thấu tiêng Ngài, vì vậy dù ở giữa Phúc Âm Gioan, Giáo Hội cũng chọn cho chúng ta nghe đọc hôm nay, giữa mùa Phục Sinh. Ngõ hầu tiếng Đấng sống lại từ cõi chết sẽ ban cho chúng ta khả năng chọn lựa Chúa và ở gần Ngài mãi mãi cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay. Tiếng ban sự sống đời đời sẽ khiến chúng ta trung thành với sứ vụ của ơn gọi. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ diệt vong. Không còn hy vọng nào đẹp đẽ hơn. Amen. Alleluia.