Suy niệm về nhân đức thinh lặng của Chúa Giêsu
Nhân dịp có Toà Án tại Huế xử người anh em linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý của tôi, tôi có bài suy niêm sau đây về Nhân Đức Thinh Lặng của Chúa Giêsu. Tôi xin thân tặng Quý Vị bài suy niệm nầy.
Thinh lặng là điểm nổi bật nhất trong cuộc đời Chúa Giêsu Cứu Thế, Con Thiên Chúa giáng trần, Ngôi Lời Nhập Thể.
Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người trong một đêm khuya thanh vắng tịch mịch. Ngài ra đời trong thinh lặng. Thiên thần say sưa vang lên những tiếng hát trên trời cao, nhưng ngoại trừ một số rất ít người lắng nghe được trong thinh lặng, còn hầu hết mọi người của thị trấn Bêlem đều yên ngủ.
Trong đời sống trần thế của mình, Chúa Giêsu thích sống ẩn dật trong thinh lặng. Ba mươi năm trời sống ở Nadarét, Chúa Giêsu sống thinh lặng. Tin Mừng chỉ để lại một lời của ngài nhắc nhở sứ mạng chính yếu của Đấng Cứu Thế: “Cha mẹ không biết rằng con phải lo việc cho Cha con sao ?” (Lc 2,49).
Khi sắp ra truyền đạo, việc đầu tiên của Chúa Giêsu là đi vào rừng vắng, ăn chay, cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa bốn mươi đêm ngày trong thinh lặng.
Trong đời sống truyền đạo ba năm, Chúa Giêsu luôn tìm dịp để sống thinh lặng: ban ngày thì giảng dạy, ban đêm thì còn thức khuya để cầu nguyện, để rồi ban sáng còn dậy thật sớm, đi vào nơi thanh vắng để cầu nguyện.
Chúa Giêsu khuyên các môn đệ yêu thích sự thinh lặng, vì thế, ngài cùng các môn đệ đi tìm nơi thanh vắng: “Người bảo các ông : “ Chính các con hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31), hoặc ra lệnh cho các môn đệ đi xa khỏi dân chúng để tránh sự rộn ràng: “Lập tức, Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia về phía thành Bét-xai-đa trước, trong lúc Người giải tán đám đông" (Mc 6,45).
Chúa Giêsu khuyên hãy cầu nguyện trong phòng vắng lặng, trong nơi kín đáo, chỉ một mình Thiên Chúa biết mà thôi: “Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh ” (Mt 6,6).
Trong khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu yêu chuộng những người bình dân mộc mạc vì tâm hồn họ đơn sơ, giản dị, không tự ái, không ôm đồm, không để cho những lo lắng vật chất nổi lên rộn ràng trong lòng mình. Nhiều lần, Chúa dùng dụ ngôn giảng dạy họ vì dụ ngôn thích hợp với những tâm hồn giản dị, đơn sơ, những tâm hồn biết thinh lặng.
Trong khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu không dùng những quảng cáo rùm beng. Ngài xa lánh những sự náo nhiệt rầm rộ. Ngài muốn Nhà Cha của ngài phải là nhà cầu nguyện, nhà thinh lặng để được lắng nghe Lời Chúa.
Chúa Giêsu sống rất kín đáo, tế nhị. Ngài chỉ cần sự kiện nói lên là đủ. Vì thế, khi làm xong phép lạ, ngài không muốn kẻ thụ ơn lớn tiếng cao rao, nhưng yêu cầu họ giữ sự việc kín đáo. Khi ma quỷ lên tiếng, ngài bắt chúng im ngay vì ngài biết chúng là cha của sự rộn ràng láo khoét. Đến như sóng biển và bão táp ồn ào nổi lên, khi cần, ngài cũng bắt chúng phải lặng yên như tờ.
Trong khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu không chịu nổi thế hệ cứng lòng tin và gian tà, đâỳ rộn ràng ồn ào huyên náo, vì thế, ngài thích tìm những nơi vắng vẻ tịch mịch để sống đời nội tâm thinh lặng: "Chúa đi lên núi để cầu nguyện” (Lc 6,12).
Trong khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu không những sống thinh lặng, yêu thích thinh lặng, dạy thinh lặng, mà ngài còn dùng sự thinh lặng như một phương thế hữu hiệu để hoạt động tông đồ.
Khi thấy dân chúng rộn ràng, rầm rộ, muốn tôn ngài lên làm vua, ngài liền lặng lẽ lánh xa họ ngay.
Khi thấy dân chúng ồn ào, thối thúc ngài lên án người đàn bà ngoại tình, ngài lặng thinh, lặng thinh để đem lòng từ bi thương xót vô biên của Thiên Chúa đến cho người tội lỗi, lặng thinh để sẳn sàng tha thứ mọi yếu đuối lỗi lầm của tội nhân, lặng thinh để khuyến khích tội nhân đừng sợ hải khi đứng trước Thiên Chúa, lặng thinh để thúc giục người tội lỗi ăn năn để được sống bằmg an lại với Thiên Chúa. Và người đàn bà tội lỗi nầy cũng lặng thinh, và nhờ sự thinh lặng nầy mà bà hiểu được lòng Chúa thứ tha.
Khi gặp người mẹ van xin cho con mình khỏi bị quỷ ám, ngài dùng sự thinh lặng để thử thách đức tin của bà nầy, trước khi làm một phép lạ hiển hách.
Khi Phêrô chối bai bải Thầy ba lần, ngài thinh lặng nhìn ông ta để nhân từ nhắc nhở ông hãy khiêm nhượng ăn năn, trông cậy vào lòng Chúa thứ tha.
Như vậy, nhiều lần Chúa Giêsu đã hành động trong thinh lặng, và sự thinh lặng của ngài đã đem lại những kết quả lớn lao.
Trong hồi Thương Khó và Tử Nạn, Chúa Giêsu đã sống thinh lặng một cách lạ lùng.
Trong giai đoạn nầy, Chúa Giêsu chịu nhiều nỗi khốn khổ sĩ nhục, bị hành hạ tra tấn ác nghiệt, thân xác thì tan nát vì roi đòn, tâm hồn thì ê chề trong buồn tủi đớn đau. Bị điệu đi một cách nhục nhã từ tòa án nầy đến tòa án khác. Nhận lấy biết bao nhiêu lời mĩa mai ác độc, vu khống trắng trợn. Thượng tế Caipha thì hống hách chất vấn, tổng trấn Philatô thì coi mình có quyền trên hết, vua Erode thì lấy khẩu cung Chúa một cách khinh dể, dân chúng thì gào thét dữ dội, tố cáo Chúa đủ tội. Nhưng Chúa Giêsu vẫn lặng thinh, vẫn thinh lặng; mà có nói, thì chỉ nói vài lời; mà có trả lời, thì trả lời rất vắn; mà có hé môi, thì để chúc lành và cầu nguyện cho kẻ thù của mình.
Sự thinh lặng của Chúa Giêsu trong hồi Thương Khó không phải là một sự thinh lặng lầm lì, tiêu cực, vì khi cần nói thì ngài đã nói, khi thấy nói có ích thì ngài đã nói. Đây là một sự thinh lặng đầy đủ ý nghĩa vì ngài là sự thật, là chân lý, là chính nghĩa, không cần gì phải biện hộ, không cần gì phải cắt nghĩa thêm.
Sự thinh lặng của Chúa Giêsu trong hồi Thương Khó là sự thinh lặng rất khôn ngoan. Ngài biết các địch thủ của ngài quyết hại ngài với bất cứ giá nào. Họ bày ra tòa án cho có lệ. Họ chất vấn vu vơ cho có vẻ là xử án, bởi vì thật ra, họ có ưa gì chân ly, nhưng chỉ tìm đủ cách để vu khống ngài. Họ đã quyết định bản án của ngài trước rồi. Chúa Giêsu biết không cần gì phải đối đáp, không cần gì phải biện minh: ngài thinh lặng trước tòa án, ngài chấp nhận " giờ ” ngài đã đến.
Sự thinh lặng của Chúa Giêsu trong hồi Thương Khó là ống hàn thử biểu để do lòng thành thật và lòng gian ác của con người. Trước sự thinh lặng lạ lùng của Chúa Giêsu trong hồi Thương Khó và Tử Nạn, kẻ thành tâm nhân đó mà ăn năn khóc lóc tội lỗi của mình, mà thống hối trở lại để yêu mến Chúa nhiều hơn; trái lại, kẻ gian ác kiêu căng thì càng trở nên chai đá, càng thêm cứng lòng hơn nữa.
Sự thinh lặng của Chúa Giêsu trong hồi Thương Khó là một dịp để ngài đền tội và tha tội. Ngài đền tội và tha tội cho các tông đồ khoe khoang khoác lác và hèn nhát, tranh nhau phân bua rộn ràng không bao giờ bỏ Thầy, nhưng khi thấy Thầy mình bị bắt, thì lỗ miệng của họ chối bai bải không biết ông Giêsu là ai, trong khi đó, Chúa Giêsu thinh lặng trước tòa án để đền tội và tha tội cho họ. Ngài cũng thinh lặng như vậy để đền tội và tha tội cho những kẻ nghịch thù của ngài nữa.
Sau khi chấm dứt sự hiện diện hữu hình trên trần gian nầy, Chúa Giêsu đi vào sự thinh lặng tuyệt đối của phép Thánh Thể, sống triền miên lặng lẽ trong mọi Nhà Tạm trên khắp mặt đất nầy, để tiếp tục ban Tin Mừng cho mọi người qua mọi thời đại.
Và cũng sau khi chấm dứt sự hiện diện hữu hình trên trần gian nầy, Chúa Giêsu đi vào con thuyền thinh lặng của Giáo Hội trên biển đời dương thế. Mặc cho quỷ dữ gầm thét, mặc cho sóng gió nổi lên, mặc cho địch thù điên tiết phá phách, Chúa Giêsu vẫn thinh lặng ngủ yên trong lòng thuyền Giáo Hội. Đôi khi cần thức dậy thì ngài thức. Nhưng thường thì ngài ngủ yên. Và con thuyền Giáo Hội luôn mang Chúa Giêsu thinh lặng, bập bềnh trôi nổi giữa biển đời nguy khốn, nhưng vẫn luôn bình tĩnh lướt sóng, luôn luôn ngày đêm ca lên những tiếng hát ngợi khen tình yêu Chúa : Vì Tình Chúa Yêu Ta Không Bờ Không Bến !
Thân chúc mọi người biết sống thinh lặng như Thầy Giêsu của mình.
(Diên Sanh, ngày 25 tháng 4 năm 2007)