CON ĐƯỜNG TRỞ NÊN DỄ THƯƠNG
( Lễ Thánh Maccô – Tác giả Tin Mừng – 25-4 ) ( 1P 5,5b-14; Mc 16,15-20 )
Là Kitô hữu, chúng ta vốn dĩ muốn được ơn cứu độ. Để được hưởng ơn cứu độ thì cần có lòng tin. Thế nhưng, làm sao ta biết được mình đã hay đang có lòng tin. “ Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thì dù anh em có bảo cây dâu này : Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em” ( Lc 17,6 ). Thú thật, bản thân không biết lòng tin mình đến đâu. Chắc chắn nếu có thì không và chưa thể bằng hạt cải. Tin Mừng Thánh Maccô tường thuật lời của Chúa Giêsu trước khi về trời : “Đây là những dấu lạ đi theo những ai có lòng tin : nhân danh Thầy họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe” ( Mc 16,17-18 ). Căn cứ trên những lời của Chúa Giêsu, bản thân tự thú nhận mình chưa có lòng tin hay lòng tin của mình hiện chẳng ra sao.
Trừ quỷ ư ? Thỉnh thoảng người ta dẫn đến tôi những trường hợp như bị quỷ ám. Và người ta xin : “Xin cha đặt tay trừ quỷ”. Vì nể tình bà con, tôi cũng đặt tay và cầu nguyện xin Chúa chữa lành bệnh nhân. Tuy nhiên sau đó tôi thường nói với quý vị trong Hội đồng giáo xứ : Nếu là quỷ ám thật thì chỉ có Chúa mới trừ quỷ chứ ông cha xứ này chẳng làm gì được. Biết đâu khi chưa trừ nó thì nó đã trừ mình vì mình cũng là một thứ quỷ con nào đó, biết đâu ? Không chừng nó còn cười và nói rằng chúng mình là bạn bè với nhau thì chết. Các linh mục bạn thân cũng thường nói kiểu nửa đùa nửa thật như vậy. Ai cũng ngại rằng vừa mới gặp người quỷ ám thật, con quỷ lớn tiếng kể tội mình ra thì toi đời !
Nói được các thứ tiếng mới lạ ư ? Khoản này thì xin thú nhận là chào thua. Nỗ lực học thêm ngoại ngữ mà vẫn thấy chưa tới đâu. Thỉnh thoảng có nghe nói nhóm này nhóm nọ được ơn Chúa Thánh Thần cho nói các tiếng lạ. Nhưng là linh mục vốn hay hoài nghi, nên cũng chẳng tin. Cái thói thích nghe tận tai, thấy tận mắt như Tôma Tông Đồ là thói thường của nhiều linh mục. Theo tôi biết thì ít có linh mục được ơn nói tiếng lạ mà trong đó, trước hết là tôi.
Cầm rắn trong tay hay uống nhầm chất độc mà không bị hại ư ? Ai mà to gan làm sự chẳng nên như vậy ? Gặp rắn độc đang phùng mang trợn má thì hoặc là tẩu vi thượng sách hoặc tìm cây đập dẹp đầu nó hoặc kêu người đến diệt nó mà thôi. Còn với các loại thuốc độc như thuốc rầy, thuốc sâu, thuốc diệt cỏ thì sao ? Một mặt nhắc nhủ bà con cẩn thận khi sử dụng, một mặt không dám đụng đến khi mình không làm nông. Hiện thực trước mắt, bà con Công giáo sắc dân thiểu số đi phun thuốc sâu cho hoa màu, do không cẩn thận, nên bị ướt cả người đã nhiểm bệnh khó lường. Có người đã mạng vong vì sơ suất này.
Đặt tay trên người bệnh thì bệnh nhân được lành mạnh ư ? Giả như Chúa cho có khả năng này thì công việc truyền giáo sẽ rất nhẹ nhàng va kết quả chắc chắn sẽ to lớn. Có nhiều linh mục được bà con xem là mát tay vì mỗi khi đi cử hành Bí tích xức dầu cho ai thì liền sau đó họ qua đời ! Trong cử hành Bí tích xức dầu bệnh nhân có nghi thức đặt tay cầu nguyện đấy ! Ước gì mỗi giáo phận chỉ cần có một linh mục có khả năng đặt tay trên bệnh nhân khiến bệnh nhân lành mạnh thì danh Chúa rất dễ cả sáng, nước Chúa rất dễ hiển trị theo nhãn quan nhân loại, nghĩa là người ta sẽ ùn ùn vào đạo. Khi ấy “rửa tội” tha hồ mỏi tay !
Để được cứu độ bằng con đường “lòng tin” với các biểu hiện bên ngoài như thế, e rằng quá khó. Vì thế đành khôn ngoan một tí, chọn con đường khác vậy. Con đường này dường như là con đường mà Thánh Maccô đã đi : “con đường trở nên dễ thương với Chúa”. Đọc Tin Mừng ta nhận ra đối tượng dễ thương, đúng hơn là đối tượng được Chúa Giêsu ưu ái hơn đó là các trẻ thơ. Một trong những nét dễ thương của các bé thơ là sự đơn sơ, trung thực. “Ra ngõ hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Một ông chuyên cho vay đến nhà con nợ đòi tiền. Đứa bé trong nhà chạy ra, vòng tay lễ phép : “Thưa bác, bố con biểu con ra nói với bác rằng bố con vắng nhà”. Câu chuyện thật như bịa hay bịa như thật ta thường nghe kể minh họa sự trung thực, đơn sơ của trẻ bé.
Maccô : một thiếu niên dễ thương hay người môn đệ Chúa yêu ?
Vấn nạn người môn đệ Chúa yêu. Các nhà nghiên cứu Thánh Kinh ngày nay dường như không còn khăng khăng rằng người môn đệ Chúa yêu là chính thánh Gioan Tông đồ. Đang có đó nhiều luận cứ để minh chứng. Người môn đệ Chúa yêu theo Tin Mừng thứ tư tường thuật trong các đoạn Ga 13,23; 18,15-17; 19,26; 20,2; 21,7-20 xem ra không giống tính cách của một Gioan con ông Dêbêđê người Galilê, một tông đồ được Chúa Giêsu đặt tên là : “Thiên lôi con” ( Mc 3,17 ).
Người môn đệ Chúa yêu quen biết Vị Thượng tế và quen thuộc đường lối trong tư dinh vị Thương tế thì xem ra không phải là Gioan Tông Đồ, một người đánh cá quê ở Galilê. Khi người đầy tớ gái nhận ra giọng nói trọ trẹ gốc Galilê của Phêrô mà không nhận ra giọng nói của nguời môn đệ kia thì chắc người môn đệ kia không phải là người Galilê. Phải chăng ông là người Giuđêa ? ( x.Ga 18,15-17)
Người môn đệ Chúa yêu trong bữa Tiệc Ly, tựa đầu vào lòng Chúa Giêsu, được nghe Chúa ra hiệu cho biết ai là người sẽ phản bội. Nếu là Gioan, một thiên lôi con vốn đã từng nóng nảy xin Chúa cho lửa từ trời xuống thiêu hủy dân làng Samaria không tiếp đón Chúa và các ngài (x.Lc 9, 51-56 ), đã từng nóng nảy xin Chúa cúp ngay nhóm người nhân danh Giêsu mà trừ quỷ nhưng không theo các ngài ( Mc 9,38 ), hẳn Gioan đã nóng lên, lôi cổ Giuđa ra, nện cho một trận nên thân ngay tức khắc( x.Ga 13,22-30 ).
Người môn đệ chúa yêu đứng dưới chân thập giá nếu là Gioan Tông đồ thì quân lý hình khó mà để cho yên. Ai lại cho nhóm đồ đệ thân tính của tử tội đứng gần pháp trường bao giờ. Không sợ bị quấy rối hay làm náo loạn ư ? Chưa kể đến chuyện cướp pháp trường có thể xảy ra. Các Tin Mừng đều tường thuật khi Chúa bị bắt thì nhóm Mười Hai đều bỏ chạy thoát thân vì sợ hãi. Chắc chắn Gioan Tông đồ không là ngoại lệ. Khi Chúa Giêsu gần tắt thở, Người trối Mẹ Maria cho người môn đệ Chúa yêu và “ kể từ giờ đó, người môn đệ rước Bà về nhà mình” ( Ga 19,27). Ta không thấy Mẹ về lại Galilê mà Mẹ về ở một nhà tại Giuđêa, hầu chắc là nhà Tiệc ly ( Cvtđ 1,12-14 ).
Khi Mađalêna đến báo tin rằng người ta đã lấy mất xác Chúa thì Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến chạy ra mộ. Người môn đệ này theo Tin mừng thì không có dấu gì chắc chắn là Gioan Tông Đồ. ( x. Ga 20,1-10 ).
Người môn đệ Chúa yêu trên biển hồ Tibêria nói với Phêrô : “Chúa đó” theo mạch văn Tin Mừng thì chắc chắn không phải là Gioan Tông Đồ, con ông Dêbêđê. Vì Tin Mừng ghi rõ cách phân biệt người môn đệ với các con ông Dêbêđê. “Ông Simon Phêrô, ông Tôma gọi là Điđimô, Ông Nathanaen, người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau.” ( Ga 21,2 ).
Phải chăng người môn đệ Chúa yêu là Maccô ? Theo thiển ý của tôi thì ta cũng có thể tin như vậy dựa vào các chứng cứ Tin Mừng và Tân Ước.
Maccô có tên là Gioan. Phải chăng vì cái tên này mà người ta lầm lẫn với Gioan Tông Đồ. ( x. Cv 12,12; 13,5; 15,39 ). Maccô là người Giuđêa, con bà Maria ở tại Giêrusalem. Các Kitô hữu hội nhau ở đây ( sau khi chúa về trời ). Thánh Phêrô nương nhờ ở đây sau được ra khỏi tù ( x. Cv 12,12 ). Rất có thể ngôi nhà có căn phòng rộng rãi được dùng cử hành lễ Tiệc ly là ngôi nhà của bà Maria, mẹ của Maccô. Và chính trong ngôi nhà này các tông đồ đã nương náu, sau khi Chúa chịu chết.
Theo Tin mừng Maccô tường thuật thì người ta đoán chắc cậu thanh niên trong vườn dầu bỏ tấm áo choàng chạy trốn trần truồng là chính Maccô (x.Mc 14,51 ).
Nếu như Maccô là người môn đệ Chúa yêu thì trong bữa Tiệc ly có Maccô ngồi kề bên Chúa là điều thật dễ hiểu. Người môn đệ Chúa yêu thường được Phêrô tín nhiệm thì sau này đi làm thư ký cho Phêrô trên đường rao giảng cũng dễ lý giải.
Tuy nhiên điều chúng ta nhận ra nơi Maccô là thái độ dễ yêu của Ngài trong Tin Mừng của Ngài. “ Những đặc điểm trong lời văn của Maccô cho thấy Maccô không phải là người làm văn, cũng không phải là một người kể chuyện tài ba. Maccô có vẻ là một người tường thuật trung thành và ngây thơ, thấy sao nói vậy theo cung cách của mình” ( Dẫn nhập Tin Mừng Maccô ).
Sự dễ yêu của Maccô còn thể hiện ở chỗ Ngài như không kiêng kỵ điều gì, cho dù đó là những sự thật không hay của Phêrô, người thầy và cũng như là người cha của mình (x.Mc 8,33; 14,66-72; 1 Pr 5,13 ).
Trung thực với chính mình và thẳng thắn với cả người trên đang có quyền cao, chức lớn là một nét đáng yêu của trẻ thơ. Đây chính là thái độ khiêm nhu chân chính. Sự khiêm nhu không hệ tại ở việc nhắc mình lên hay hạ mình xuống mà là luôn sống trong sự thật. Trẻ thơ có sao thì có vậy, không son phấn, không lấp liếm, che đậy. Vì thế Chúa Giêsu đã dùng trẻ thơ làm hình ảnh Nước Trời, nơi Đấng “có sao có vậy” hiển ngự. “ Anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em khi đến thời Người đã định. Mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em” ( 1 Pr 5,6-7 )
Đường về trời thời có muôn muôn nẻo. Không có vị thánh nào giống vị thánh nào. Trong vườn hoa thiên cung thật lắm sắc và nhiều hương. Thiết tưởng con đường trở nên dễ yêu như trẻ thơ là con đường thật đáng yêu. Dường như Maccô đã đi con đường ấy. Têrêxa Hài Đồng Giêsu cũng đã chọn con đường tương tự. Và chị đã đến đích mình hằng mong ước. “Tình yêu phủ lấp muôn vàn tội lỗi” ( 1 Pr 4,8 ). Con đường trở nên dễ thương là con đường của Đức ái. Đức tin, đức cậy rồi sẽ qua đi. Chỉ mình Đức ái mới tồn tại muôn đời.
Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột.
( Lễ Thánh Maccô – Tác giả Tin Mừng – 25-4 ) ( 1P 5,5b-14; Mc 16,15-20 )
Là Kitô hữu, chúng ta vốn dĩ muốn được ơn cứu độ. Để được hưởng ơn cứu độ thì cần có lòng tin. Thế nhưng, làm sao ta biết được mình đã hay đang có lòng tin. “ Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thì dù anh em có bảo cây dâu này : Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em” ( Lc 17,6 ). Thú thật, bản thân không biết lòng tin mình đến đâu. Chắc chắn nếu có thì không và chưa thể bằng hạt cải. Tin Mừng Thánh Maccô tường thuật lời của Chúa Giêsu trước khi về trời : “Đây là những dấu lạ đi theo những ai có lòng tin : nhân danh Thầy họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe” ( Mc 16,17-18 ). Căn cứ trên những lời của Chúa Giêsu, bản thân tự thú nhận mình chưa có lòng tin hay lòng tin của mình hiện chẳng ra sao.
Trừ quỷ ư ? Thỉnh thoảng người ta dẫn đến tôi những trường hợp như bị quỷ ám. Và người ta xin : “Xin cha đặt tay trừ quỷ”. Vì nể tình bà con, tôi cũng đặt tay và cầu nguyện xin Chúa chữa lành bệnh nhân. Tuy nhiên sau đó tôi thường nói với quý vị trong Hội đồng giáo xứ : Nếu là quỷ ám thật thì chỉ có Chúa mới trừ quỷ chứ ông cha xứ này chẳng làm gì được. Biết đâu khi chưa trừ nó thì nó đã trừ mình vì mình cũng là một thứ quỷ con nào đó, biết đâu ? Không chừng nó còn cười và nói rằng chúng mình là bạn bè với nhau thì chết. Các linh mục bạn thân cũng thường nói kiểu nửa đùa nửa thật như vậy. Ai cũng ngại rằng vừa mới gặp người quỷ ám thật, con quỷ lớn tiếng kể tội mình ra thì toi đời !
Nói được các thứ tiếng mới lạ ư ? Khoản này thì xin thú nhận là chào thua. Nỗ lực học thêm ngoại ngữ mà vẫn thấy chưa tới đâu. Thỉnh thoảng có nghe nói nhóm này nhóm nọ được ơn Chúa Thánh Thần cho nói các tiếng lạ. Nhưng là linh mục vốn hay hoài nghi, nên cũng chẳng tin. Cái thói thích nghe tận tai, thấy tận mắt như Tôma Tông Đồ là thói thường của nhiều linh mục. Theo tôi biết thì ít có linh mục được ơn nói tiếng lạ mà trong đó, trước hết là tôi.
Cầm rắn trong tay hay uống nhầm chất độc mà không bị hại ư ? Ai mà to gan làm sự chẳng nên như vậy ? Gặp rắn độc đang phùng mang trợn má thì hoặc là tẩu vi thượng sách hoặc tìm cây đập dẹp đầu nó hoặc kêu người đến diệt nó mà thôi. Còn với các loại thuốc độc như thuốc rầy, thuốc sâu, thuốc diệt cỏ thì sao ? Một mặt nhắc nhủ bà con cẩn thận khi sử dụng, một mặt không dám đụng đến khi mình không làm nông. Hiện thực trước mắt, bà con Công giáo sắc dân thiểu số đi phun thuốc sâu cho hoa màu, do không cẩn thận, nên bị ướt cả người đã nhiểm bệnh khó lường. Có người đã mạng vong vì sơ suất này.
Đặt tay trên người bệnh thì bệnh nhân được lành mạnh ư ? Giả như Chúa cho có khả năng này thì công việc truyền giáo sẽ rất nhẹ nhàng va kết quả chắc chắn sẽ to lớn. Có nhiều linh mục được bà con xem là mát tay vì mỗi khi đi cử hành Bí tích xức dầu cho ai thì liền sau đó họ qua đời ! Trong cử hành Bí tích xức dầu bệnh nhân có nghi thức đặt tay cầu nguyện đấy ! Ước gì mỗi giáo phận chỉ cần có một linh mục có khả năng đặt tay trên bệnh nhân khiến bệnh nhân lành mạnh thì danh Chúa rất dễ cả sáng, nước Chúa rất dễ hiển trị theo nhãn quan nhân loại, nghĩa là người ta sẽ ùn ùn vào đạo. Khi ấy “rửa tội” tha hồ mỏi tay !
Để được cứu độ bằng con đường “lòng tin” với các biểu hiện bên ngoài như thế, e rằng quá khó. Vì thế đành khôn ngoan một tí, chọn con đường khác vậy. Con đường này dường như là con đường mà Thánh Maccô đã đi : “con đường trở nên dễ thương với Chúa”. Đọc Tin Mừng ta nhận ra đối tượng dễ thương, đúng hơn là đối tượng được Chúa Giêsu ưu ái hơn đó là các trẻ thơ. Một trong những nét dễ thương của các bé thơ là sự đơn sơ, trung thực. “Ra ngõ hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Một ông chuyên cho vay đến nhà con nợ đòi tiền. Đứa bé trong nhà chạy ra, vòng tay lễ phép : “Thưa bác, bố con biểu con ra nói với bác rằng bố con vắng nhà”. Câu chuyện thật như bịa hay bịa như thật ta thường nghe kể minh họa sự trung thực, đơn sơ của trẻ bé.
Maccô : một thiếu niên dễ thương hay người môn đệ Chúa yêu ?
Vấn nạn người môn đệ Chúa yêu. Các nhà nghiên cứu Thánh Kinh ngày nay dường như không còn khăng khăng rằng người môn đệ Chúa yêu là chính thánh Gioan Tông đồ. Đang có đó nhiều luận cứ để minh chứng. Người môn đệ Chúa yêu theo Tin Mừng thứ tư tường thuật trong các đoạn Ga 13,23; 18,15-17; 19,26; 20,2; 21,7-20 xem ra không giống tính cách của một Gioan con ông Dêbêđê người Galilê, một tông đồ được Chúa Giêsu đặt tên là : “Thiên lôi con” ( Mc 3,17 ).
Người môn đệ Chúa yêu quen biết Vị Thượng tế và quen thuộc đường lối trong tư dinh vị Thương tế thì xem ra không phải là Gioan Tông Đồ, một người đánh cá quê ở Galilê. Khi người đầy tớ gái nhận ra giọng nói trọ trẹ gốc Galilê của Phêrô mà không nhận ra giọng nói của nguời môn đệ kia thì chắc người môn đệ kia không phải là người Galilê. Phải chăng ông là người Giuđêa ? ( x.Ga 18,15-17)
Người môn đệ Chúa yêu trong bữa Tiệc Ly, tựa đầu vào lòng Chúa Giêsu, được nghe Chúa ra hiệu cho biết ai là người sẽ phản bội. Nếu là Gioan, một thiên lôi con vốn đã từng nóng nảy xin Chúa cho lửa từ trời xuống thiêu hủy dân làng Samaria không tiếp đón Chúa và các ngài (x.Lc 9, 51-56 ), đã từng nóng nảy xin Chúa cúp ngay nhóm người nhân danh Giêsu mà trừ quỷ nhưng không theo các ngài ( Mc 9,38 ), hẳn Gioan đã nóng lên, lôi cổ Giuđa ra, nện cho một trận nên thân ngay tức khắc( x.Ga 13,22-30 ).
Người môn đệ chúa yêu đứng dưới chân thập giá nếu là Gioan Tông đồ thì quân lý hình khó mà để cho yên. Ai lại cho nhóm đồ đệ thân tính của tử tội đứng gần pháp trường bao giờ. Không sợ bị quấy rối hay làm náo loạn ư ? Chưa kể đến chuyện cướp pháp trường có thể xảy ra. Các Tin Mừng đều tường thuật khi Chúa bị bắt thì nhóm Mười Hai đều bỏ chạy thoát thân vì sợ hãi. Chắc chắn Gioan Tông đồ không là ngoại lệ. Khi Chúa Giêsu gần tắt thở, Người trối Mẹ Maria cho người môn đệ Chúa yêu và “ kể từ giờ đó, người môn đệ rước Bà về nhà mình” ( Ga 19,27). Ta không thấy Mẹ về lại Galilê mà Mẹ về ở một nhà tại Giuđêa, hầu chắc là nhà Tiệc ly ( Cvtđ 1,12-14 ).
Khi Mađalêna đến báo tin rằng người ta đã lấy mất xác Chúa thì Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến chạy ra mộ. Người môn đệ này theo Tin mừng thì không có dấu gì chắc chắn là Gioan Tông Đồ. ( x. Ga 20,1-10 ).
Người môn đệ Chúa yêu trên biển hồ Tibêria nói với Phêrô : “Chúa đó” theo mạch văn Tin Mừng thì chắc chắn không phải là Gioan Tông Đồ, con ông Dêbêđê. Vì Tin Mừng ghi rõ cách phân biệt người môn đệ với các con ông Dêbêđê. “Ông Simon Phêrô, ông Tôma gọi là Điđimô, Ông Nathanaen, người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau.” ( Ga 21,2 ).
Phải chăng người môn đệ Chúa yêu là Maccô ? Theo thiển ý của tôi thì ta cũng có thể tin như vậy dựa vào các chứng cứ Tin Mừng và Tân Ước.
Maccô có tên là Gioan. Phải chăng vì cái tên này mà người ta lầm lẫn với Gioan Tông Đồ. ( x. Cv 12,12; 13,5; 15,39 ). Maccô là người Giuđêa, con bà Maria ở tại Giêrusalem. Các Kitô hữu hội nhau ở đây ( sau khi chúa về trời ). Thánh Phêrô nương nhờ ở đây sau được ra khỏi tù ( x. Cv 12,12 ). Rất có thể ngôi nhà có căn phòng rộng rãi được dùng cử hành lễ Tiệc ly là ngôi nhà của bà Maria, mẹ của Maccô. Và chính trong ngôi nhà này các tông đồ đã nương náu, sau khi Chúa chịu chết.
Theo Tin mừng Maccô tường thuật thì người ta đoán chắc cậu thanh niên trong vườn dầu bỏ tấm áo choàng chạy trốn trần truồng là chính Maccô (x.Mc 14,51 ).
Nếu như Maccô là người môn đệ Chúa yêu thì trong bữa Tiệc ly có Maccô ngồi kề bên Chúa là điều thật dễ hiểu. Người môn đệ Chúa yêu thường được Phêrô tín nhiệm thì sau này đi làm thư ký cho Phêrô trên đường rao giảng cũng dễ lý giải.
Tuy nhiên điều chúng ta nhận ra nơi Maccô là thái độ dễ yêu của Ngài trong Tin Mừng của Ngài. “ Những đặc điểm trong lời văn của Maccô cho thấy Maccô không phải là người làm văn, cũng không phải là một người kể chuyện tài ba. Maccô có vẻ là một người tường thuật trung thành và ngây thơ, thấy sao nói vậy theo cung cách của mình” ( Dẫn nhập Tin Mừng Maccô ).
Sự dễ yêu của Maccô còn thể hiện ở chỗ Ngài như không kiêng kỵ điều gì, cho dù đó là những sự thật không hay của Phêrô, người thầy và cũng như là người cha của mình (x.Mc 8,33; 14,66-72; 1 Pr 5,13 ).
Trung thực với chính mình và thẳng thắn với cả người trên đang có quyền cao, chức lớn là một nét đáng yêu của trẻ thơ. Đây chính là thái độ khiêm nhu chân chính. Sự khiêm nhu không hệ tại ở việc nhắc mình lên hay hạ mình xuống mà là luôn sống trong sự thật. Trẻ thơ có sao thì có vậy, không son phấn, không lấp liếm, che đậy. Vì thế Chúa Giêsu đã dùng trẻ thơ làm hình ảnh Nước Trời, nơi Đấng “có sao có vậy” hiển ngự. “ Anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em khi đến thời Người đã định. Mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em” ( 1 Pr 5,6-7 )
Đường về trời thời có muôn muôn nẻo. Không có vị thánh nào giống vị thánh nào. Trong vườn hoa thiên cung thật lắm sắc và nhiều hương. Thiết tưởng con đường trở nên dễ yêu như trẻ thơ là con đường thật đáng yêu. Dường như Maccô đã đi con đường ấy. Têrêxa Hài Đồng Giêsu cũng đã chọn con đường tương tự. Và chị đã đến đích mình hằng mong ước. “Tình yêu phủ lấp muôn vàn tội lỗi” ( 1 Pr 4,8 ). Con đường trở nên dễ thương là con đường của Đức ái. Đức tin, đức cậy rồi sẽ qua đi. Chỉ mình Đức ái mới tồn tại muôn đời.
Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột.