HAI MÓN TIỀN

Dường như người Kitô hữu nào cũng nhắc đến 30 quan tiền kẽm của Giuđa vì số tiền ông bán Thầy. Còn một món tiền nữa lớn hơn nhiều, quan trọng hơn ít người để ý đến. Đó là món tiền khổng lồ các Thượng Tế hối lộ bọn lính đi phao tin thất thiệt là môn đệ Chúa trong lúc lính canh đang ngủ đến ăn cắp xác Chúa. Phúc âm thuật lại đơn giản như sau :

Các Thượng Tế liền họp với Kì Mục; sau khi bàn bạc, họ cho bọn lính một số tiền lớn bảo ‘các anh hãy nói như thế này; Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn lấy trộm hắn đi. Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự’. Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ' (Mt 28,13-15).

BÁN MẠNG

Ba mươi đồng tiền kẽm Guiđa bán Thầy mệnh danh là tiền máu vì món tiền đó mà Chúa Giêsu bị đổ máu. Cũng nhờ món tiền đó mà nhiều người chết đầu đường xó chợ có nơi chôn cất vì nhận tiền xong Thầy bị bắt, bị đánh đập, bị xử chết treo trên cây thập tự Giuđa hối hận mang trả lại số tiền đó cho các Thượng Tế. Nhóm này không nhận, Giuđa quẳng số tiền đó xuống chân họ, quay đi, không thèm ngó ngàng gì đến thứ tiền, lúc trước ông quý hoá nâng niu, bây giờ coi như rơm rác, đáng vất dưới chân. Thái độ thống hối đó cho thấy Giuđa thực sự ăn năn vì lầm lỗi đã phạm. Giuđa còn phạm một lỗi nữa là huỷ hoại sự sống chính mình. Vì ba mươi đồng bạc kẽm, ông làm hại mạng sống Thầy, vì hối hận, thay vì thống hối như Phêrô, Giuđa đau khổ quá không biết làm gì hơn là hại chính sự sống mình. Cả hai lối hành xử của ông đều làm thiệt hại cho sự sống.

BÁN NHÂN CÁCH

Thượng Tế, Kí Lục cho lính một số tiền lớn, không biết là bao nhiêu, ba chục quan tiền kẽm hay ba trăm hay ba ngàn quan tiền kẽm. Phúc âm không ghi rõ chỉ ghi là số tiền lớn.

Chúa chết vì người ta tham tiền; phao tin thất thiệt cũng vì người ta tham tiền. Để đạt mục đích ám muội người ta dùng tiền mua chuộc và người làm công việc đó lại làm nhân danh công lí vì họ ‘đại diện cho công lí’. Vì ‘ý con to lớn, cái tôi khổng lồ’ họ không từ bất cứ điều gì ngay cả điều ám muội, miễn việc làm đó thoả mãn cái ‘ý con, cái tôi’ họ đều thực hiện. Dậy kẻ dưới quyền nói dối, phao tin thất thiệt, hứa bao che cho lính trước mặt quan tổng trấn cũng gây nên bởi cái tôi ích kỉ kia.

LẠM QUYỀN

Tiền dâng cúng trong Đền Thờ bị các thầy Thượng Tế và Kí Lục lạm dụng. Dùng sai mục đích của người dâng cúng là một lỗi lớn. Dùng vào việc xúi bẩy, đưa đẩy, khuyến khích người khác phạm tội lỗi còn nặng hơn gấp bội. Không người tín hữu nào dâng cúng tiền để cho các Thượng Tế dùng vào việc hối lộ kẻ khác, dùng vào việc xúi người khác làm chứng gian. Dùng tiền Đền Thờ thưởng cho kẻ phản bội là quá quắt lắm rồi. Dùng tiền Đền Thờ thưởng bọn lính phao tin thất thiệt là tán tận lương tâm. Rất có thể các Thượng Tế dấu nhẹm việc xử dụng tiền bất chính, không cho dân chúng biết họ dùng tiền mua chuộc lòng người, phao tin thất thiệt.

CHƠI CHỮ

Ngôn ngữ Hi Bá rất chính xác, dùng chữ nào ra chữ đó, ý nghĩa mạch lạc, xác thực. Các Thượng Tế và Kí lục sau khi họp kín bàn với nhau phao ra một tin, dùng từ rất mập mờ, đánh lận con đen; ai hiểu sao cũng được, mục đích khi cần phải chối tội, họ còn đường thoát, vì dùng từ mập mờ thường dễ giải thích theo hoàn cảnh. Các Thượng Tế và Kí Lục chơi chữ trong câu nói của họ có lẽ do hai lí do.

Một là họ coi thường quần chúng không nhận ra cách họ chơi chữ nên dùng chữ bình dân hợp với quần chúng để cho nghĩa câu nói mập mờ.

Hai cũng có thể họ tránh trường hợp khi quan tổng trấn tra hỏi họ có cách chối.

Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn lấy trộm hắn đi’.

HẮN

Chỉ một chữ ‘hắn’ trong câu nói cũng đủ tố cáo cái ma mãnh, tinh khôn gian tà, chai đá của các Thượng Tế lòng chồn, dạ cáo thời đó. Trong lúc lo lắng họ tinh ranh dậy các người lính nói dối. Tất cả đều biết ông Giêsu đã chết, lệnh cho chôn đã xong. Khi nghe tin ông Giêsu sống lại từ cõi chết, các Thượng Tế quá lo lắng dậy bọn lính nói dối từ quan đến dân ‘các môn đệ của hắn đến lấy trộm hắn đi’. Thật là một câu nói tự khai điều gian dối trong lòng. Không ai gọi xác chết là hắn. Chữ hắn để chỉ cho người còn sống. Như vậy chữ hắn dùng ở đây rõ ràng là nói có sự sống nơi con người đó, con người đó còn sống. Trường hợp đây là con người đó, Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết. Chính xác phải nói là các môn đệ đến lấy trộm xác. Các Thượng Tế cố tránh dùng chữ ‘xác’ để sau này bị tra vấn họ, vẫn còn đường giải thích vì họ biết Chúa sẽ hiện ra đây đó như Kinh Thánh đã chép về Người và đó là căn nguyên của việc dùng chữ ‘hắn’ thay vì dùng chữ ‘xác’. Đây không phải một câu nói ngẫu nhiên mà là câu nói được các Thượng Tế và Kí Lục họp bàn, tính toán, cân nhắc lợi hại trước khi dậy các người lính câu nói. Do vậy câu nói được xem xét kĩ lưỡng, cẩn thận từng chữ với tà ý rõ ràng.

VÔ LÝ

Xét câu ‘Trong lúc chúng tôi đang ngủ, các môn đệ hắn đến lấy trộm hắn đi’. Xét nguyên câu này cũng đủ thấy cái vô lí của nó.

Thứ nhất nếu lúc đang ngủ môn đệ hắn đến lấy trộm. Đang ngủ sao biết môn đệ Chúa đến lấy mà không phải người khác.

Thứ hai khi tỉnh dậy trong lúc môn đệ Chúa đang lấy, sao không chiến đấu, kẻ mất người còn, mà lại để yên cho môn đệ Chúa ra đi bình yên, vô sự.

Thứ ba môn đệ Chúa từng chạy trốn khi Chúa còn sống, bây giờ chết rồi lại đi ăn cắp xác với mục đích gì không nói rõ.

Thứ tư là điều gì làm cho môn đệ Chúa đang từ nhát đảm biến thành bạo dạn đến thế.

Các người lính làm theo lệnh vì sao? Câu trả lời nằm trong chỗ tiền, mối lợi trước mắt. Các người lính biết sự thật, mắt họ nhìn thấy Chúa sống lại và đã đi báo cáo về sự việc đó. Họ đã không ngủ trong lúc gác, các môn đệ Chúa không đến lấy trộm xác nhưng vì đồng tiền, vì là kẻ thuộc quyền họ được dậy đế nói như vậy, vừa an thân vừa có mối lợi lớn nên họ để đồng tiền che mất sự thật sẵn lòng nói dối.

Tường thuật Kinh Thánh cho biết các môn đệ không hề biết gì về việc Chúa sống lại mãi cho đến sáng khi nghe tin các bà về báo. Các môn đệ biết tin vào sáng hôm sau; trong khi lính báo cáo sự việc xảy ra ban đêm. Thời gian quá khác biệt.

Sáng hôm đó có ba nhóm người chạy đôn, chạy đáo.

Nhóm thứ nhất là các binh lính chạy báo tin cho các Thượng Tế là Chúa đã sống lại. Nhóm thứ hai là các bà ra mộ sớm không thấy xác chạy vội về báo cho các tông đồ.

Nhóm thứ ba là các tông đồ nghe tin hoảng hốt chạy vội ra mồ.

Cả ba cùng chạy với các mục đích khác nhau.

AI LÀ MÔN ĐỆ HẮN

Có lẽ những người lính trong lúc canh gác lo sợ khi thấy Chúa bước ra khỏi mồ cùng các thiên thần sáng chói nên họ cho các thiên thần là môn đệ Chúa. Không ai biết rõ có bao nhiêu thiên thần mừng vui tháp tùng mừng Chúa sống lại. Phúc âm chỉ thuật lại

đất rung chuyển dữ dội. Thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên, diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết’ (Mt 28,2).

Giả như các người lính canh ngủ mê cũng không thể ngủ khi đất trời rung chuyển, tiếng động khi thiên thần lăn tảng đá ra, hoặc ngay cả y phục sáng trắng ngời của thiên thần cũng đủ làm tỉnh thức những con mắt ngủ mê. Điều này cho thấy Chúa sống lại là có người trông thấy nhưng họ không được nói lên sự thật mà phải nói dối để được sống và được thưởng như Phúc Âm đã ghi lại.

Xét thế, tiền đại diện cho sự dữ, cho bỉ ổi, manh mối của lòng tham, căn nguyên của cám dỗ và cha của mọi sự dữ. Món tiền đầu tai hại đưa đến cái chết thể xác Chúa Giêsu và thân xác môn đệ Giuđa. Món tiền thứ hai nguy hiểm khôn lường vì nó đưa đến cái chết linh hồn cho nhiều tâm hồn vì những loan truyền gian trá đó cho đến nay vẫn còn nhiều người nghi ngờ về sự sống lại thật của Chúa và từ chối tin vào ơn cứu độ, hoặc ngay cả tin lơ mơ, tin nửa vời.