CHÚA NHẬT LỄ CHÚA PHỤC SINH

ÁNH SÁNG CỦA NIỀM TIN

Ga 20, 1 – 9.


Thưa quý vị,

Phúc Âm hôm nay mở đầu như sau: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối.” Hẳn độc giả có cảm tưởng u tối là cảnh trí chung của trời đất lúc ấy. U tối về nhiều mặt. U tối bao quanh nấm mồ, u tối vì buồn rầu, u tối vì không biết sự gì đã xảy ra. U tối vì mất mát, u tối vì bất ngờ trước đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu. Sự thực đối với môn đệ Chúa và các phụ nữ, bầu khí quả là ảm đạm nặng nề. U tối bao trùm ngoại cảnh và nhất là trong tâm trí họ, cho tới khi người môn đệ kia nhìn vào nấm mồ. Có lẽ đây cũng là hoàn cảnh chung cho các tín hữu hôm nay, khi nhìn vào tình hình thế giới: Chiến tranh, áp bức, bóc lột, độc tài, nghèo khổ. Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào nấm mồ Chúa và tin? Hay chỉ than khóc xuông rồi chẳng làm gì cả?

Nhưng xin lưu ý, cả 2 tồng đồ Phêrô và Gioan cùng cúi nhìn vào mồ, thấy cùng một sự việc: ngôi mộ trống với mấy cuộn dây băng. Người môn đệ kia đã thấy và đã tin. Chắc chắn ánh sáng giúp đỡ không phải là ánh sáng vật lý. Nhưng là ánh sáng Chúa Kitô, kiểu như ánh sáng mà người mù từ thủơ mới sinh của Gioan đoạn 9: “Bao lâu thầy còn ở thế gian, thày là ánh sáng thế gian.” Anh mù đi rửa mắt ở hồ Silôac và được sáng mắt. Sau đó anh phải giải thích cho các tư tế, luật sĩ, kinh sư Do thái về thứ ánh sáng đó. Gioan đã nhìn vào mồ trống trong luồng ánh sáng ấy và ông đã tin. Chúng ta cũng không thể làm hơn nếu chúng ta muốn gặp Chúa sống lại. An ở kiểu Pharisêu thì muôn đời sẽ chẳng thể thấy Chúa phục sinh. Tệ hại thay, đây lại là lối sống của đa phần tín hữu, gồm luôn linh mục, tu sĩ, giám mục mà thánh Catarina thành Sienna thường phàn nàn. Khi anh mù của Gioan bị đuổi ra khỏi công đường sau phiên xử án, Chúa Giêsu tìm gặp và hỏi anh xem có tin vào Con Người hay không. Anh ta nói: “Thưa Ngài, Người ấy là ai để tôi tin”. Chúa trả lời: “Người anh đang thấy và nói chuyện với anh.” Người mù sấp mình xuống chân Chúa và nói: “Thưa Ngài, tôi tin.” Như vậy anh không nhìn bằng đôi mắt thường, mà bằng đôi mắt đức tin. Ước chi chúng ta cũng được đôi mắt ấy, từ bỏ mọi sự và đi theo Ngài.

Đúng vậy, đức tin của chúng ta sẽ ra sao nếu Maria Macdala đi ra mồ mà còn thấy xác Chúa Giêsu? Đây không phải là sự kiện Kinh Thánh, mà chúng ta giả dụ như vậy để cho thấy đức tin thế nào là đúng nghĩa. Nếu Maria tìm thấy xác Chúa vẫn nằm trong mồ, thì đức tin của người tín hữu chẳng qua chỉ là ký ức về đấng sáng lập tôn giáo lạ lùng, đầy thương cảm với số phận nhân loại, thế thôi, như ký ức về đức phật, lão tử, khổng tử. Chúng ta chỉ còn thấy Ngài như một vị tôn sư, dạy dỗ những điều hiền lành, làm gương cho con cái noi theo. Chúng ta sẽ nhắc nhở: Vào hoàn cảnh của con, Chúa Giêsu sẽ làm chi? Đó sẽ là nguyên tắc phải theo để có hạnh kiểm tốt, nhưng chẳng còn chi hơn. Chính chúng ta cũng vậy, hai mươi thế kỷ sau chúng ta sẽ phản ánh giáo lý của Ngài, tìm ra những lối sống phù hợp, thế thôi. Nghĩa là Đức Kitô xếp hàng với các nhà sáng lập tôn giáo trên thế giới. Nhưng sự thật, xác Chúa không còn trong mộ nữa, biến mất từ lúc nào. Đó là sự khác nhau giữa Chúa Giêsu và các vĩ nhân khác. Sự khác nhau to lớn đến độ đảo lộn nhân loại. Đảo lộn từ gốc rễ, niềm tin và trí não, từ cách suy nghĩ và nếp sống.

Nhưng xin dừng lại một chút để tìm hiểu xem Maria đã lý giải ra sao khi chứng kiến ngôi mộ trống? Đối với bà, đơn giản chỉ là: “Người ta đã lấy xác thầy ra khỏi mồ.” Nhưng người ta là ai? Là chính quyền Rôma? Là thế lực đền thờ, là kẻ trộm, là các môn đệ? Vô số câu trả lời. Nhưng chẳng lý lẽ nào đủ thuyết phục. Thái thú Rôma sai lính đến lấy xác Chúa Giêsu đi vì sợ các môn đệ Ngài biến ngôi mộ thành nơi hành hương và như thế ấp ủ một cuộc nổi loạn? Họ quá hiểu tâm lý đám đông Dothái, đã từng nghe, từng chứng kiến những phép lạ ông Giêsu làm và từ đấy nổi lên chống đối Rôma. Chi bằng phi tang đi là thượng sách. Thế lực đền thờ? Rất có thể, bác thợ mộc làng Nazareth đã từng thách thức luật Môisê và các tập tục cha ông? Lại còn nguyền rủa họ là mồ mả tô vôi, hội đồng phải vất vả lắm mới triệt hạ được hắn, phải dùng đến cả mưu mẹo xé áo để có thể kết án được hắn. Nhưng hắn đã lôi kéo được đám đông khổng lồ về phe. Không khéo các môn đệ hắn lợi dụng nấm mồ để phát tán giáo lý và lối sống của hắn. Lúc ấy, mối nguy còn lớn hơn. Chi bằng đem xác hắn đi, để bịt miệng vĩnh viễn. “Người ta” có thể còn là bác làm vườn, hay các môn đệ, bởi vì Chúa Giêsu đã hứa ba ngày sau Ngài sống lại. Phải thực hiện cho được lời hứa này bằng cách giấu xác đi và phao tin sống lại!

Đây không phải là những giả định viễn vông, vì cho đến hôm nay “nhiều triết gia” đã đưa ra các giải trình “ghê gớm”. Thí dụ có kẻ giải thích rằng: các môn đệ Chúa đã quá thất vọng về thày mình, không làm trọn mộng ước bá vương của họ. Cho nên việc Chúa sống lại chỉ là cặn bã của óc tưởng tượng, mộng mơ. Các môn đệ nghĩ là đã gặp thầy, chẳng qua chỉ là cơn hốt hoảng của ấn tượng mạnh mẽ mà thôi, để rồi chạy ra phố loan truyền tin thất thiệt.

Nhưng chúng ta, những kẻ tin, hôm nay tụ họp nhau trong nhà thờ, có phải là hậu quả của cơn hốt hoảng các tông đồ xưa? Đúng là một ý nghĩ dễ sợ, phải không quý vị? Nhưng làm sao chúng ta chứng minh được Chúa đã sống lại, để phản bác các kẻ không tin? Xin thưa ngay chẳng được đâu. Vì muôn đời việc Chúa phục sinh vẫn là một mầu nhiệm, làm sao chúng ta chứng minh nổi? Phương pháp tốt nhất là hãy đồng hoá mình với những kẻ “nhìn vào trong mồ”. Nhiều người cũng nhìn như Phêrô, nhưng chẳng thấy chi ngoài tấm khăn niệm và cuộn vải băng. Họ nhìn vào cuộc đời mình, nhưng toàn thấy một màu u tối: “Tảng sáng ngày thứ nhất, lúc trời còn tối.” U tối tràn lan khắp cuộc đời họ, tương tự không gian Phúc Âm hôm nay. Nhưng khi người môn đệ được Chúa yêu dấu nhìn vào ngôi mộ trống thì có ánh sáng ở cuối đường hầm: “Ông đã thấy và ông đã tin.” Như vậy, “thấy” đối với Phúc Âm thứ tư là trông bằng con mắt tinh thần chứ không phải vật chất. Thực ra, đối với Gioan chỉ có yêu mến mới ban cho người ta khả năng “thấy” được. Hẳn nào xưa nay chúng ta không được thấy vì chưa yêu mến thực sự, chưa từ bỏ mọi sự mà theo thầy, môi miệng là chính.

Đó là điều hôm nay chúng ta được mời gọi: Tin yêu Chúa thì mới có thể được “thấy” Ngài phục sinh. Cho nên sau này Gioan chỉ rao giảng có hai chữ thương yêu vì không thương yêu, chẳng đời nào người ta được phúc “thấy” Chúa sống lại. Còn nếu yêu mến Ngài thực sự thì thấy Ngài phục sinh trên mọi nẻo đường đời, mọi biến cố của cuộc đời. Bởi lẽ Chúa sống lại để biến đổi mỗi cuộc đời thành ánh sáng. Mùa này là mùa xuân, cây cối khắp nơi đâm chồi nảy lộc, mang những phiến lá mới, xanh tươi mơn mởn, chứng minh sức sống mới trong thân cây. Vậy thì Chúa phục sinh cũng mang đời sống mới cho nhân loại như vậy. Nhưng chỉ những kẻ tin yêu mới trông thấy được mà thôi. Thánh Phaolô trong bài đọc hai viết: “Thưa anh em, anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới…chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” Là để chúng ta có khả năng sống nếp sống của Đức Kitô. Ngài sẽ ban cho chúng ta nếp sống mới, nếp sống phục sinh.

Trên thế giới, mặc dù còn chiến tranh, chém giết nhau nhưng vẫn có vô số người tốt lành. Cuộc sống của họ phản ánh tính yêu và phục vụ kẻ khác. Họ là những mẫu mực của lòng thương cảm đối với số phận hẩm hiu của nhân loại. Họ sống rất tốt lành mà chưa hề biết Chúa Kitô đã chết và sống lại để bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa. Liệu cuộc sống của họ có thách thức chúng ta? Liệu việc Maria Macđala còn thấy Chúa trong ngôi mộ có đòi hỏi chúng ta phải tin? Liệu lời giải thích ban đầu của các môn đệ “người ta đã lấy xác Chúa ra khỏi mộ” là đúng thì chúng ta hành xử ra sao? Tôi nghĩ chúng ta phải có thái độ khác. Nhưng Chúa đã sống lại và chúng ta không giải thích được. Sức sống Chúa ban qua bí tích rửa tội có khả năng làm cho thế giới nhìn thấy Chúa phục sinh. Chúa phục sinh là thành phần của cuộc sống mỗi người. Nó phải là nguyên lý để chúng ta ảnh hưởng thế giới. Đức tin ban cho chúng ta cái nhìn mà con mắt xác thịt không thể thấy. Cho nên bổn phận của mỗi tín hữu là bày tỏ Chúa phục sinh cho nhân loại.

Các triết gia còn đang bàn tán: “Liệu có cần Chúa hiện ra để các môn đệ tin Chúa sống lại? Theo thiển ý của tôi thì không cần. Bởi vì người môn đệ kia đã thấy ngôi mộ trống và đã tin. Cho nên chúng ta không cần gặp Chúa nhãn tiền như Maria Macđala và các người khác trong Tin Mừng hôm nay để có thể tin. Đức tin của bí tích Rửa Tội là đủ rồi, như Chúa phán cùng Tôma: “Phúc cho những ai không xem thấy mà tin.” Chúng ta nên giống như Gioan, chỉ nhìn vào ngôi mộ trống và đã tin. Chúng ta nên giống như anh mù từ lúc mới sinh, đi rửa mắt ở hồ Siloê và đã xem thấy. Chúng ta nhìn thấy Chúa phục sinh trong những kẻ nghèo hèn chung quanh mình mà cố gắng giúp đỡ. Chúng ta nhìn thấy Chúa phục sinh trong những hoạt động giáo xứ, hội đoàn để tích cực tham gia vào đời sống đức tin chung. Chúng ta nhìn thấy Chúa sống lại trong hàng giáo phẩm, linh mục, tu sĩ, hội dòng để xây dựng nước Chúa giữa trần gian. Chúng ta nhìn thấy Chúa sống lại trong các chính phủ, các trung tâm giáo dục, cứu trợ bác ái để cố gắng làm dậy men muối cho đời. Liệu chúng ta có nhận ra rằng: khổ chế, hi sinh, từ bỏ bản thân là dấu hiệu của Chúa phục sinh trong cuộc đời mình? Và sức sống mới đang tăng trưởng để vươn tới Nước Trời vĩnh cửu?

Người ta hỏi cha Pio 5 Dấu, giải thích về thánh lễ vì ngài dâng lễ rất sốt sắng, tuy kéo dài tới hơn 2 tiếng đồng hồ. Ngài trả lời: “Đó là vĩnh cửu, giống như Chúa Kitô. Làm sao tôi giải nghĩa nổi.” Đức Kitô phục sinh cũng là vĩnh hằng, quyền phép vô biên, chúng ta không thể cắt nghĩa được. Nhưng chúng ta nhìn vào trong mồ trống và chúng ta tin. Ngài sống lại sáng láng hơn biến cố trên núi Tabor. Sáng láng không lưỡi nào tả xíêt như thánh Phaolô viết.

Nhưng Ngài cũng có thân xác loài người như chúng ta. Hy vọng của chúng ta là ở chỗ đó, cũng được phục sinh vinh hiển như Ngài. Ngài sẽ lên cùng Thiên Chúa Cha cũng là Thiên Chúa chúng ta, và thưa: “Con xin về cùng Cha, Con đã thắng trận, là người đầu tiên trong nhân loại sống lại để sống vĩnh cửu, là người đầu tiên trong tạo vật mới của Cha. Xin cha vui mừng với Con. Anh chị em con sẽ theo sau, từng người một trong đời sống đức tin vào Con. Cuối cùng tất cả đều sẽ trở về cùng Cha vinh hiển để sống muôn đời như con nay đang sống.”

Vậy hôm nay chúng ta nên nhập đoàn với các tông đồ khi họ nhìn vào ngôi mộ trống và với người môn đệ kia, chúng ta nhìn thấy cuộc sống mới: Cuộc sống của Đức Kitô Phục Sinh, đang thả rông khắp thế gian, không ai ngăn cản được nữa. Thiên hạ sẽ trông thấy rõ ràng khả năng biến đổi đời mình, biến đổi thế giới, đang sẵng sàng cho những ai đặt hết tin tưởng vào Đấng từ cõi chết sống lại. Amen. Alleluia.