Mầu Nhiệm Phục Sinh
Đó là ngày buồn thảm nhất cho đám người nhỏ bé. Cách đấy mấy hôm, vào một buổi tối trời, một môn đệ phản bội đã dắt một toán lính võ trang đến lùng bắt ngưòi Thầy thân yêu của họ. Sau đó quan quân đã dẫn Thầy đi về đền để tra khảo. Một môn đệ khác, người được Thầy tín nhiệm nhất đã chối bỏ là có quen biết Thầy..
Ít hôm sau, sau khi tra tấn và đánh đập tàn nhẫn, họ đã kết án hành quyết Thầy.
Sáng tinh sương hôm đó, quan quân dẩn Thầy qua con đường phố hẹp, đầu và mình đầy máu me. Để chế nhạo, họ đặt lên đầu Thầy một mũ miện bằng gai. Gai đâm vào đầu làm máu chảy xưốngđầy mặt. Các môn đệ không ai dám ra mặt đi theo, mà chỉ lẩn trong đám đông để theo dõi. Thầy quãng tuổi trung niên, vác thập giá trên vai, áo quần tơi tả, dáng đi mệt nhọc. Ông như kiệt lực vì bị hành hạ trong những đêm trước, nhiều khi vấp ngã. Và mỗi lần như vậy là đám lính La Mã giáng xuống cho Người những trận roi chí tử. Sau cùng họ bắt một người trong đám đi xem hành quyết vác hộ cây thập giá.
Họ dẩn Thầy lên đồi Sọ cùng với hai tử tù khác. Họ lột áo choàng, đè Thầy nằm xuống, dùng búa tạ đóng đinh hai tay vào thanh ngang của cây thập giá. Mỗi lần búa ta giáng xuống, toàn thân Thầy lại dẩy lên vì đau đớn. Sau cùng họ cột hai tay Thầy vào thập giá cho chắc chắn rồi dựng nó ở giữa hai cây thập giá treo hai người tử tù kia.
Trong lúc đó một đám đông và toán lính La Mã mặc sức chế nhạo Người. Họ đánh chắn để xem ai lấy được áo choàng của Người, và khi Người kêu khát thì họ lấy dấm để cho Người uống Sự đau đớn về thể xác phải cùng cực lắm, không thể chịu đựng được nữa nên Người mới phát ra câu than vãn độc nhất :”Lạy Chúa, Sao Chúa lại bỏ rơi con?” Chỉ một lát sau, Người kêu lên:”Con xin phó thác linh hồn con vào tay Chúa!” và trút hơi thở cuối cùng. Lính La Mã lấy dáo dài đâm vào sườn để biêt chắc rằng Người đã chết thật.(thường với những tử tù không bị hành hạ quá đáng mà bị đóng đinh như vậy đến ba bốn ngày sau mới chết).
Những môn đệ và một vài người đàn bà vốn yêu mến Người đứng dưới đồi nhìn lên mà lòng buồn vô hạn. Thôi, thế là hết. Còn đâu những lúc Thầy trò tung tăng khắp vùng đồi núi Galilê, đem thông điệp tình yêu cho mọi người. Họ nhớ lại Thầy trò đã từng chung sống với nhau, chia sẽ từng bữa ăn, nước uống. Họ nhớ lại thái độ đầy yêu thương của Thầy đối với những kẻ bần hàn, cứu giúp người hoạn nạn, tật nguyền, an ủi người khổ sở, khuyên lơn người tội lỗi.
Giờ đây Thầy đã bị hành quyết rồi, đám môn đệ như rắn mất đầu. Các giới chức trong chính quyền cũng như trong giáo quyền cho rằng phong trào vừa mới nhóm lên trong mấy năm, chắc rồi sẽ tan rã., và từ rày họ sẽ được ăn ngon ngũ yên, không ai thách thức những hành động đầy tội lỗi hay giả nhân giả nghĩa của họ nữa. Tuy nhiên trong tâm tư, các môn đệ không tài nào quên được người Thầy thân yêu của họ. Họ mường tượng thấy bóng dáng yêu quý và những lời nhắn nhủ của Người. Chẳng bao lâu, họ cảm thấy Tình Yêu, mà Thầy là Bản Thể, đã xâm chiếm linh hồn họ, và thúc dục họ hãy tiếp tục công việc truyền giáo, đừng bỏ dở. Thầy đã thật sự sống lại trong mỗi người. Đối với những quyền lực độc ác và tàn bạo thời bấy giờ họ chỉ là một nhóm người nhỏ nhoi, thất học, gồm có cả thảy mười một, mười hai người chi đó. Phần lớn là dân chài lưới, quê mùa. Người được Thầy giao phó làm trưởng đoàn lại là một anh chàng đánh cá, tính tình cục mịch, nóng nảy, ăn nói cà lăm. cà cặp. Với một đội ngũ nhân sự như vậy mà đòi thay thế Tình Yêu cho Bạo Lực vốn là chính sách của đế quốc La Mã bao la thời đó thật là một mơ ước không tưởng. Tuy nhiên, tin tưởng ở mãnh lực của Thông điệp Thầy rao giảng, họ hăng hái lên đường, đemTình Thương đến cho những kẻ khốn cùng, giúp đỡ những người đói khó, săn sóc những người đau yếu. Cùng với một số môn đệ được thu nhận về sau, họ đi khắp đế quốc, có truyền thuyết nói rằng một môn đệ sơ khởi đã đi đến và chết ở Ấn độ. Với lòng yêu thương làm khí giới họ chịu đựng bao nhiêu gian khổ, hành hạ, tra tấn, tù đày, giết chóc, nhưng vẫn một lòng trung kiên với sứ mệnh thiêng liêng.
Qua nhiều thế kỷ, số môn đệ của Thầy đã bành trướng rất nhiều. Họ gồm đũ mọi hạng người, từ những bậc quyền quý cho đến các lê dân, từ những nhà tỷ phú cho đến những người khố rách áo ôm. Hầu hết đều cố gắng, trong phạm vi và khả năng của mình, sống theo tôn chỉ tình yêu mà Thầy từng dạy bảo. Tuy nhiên, cũng như xưa kia, không phải không có những kẻ đã phản bội Thầy mà chạy theo uy quyền và lợi lộc, nhiều khi bằng những phương tiện bất chính và tàn ác.
Nhưng đáng kể nhất là một số ít đã cố gắng sống như Thầy xưa. Họ tận hiến đời mình để mang Thông Điệp Tình Yêu đến khắp năm châu bốn biển. Chính Thầy sống lại đã thôi thúc họ vào tận hang cùng ngõ hẻm để phục vụ mọi người. Không những vậy, mà khi săn sóc, cưu mang một người đói kém, tật nguyền họ lại thấy trước mắt mình chính là Thầy đang đói khổ, tật nguyền (“ Khi các con cho một người đói ăn, một người khát uống và săn sóc một người bần hàn nhất, chính là các con đã cho Thầy ăn uống và săn sóc chính Thầy”). Cũng như Thầy xưa, với một đời sống chí thiện, họ là những tấm gương sáng mời mọc mọi người hãy từ giã những lối sống sa đọa, những hành động áp bức, tham nhũng để trở về vói Tình Yêu Nguyên Thuỷ. Vì chỉ có Tình Yêu mới đem lại cho con người sự bình an trong tâm hồn và hạnh phúc vẹn toàn, vĩnh cửu. Đó là ý nghĩa mà cũng là hy vọng của Mầu Nhiệm Phục Sinh vậy.