Sự khiêm hạ của Thiên Chúa (2)
Chúa Giê Su bảo chúng ta không được cho người anh em mình là đồ ngốc. Vậy những vẫn có những người có thái độ như thế mà không phải qua lời nói. Chính cách sống, cách làm người của họ hạ nhục người anh em. Người khiêm hạ thì không hạ thấp người khác. Ðây quả thật là một kinh nghiệm rất quí giá mà tác giả đã đúc kết được qua cuộc sống mà ngài để lại cho hậu thế là chúng ta.
Kinh nghiệm về tình yêu nơi con người là cái ít thích nghi nhất để có thể gợi lên tình yêu đúng như thứ tình yêu được sống trong Thiên Chúa. Tình yêu nơi con người cũng khao khát yêu như Thiên Chúa yêu. Tình yêu nơi con người cũng còn có thể là khả năng để con người được biến đổi bởi Thần Khí hầu chu toàn ơn gọi làm người. Tác giả còn đi xa hơn nữa về tình yêu nơi con người khi con rằng tình yêu con người có thể dẫn đến tình yêu Thiên Chúa chính vì tình yêu con người là sự thể hiện tình yêu Thiên Chúa. Cũng theo cha Varrillon, như mặt trời không thể là hai, tình yêu cũng không thể là hai, nhưng chỉ có một mà thôi. Ðối với tác giả, tình yêu là sự nghèo, sự phụ thuộc, sự khiêm hạ. Ba chiều kích này có một sự liên quan chặt chẽ khi nói đến tình yêu là gì. Ðể mịnh họa cho cách hiểu của mình về tình yêu, tác giả lấy một ví dụ về những người đang yêu. Người yêu nói với người mình yêu : « Em (anh) là niềm vui của anh (em). » Ðó là một khẳng định về sự nghèo, bởi vì « nêú không có em (anh), anh (em) sẽ mất vui. Yêu là muốn được tồn tại nhờ người khác và cho người khác. Nhờ người khác tức là mình tiếp nhận người khác. Cho người khác tức là mình ban tặng cho người khác. Khi yêu, ta không thể vừa nói « anh yêu em », vừa muốn « anh muốn là người độc lập đối với em ». Trái lại, khi yêu chính là lúc muốn phụ thuộc. Ai yêu mạnh liệt nhất thì người đó là kẻ phụ thuộc nhất. Tác giả con đề cập đến cái nhìn trong tình yêu. Khi yêu thì không thể nhìn người khác bằng thái độ cao ngạo như thể mình ở trên cao, còn người khác ở kèo dưới. Trong tình yêu không thể có tính hơn kém giữa người này, người nọ. Tình yêu đòi hỏi cái nhìn cân bằng. Tình yêu không thể nói ai hơn ai (1). Khi yêu nhau là lúc nói lời thề hứa anh sẽ theo em đến tận cùng trái đất.
Tác giả cũng giải thích để chúng ta hiểu rằng khi nói về sự phụ thuộc trong tình yêu nơi Thiên Chúa. Sự phụ thuộc ở đây không phải vì một nhu cầu như đứa trẻ cần có mẹ. Sự phụ thuộc nên hiểu là sự hướng về người khác, là sự để tâm đến người khác. Như vậy theo tác giả, sự phụ thuộc nơi tình yêu Thiên Chúa chỉ có thể hiểu theo nghĩa đó là sự thuần khiết của tình yêu Người.
Còn về sức mạnh quyền năng của Thiên Chúa thì sao ? Sức mạnh quyền năng là một mầu nhiệm khôn lường. Nhờ đâu con người có thể nắm bắt được thứ sức mạnh ấy ? Về điều này, tác giả dẫn chúng ta đến với Ðức Giê Su. Nơi con người Giê Su và qua hành động của Ngài, sức mạnh THiên Chúa được tỏ hiện, ví dụ qua cử chỉ rửa chân cho các môn đệ. Ðó là một cử chỉ nói lên thực sự Thiên Chúa yêu thương con người như thế nào (2).
Ðến lúc này, tác giả dẫn chúng ta vào trong cái nghịch lí giữa cái mà ngài gọi là sự phụ thuộc, sự khiêm hạ, sự nghèo túng (pauvreté) vô tận và cái mà tác giả diễn tả bằng sức mạnh quyền năng và cũng giàu có vô ngần. Làm sao hiểu được điều nghịch lí trên ? Cách hiểu giúp chúng ta thoát khỏi sự khó hiểu của cái nghịch lí trên chính là thế này : « Thiên Chúa vô cùng giàu có. Nhưng giàu có trong tình yêu, chứ không phải giàu có về của cải » (3). Thiên Chúa cũng là Ðấng độc lập một cách tối cao, tác là Người tự do. Sự tận cùng của Tình yêu chính là từ chối sự độc lập. Thiên Chúa còn là Ðấng cao cả và quyền năng. Thế nhưng sự cao cả của Thiên Chúa chính là khả năng của tình yêu cho đến việc xóa mình đi trong sự khiêm hạ từ cái nhìn. Varrilon nhấn mạnh về cái nhìn khiêm hạ, chứ không phải cái nhìn dò xét, ác ý, bóp méo người khác. Cái nhìn khiêm hạ của Thiên Chúa không làm con người rối ren, không làm mất đi sự tự do và sự hiện hữu của con người.
Chỉ Thiên Chúa mới là Ðấng khiêm hạ. Con người thì không. Thế nhưng con người khiêm hạ được hiểu theo nghĩa lúc con người nhận ra bản thể không toàn năng của nó. Ðâng khiêm hạ mạc khải Người như một Hữu thể cá nhân, sống động, nội tại nơi lương tâm con người. Vậy, sự hiện diện nội tại như vậy không phải là sự xuất hiện của cái gì đó trong tôi và đồng thời khác tôi, mà là sự hiện diện của Ai đó trong tôi, đồng thời « ở trong tôi hơn cả chính tôi nữa » (4). Tác giả nói đến ba ngưỡng khi Thiên Chúa tỏ cho biết trong sự khiêm hạ. Ngưỡng thứ nhất là cái được ban tặng đến từ Ðấng ban tặng. Ngưỡng thứ hai là Thiên Chúa được nhận biết không chỉ là Ðấng ban tặng, Người còn là Ðấng tự trao ban chính mình. Ngưỡng thứ ba là sự nhận biết tính bao la của tình yêu Thiên Chúa như tính bao la của sự khiêm hạ (5).
Tác giả cho rằng nơi Thiên Chúa, tự do và phụ thuộc không đối lập nhau. Trong sự phụ thuộc, Thiên Chúa muốn thể hiện bản tính thật của tự do của Người, và cả tự do của con người nữa. Lúc khởi đầu là Tính nhưng không của tự do. Vậy nhưng, Ðức Ki Tô mạc khải cho chúng ta rằng Thiên Chúa, trong sự trọn hảo của Người, không muốn bỏ qua chúng ta. Nơi Ðức Ki Tô chúng ta có một Thiên Chúa bị tổn thương bởi vì Người muốn như vậy.
Chắc rằng tác giả của chúng ta ý thức được tính mập mờ trong cách hiểu về ngôn từ « tình yêu », nhất là khi nói đến Thiên Chúa. Cho nên, tác giả có nhấn mạnh đến điều này. Có thể ngôn từ « tình yêu » khi đề cập đến Thiên Chúa vừa là cần thiết, những cũng vừa nguy hiểm. « Thiên Chúa là Tình Yêu » (1 Ga 4, 8. 16). Tác giả đi theo cách hiểu về Tình Yêu Thiên Chúa của Truyền thống trong Giáo Hội, theo đó tình yêu không được hiểu như là một thuộc tính của Thiên Chúa trong số các thuộc tính khác. Theo tác giả, ở đây, thánh Gioan khẳng định tình yêu là chủ thể bởi nói Thiên Chúa là nói Tình Yêu (6).
Tác giả cũng đề cập đến một số thuộc tính về Thiên Chúa. Thứ nhất là Ðấng Tối Cao (7). Một khái niệm quá sức tưởng tưởng chăng ? Làm thế nào kết hợp được thứ ngôn từ này với ngôn từ khiêm hạ mà chúng ta đã đề cập từ những trang viết đầu tiên cho đến nay. Tác giả cho rằng trong sự khiêm hạ, sự cao cả được tỏ lộ. Khái niệm về sự tối cao của Thiên Chúa có thể nhằm gợi lên tính siêu việt và cả tính nội tại sâu thẳm nữa. Thiên Chúa là Ðấng Tối Cao, nhưng đồng thời cũng là Ðấng ở trong sâu thẳm nơi con người nhất và ở trong sự hiệp thông giữa con người với nhau.
Tiếp đến là ngôn từ Vinh Quang (8). Sự xuất hiện của Vinh Quang là hữu thể của nó. Vinh Quang của Thiên Chúa chính là sự thánh thiện của Người. Vính quang là sự hiện hữu trọn vẹn, là trọng lượng. Không phải là trọng lượng của một vật nào đó, cũng không phải trọng lượng của chính mình, mà là trọng lượng của tình yêu. Trong Thiên Chúa có một Vinh Quang vượt quá vinh quang thường : đó là Vinh Quang muốn chỉ là tình yêu. Khi nhập thể làm người và khi chịu chết, Thiên Chúa từ bỏ vinh quang, nhưng lại mạc khải Vinh Quang vượt qua cái vinh quang thường.
Còn sự Toàn Năng ? Chúng ta cần có kinh nghiệm lâu dài, thậm chí cả cuộc đời thì mới có thể hiểu được chút ít tại sao trong Thiên Chúa, sự giàu có lại là sự nghèo khó, sức mạnh lại là sự yếu đuối trong phạm trù tình yêu. Cũng như khi đề cập đến Vinh Quang, Sự Toàn Năng của Thiên Chúa cũng ẩn chứa một sự Toàn năng vượt qua sự toàn năng thường.
Việc thông biết mọi sự ? Nói hay tin Thiên Chúa thông biết mọi sự làm không ít người sợ, thậm chí muốn quang khỏi cuộc sống của họ hình ảnh về một Thiên Chúa như thế. Nếu Chúa biết tất cả, từ quá khứ, hiện tại đến tương lai, thế làm thế nào tránh khỏi thuyết định mệnh. Niềm tin trong ki tô giáo tin Thiên Chúa thấu biết mọi sự. Vấn đề là nên hiểu điều này ra sao và hợp với lo gích của li lẽ thế nào. Là con người, chúng ta chỉ biết phần nào chứ không biết hết mọi sự. Từ ý thức giới hạn kiến thức của mình, con người nhận ra điều này là sự hiểu biết, nhận thức nơi Thiên Chúa mới là toàn vẹn. Nơi con người thì có hạn, nơi Thiên Chúa vì vô hạn. Nơi Thiên Chúa không có vùng, miền, không có đường biên, không có thời gian, không có không gian. Sự thông biết mọi sự của Thiên Chúa là thế đó (9).
Thế còn Nét Ðẹp ? Thực ra chúng ta không thể nói gì cách trực tiếp về nét đẹp của Thiên Chúa, vì quan niệm về cái đẹp nơi chúng ta thì liên quan đến cái nhạy cảm, trong khi Thiên Chúa là Ðấng mà « mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe ». Hơn nữa trong kinh nghiệm của chúng ta có một điểm yếu giữa tình yêu và nhận thức, vậy nên cũng có một điểm yếu giữa nét đẹp và tình yêu.
Về Vẻ Uy Nghi của Thiên Chúa ? Khác với nét uy nghi của con người, vẻ uy nghi của Thiên Chúa được khám phá qua việc chiêm ngắm Ðức Giê Su Ki Tô. Nét uy nghi của Thiên Chúa thật sự là nét uy nghi của Ðấng khiêm hạ, bởi Người được tôn thờ.
Sự Kín đáo của Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa mới tôn trọng cách tuyệt đối tự do của con người. Chính Người tạo ra tự do. Chính vì thế Thiên Chúa không bao giờ kêu la, không bao giờ ép buộc. Thiên Chúa gợi ý, đề nghị, mời gọi. Thiên Chúa ẩn mình vì không muôn chúng ta chứng mình về Người theo cách thức của lí trí. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng có những sự táo bạo vô tận như việc tạo dựng và sự nhập thể nơi con người Ðứ Giê Su. Thiên Chúa kín đáo để con người trưởng thành trong tự do và trong sự tôn trọng Người cách tuyệt đối.
Ðọc tiếp tác phẩm này, tác giả nói đến thời ấu thơ của Chúa, tình thương mến của Chúa. Chúng ta có những dòng suy tư thiêng liêng khá mới mẻ và sâu sắc về đề tài trên. Ðức Giê Su là ai trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi ? Một câu hỏi xem ra quá dễ dàng cho người ki tô hữu, nhưng đồng thời cũng là một mầu nhiệm không bao giờ khám phá hết. Những môn đệ, tức những con người được Giê Su chọn và đồng hành với mình trong suốt quá trình hoạt động cuộc đời công khai. Những người này cũng chỉ khẳng định thiên tính của ngài Giê Su sau một biến cố sống lại. Họ đã sống kinh nghiệm về con người Giê Su qua những cử chỉ, những việc làm, những cái nhìn của Ngài lên những con người khác. Ðối với họ những gì được thể hiện nơi Ðức Giê Su làm cho họ kinh nghiệm rằng đó là Thiên Chúa đang nhìn đến con người và cũng là con người đang nhìn đến Thiên Chúa. Một câu hỏi khó hiện lên nơi họ là : Thiên Chúa và thầy Giê Su là hai hay một ? Biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống ngày lễ ngũ tuần đã trả lời cho họ rằng Ðức Giê Su là Thiên Chúa, thế là Giê Su và Thiên Chúa không phải là hai, mà là một. Ðức Giê Su là Thiên Chúa làm người vì họ, vì toàn thể nhân loại. Nơi con người Giê Su họ nhận ra ơn gọi là được trở nên giống như Thiên Chúa. Vì thế mà đã có truyền thống giáo phụ cho rằng Thiên Chúa làm người để con người trở nên Thiên Chúa. Nếu như Thiên Chúa không phải là Ba Ngôi, thì việc nhập thể làm người chỉ là một huyền thoại. Và niềm hy vọng của con người tin vào Thiên Chúa cũng là hảo huyền (10).
Tác giả đem đến cho độc giả những dòng suy nghĩ rất sâu đậm về tình yêu, đặc biệt tình yêu đôi lưa. Tình yêu nơi hạ giới là niềm vui và đau khổ lẫn lộn. Niềm vui nào ? Niềm vui nói với người mình yêu rằng em và anh chúng ta không phải là hai, mà là một. Ðau khổ nào ? Ðó là đau khổ khi nhận ra rằng, khi khẳng định sự kết hợp nên một giữa hai người, song đó không phải là điều tồn tại sẵn rồi, đó chỉ là điều hai người muốn trở nên một cho nhau, nhưng lại không thể được. Hai người không thể là một, họ luôn luôn là hai người. Bởi nếu người yêu và người được yêu không còn là hai nữa thì sẽ không còn người khác. Ðiều này có nghĩa là tình yêu sẽ bị hủy bỏ, bởi không có người khác để yêu. Trong trường hợp này thì chỉ có tình yêu chính mình mà thôi. Mình yêu mình. Thứ tình yêu mình như vậy thì không phải là tình yêu, mà chỉ là sự thoar mãn chính mình. Thứ tình yêu đó không có sự tiếp nhận, không có sự cho đi (11).
Thực ra, tác giả nói đến tình yêu con người là để chúng ta hiểu thêm về tình yêu trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi Ngôi vị trong Ba Ngôi không tồn tại cho chính mình. Mỗi ngôi chỉ tồn tại khi tồn tại cho hai ngôi khác. Ngôi Cha (Chuá Cha) chỉ tồn tại khác với Ngôi Con (Chuá Con) khi cho Ngôi Con hoàn toàn. Ngôi Con chỉ tồn tại khác với Ngôi Cha khi là cái đà yêu thương cho Chúa Cha. Chúa Cha không phải là ngôi vị trước hết như là ngôi vị được hình thành nên trong chính ngôi vị đó và cho chính ngôi vị đó. Nhưng chính hành vi sinh ra Chúa Con hình thành nên ngôi vị Chúa Cha. Vậy Chúa Cha là « Hành vi » cho đi chính mình. Chúa Con và Chúa Thánh Thần (Ngôi Ba) cũng vậy.
Qua lối giả thích có vẻ mới mẻ này, điều tác giả muốn chuyển đến chúng ta là trong mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, có mối tương quan yêu thương. Chính sự tương quan ấy là dạng nguyên thủy của hữu thể tồn tại. Vậy tại sao phải là Ba Ngôi ? Tác giả cho rằng nếu Thiên Chúa không phải Ba Ngôi, thì nơi Thiên Chúa sẽ không phải là Tình Yêu. Nhưng ngược lại, nếu Thiên Chúa không phải là Một, thì sẽ không phải là Thiên Chúa. Tác giả nhấn mạnh ở đây điều này là đức tin ki tô hữu là đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, chứ không phải đức tin vào Ba Thiên Chúa. Mầu nhiệm ba ngôi Thiên Chúa làm sáng tỏ mọi con đường của cuộc sống con người. Chúng ta cần bắt chước Thiên Chúa. Chúng ta không nên lạm dụng về tình yêu. Ơn gọi làm người, ý nghĩa của cuộc sống, là sống như Thiên Chúa sống, là yêu như Thiên Chúa yêu (12).
Chúng ta càng đọc càng nhận ra ngụ ý đầy xác tín của tác giả. Ðó là xác tín của một con người tin vào Thiên Chúa theo truyền thông đức tin của Giáo Hội. Ðó là đức tin vào Thiên Chúa siêu việt, nhưng đồng thời Ðấng Siêu Việt cũng là Ðấng tồn tại cách nội tại trong con người mà Thiên Chúa đã tạo ra. Lí trí con người chỉ có thể hiểu được sự siêu việt của Thiên Chúa như là cái gì đó ở bên kia trong nội tại tính : Thiên Chúa ở trong tôi hơn cả tôi là tôi. Thiên Chúa chỉ tồn tại với mình nhờ lối tồn tại với người khác. Mối tương quan của Thiên Chúa với cái mình là mối tương quan với người khác. Thiên Chúa không phải là Hữu Thể bị xóa đi, mà là Hành vi tự xóa mình. Bản chất của Thiên Chúa là tồn tại xa cái mình một cách vô tận. Thiên Chúa chỉ gần người khác. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng con người cần siết chặt với cái mình (le soi) như là hữu thể cá biệt để có thể tự xưng Tôi. Nhưng nếu tự hình thành nên cái mình thì hậu quả sẽ là khuynh hướng thích mình hơn người khác, yêu mình hơn yêu người khác, và rút cục không hề yêu người khác mà chỉ yêu chính cái mình (13).
Còn về Hành vi tạo dựng của Thiên Chua ? Việc Thiên Chúa tạo dựng thế gian và con người là một Hành Vi từ Tính nhưng không của Thiên Chúa, hay vì một nhu cầu, một thiếu thốn gì đó ? Tác giả cho rằng nếu Thiên Chúa tạo dựng chỉ vì thiếu cái gì đó, chỉ vì nhu cầu gì đó thì niềm xác tín về tính thuần khiết của tình yêu Thiên Chúa đã đề cập đến sẽ bị sụp đổ hết. Bởi trong Thiên Chúa chỉ Người thôi là đủ cách tuyệt đối. Thiên Chúa đã không quyết định tạo dựng ở một lúc nào đó của sự hiện hữu của Người, bởi Thiên Chúa tồn tại cách vô hạn. Sự hiện hữu của Thiên Chúa không bị phân chia theo quảng thời gian, màlà vô tận. Chúng ta cũng không thể nói về một Thiên Chúa sáng tạo như một người thợ thủ công, một người chế tạo, hay một nhà sản xuất. Bởi Thiên Chúa là tỉnh yêu, mà tình yêu thì không thể không muốn con người mà nó tạo nên tự tạo lấy cái mình bởi chính mình.
Trong Hành Vi tạo dựng có cái không thể phủ nhận được, không thể minh họa được, đó là mối dây giữa sự hoàn thành hoàn hảo của Thiên Chúa trong chính Người và dự định đời đời, ở trong sự hoàn thành ấy của Thiên Chúa, mở mình ra với những người khác. Như vậy ta thấy Sự hoàn thiện của Tình Yêu Thiên Chúa không phải là một sự khép kín trên chính Người, mà là một sáng kiến theo hướng mở ra ngoài (14).
Theo tác giả, nói đến Hành Vi sáng tạo của Thiên Chúa thì cần nóiq đến tính khiêm hạ trong việc sáng tạo. Thiên Chúa không tạo dựng để phô bày như người ta phô bày một cảnh tượng. Bởi tác giả cho rằng việc phô bày thì không thể không có sự kiêu ngạo, huyênh hoang. Và sự khiêm hạ trong sáng tạo của Thiên Chúa là thế này : Thiên Chúa xóa mình đi khi không xem Người là tất cả. Sự từ chối đó thậm chí là bản thể của Người. Chính sự toàn năng của Thiên Chúa trong hành động, là sự toàn năng của sự rút lui, ẩn mình, chứ không phải sự toàn năng của tính phô trương. Nơi Thiên Chúa, rút lui chính là sức mạnh tôi cao. Như vậy, sự toàn năng của Thiên Chúa là sự từ bỏ tuyệt đối chính mình.
Varillon cho rằng Hành vi tạo dựng của Thiên Chúa có một cấu trúc liên quan đến Ðức Ki Tô. Bởi vì Ðức Ki Tô là sự thể hiện hoàn hảo của tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. « Thiên Chúa đã chọn chúng ta trong Ðức Ki Tô trước khi tạo dựng thế gian » (Ep 1, 4). « Ðức Ki Tô là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử của mọi tạo vật. Người có trước mọi loài và mọ loài tồn tại trong Người » (Col 1, 15-17).
Nói đến Ðức Ki Tô dẫn tác giả đến ý tưởng về tính tổn thương nơi Thiên Chúa. Bởi Ðức Ki Tô là Thiên Chúa, nhưng là một Thiên Chúa bị đóng đinh trên thập giá. Thiên Chúa trong Ðức Ki Tô chịu để tạo vật là con người mà Thiên Chúa đã tạo nên và ban cho tự do làm Người tổn thương. Vì Tình Yêu (tức Thiên Chúa) thì không thể ngăn cản hay ép buộc. Khi để cho con người tự tạo lấy cái tôi, cái mình, tức tự tiếp tục hoàn thiện nhân thể, Thiên Chúa chấp nhận mạo hiểm bị con người quay lưng chống lại Người. Một tình yêu tạo nên tự do thì không thể không đau khổ. Tình yêu thì không thể không đi đến cùng của con đường yêu thương. Tình yêu thì hy sinh, là hiến tế, nếu không tình yêu sẽ bị giới hạn. Tuy nhiên con người vẫn tự do dưới thập giá. Thiên Chúa tiếp tục tôn trọng con người đến cùng. Dầu vậy, niềm hy vọng vẫn tồn tại. Thiên Chúa và con người cùng hy vọng ơn cứu độ cho con người (15). Cũng vì Thiên Chúa không chế tạo ra tự con người, mà là tạo dựng và ban ơn tự do nhưng không cho con người, nên con người mới có thể làm tồn thương Thiên Chúa trong lòng.
Tác giả dẫn chúng ta trở về với mầu nhiệm Ðức Ki Tô, mầu nhiệm của sự tự hủy, của sự tước bỏ, tức là việc hạ mình và từ bỏ mọi danh dự và mọi vinh quang của Ðức Ki Tô, Ðấng vốn dĩ là Thiên Chúa, có địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Tác giả đưa chúng ta từ sự tước bỏ của Ðức Ki Tô đến sự tước bỏ của Thiên Chúa (Chuá Cha), để rồi khám phá trong đó điều bí ẩn của công trình và bản thể của Thiên Chúa. Vì chúng ta thương nghe Ðức Ki Tô nói « Ai đã thấy Người thì thấy Cha Người ». Vậy, trọng tâm của đức tin chúng ta là rằng bản thể của Thiên Chúa khớp với sự xuất hiện của Người trong Ðức Ki Tô. Sỡ dĩ có một sự tước bỏ của Ðức Ki Tô là vì Thiên Chúa, Cha, Con, Thánh Thần là đời đời trong sự tước bỏ, tức mãi trong hành vi giao nộp hi sinh mình. Ðúng là không cần phải là người ki tô hữu để biết rằng không ai vào trong niềm vui yêu thương mà lại không vào trong cùng một chuyển động trong đau khổ vì yêu. Tuy nhiên, điều khác biệt là người tin vào Ðức Ki Tô thì lập nên trong Thiên Chúa chính tính hai chiều này, hay còn gọi là căn tính. Thiên Chúa hằng hữu là Ðấng trở nên trong Ðức Ki Tô (16).
Sự tước bỏ của Ðức Ki Tô đạt đến sự trọn vẹn trong cái chết. Vì thế cái chết của Người mạc khải trọn vẹn Vinh Quang của Thiên Chúa, Ðấng mà chúng ta gọi là Tình Yêu đồng nhất với Sự toàn năng tự hủy mình. Trong Ðức Giê Su bị đóng đinh, cái « cho bạn, cho anh », sự phủ nhận cái « cho mình », của Ðấng Tuyệt Ðối ba ngôi hằng sống. Thập giá là gương mặt trung tâm của sự mạc khải : một con người bị bẽ mặt lại mở ra cho thấy Hữu Thể đời đời vô hình dạng (17).
Chú thích:
(1) Như trên, tr. 68-70.
(2) Như trên, tr. 70.
(3) Như trên, tr. 71.
(4) Như trên, tr. 73.
(5) Như trên, tr. 74.
(6) Như trên, tr. 79.
(7) Như trên, tr. 80.
(8) Như trên, tr. 81.
(9) Như trên, tr. 86.
(10) Như trên, tr. 103-105.
(11) Như trên, tr. 106.
(12) Như trên, tr. 107-109.
(13) Như trên, tr. 110.
(14) Như trên, tr. 116-121.
(15) Như trên, tr. 121-124.
(16) Như trên, tr. 125-128.
(17) Như trên, tr. 142-144.
Chúa Giê Su bảo chúng ta không được cho người anh em mình là đồ ngốc. Vậy những vẫn có những người có thái độ như thế mà không phải qua lời nói. Chính cách sống, cách làm người của họ hạ nhục người anh em. Người khiêm hạ thì không hạ thấp người khác. Ðây quả thật là một kinh nghiệm rất quí giá mà tác giả đã đúc kết được qua cuộc sống mà ngài để lại cho hậu thế là chúng ta.
Kinh nghiệm về tình yêu nơi con người là cái ít thích nghi nhất để có thể gợi lên tình yêu đúng như thứ tình yêu được sống trong Thiên Chúa. Tình yêu nơi con người cũng khao khát yêu như Thiên Chúa yêu. Tình yêu nơi con người cũng còn có thể là khả năng để con người được biến đổi bởi Thần Khí hầu chu toàn ơn gọi làm người. Tác giả còn đi xa hơn nữa về tình yêu nơi con người khi con rằng tình yêu con người có thể dẫn đến tình yêu Thiên Chúa chính vì tình yêu con người là sự thể hiện tình yêu Thiên Chúa. Cũng theo cha Varrillon, như mặt trời không thể là hai, tình yêu cũng không thể là hai, nhưng chỉ có một mà thôi. Ðối với tác giả, tình yêu là sự nghèo, sự phụ thuộc, sự khiêm hạ. Ba chiều kích này có một sự liên quan chặt chẽ khi nói đến tình yêu là gì. Ðể mịnh họa cho cách hiểu của mình về tình yêu, tác giả lấy một ví dụ về những người đang yêu. Người yêu nói với người mình yêu : « Em (anh) là niềm vui của anh (em). » Ðó là một khẳng định về sự nghèo, bởi vì « nêú không có em (anh), anh (em) sẽ mất vui. Yêu là muốn được tồn tại nhờ người khác và cho người khác. Nhờ người khác tức là mình tiếp nhận người khác. Cho người khác tức là mình ban tặng cho người khác. Khi yêu, ta không thể vừa nói « anh yêu em », vừa muốn « anh muốn là người độc lập đối với em ». Trái lại, khi yêu chính là lúc muốn phụ thuộc. Ai yêu mạnh liệt nhất thì người đó là kẻ phụ thuộc nhất. Tác giả con đề cập đến cái nhìn trong tình yêu. Khi yêu thì không thể nhìn người khác bằng thái độ cao ngạo như thể mình ở trên cao, còn người khác ở kèo dưới. Trong tình yêu không thể có tính hơn kém giữa người này, người nọ. Tình yêu đòi hỏi cái nhìn cân bằng. Tình yêu không thể nói ai hơn ai (1). Khi yêu nhau là lúc nói lời thề hứa anh sẽ theo em đến tận cùng trái đất.
Tác giả cũng giải thích để chúng ta hiểu rằng khi nói về sự phụ thuộc trong tình yêu nơi Thiên Chúa. Sự phụ thuộc ở đây không phải vì một nhu cầu như đứa trẻ cần có mẹ. Sự phụ thuộc nên hiểu là sự hướng về người khác, là sự để tâm đến người khác. Như vậy theo tác giả, sự phụ thuộc nơi tình yêu Thiên Chúa chỉ có thể hiểu theo nghĩa đó là sự thuần khiết của tình yêu Người.
Còn về sức mạnh quyền năng của Thiên Chúa thì sao ? Sức mạnh quyền năng là một mầu nhiệm khôn lường. Nhờ đâu con người có thể nắm bắt được thứ sức mạnh ấy ? Về điều này, tác giả dẫn chúng ta đến với Ðức Giê Su. Nơi con người Giê Su và qua hành động của Ngài, sức mạnh THiên Chúa được tỏ hiện, ví dụ qua cử chỉ rửa chân cho các môn đệ. Ðó là một cử chỉ nói lên thực sự Thiên Chúa yêu thương con người như thế nào (2).
Ðến lúc này, tác giả dẫn chúng ta vào trong cái nghịch lí giữa cái mà ngài gọi là sự phụ thuộc, sự khiêm hạ, sự nghèo túng (pauvreté) vô tận và cái mà tác giả diễn tả bằng sức mạnh quyền năng và cũng giàu có vô ngần. Làm sao hiểu được điều nghịch lí trên ? Cách hiểu giúp chúng ta thoát khỏi sự khó hiểu của cái nghịch lí trên chính là thế này : « Thiên Chúa vô cùng giàu có. Nhưng giàu có trong tình yêu, chứ không phải giàu có về của cải » (3). Thiên Chúa cũng là Ðấng độc lập một cách tối cao, tác là Người tự do. Sự tận cùng của Tình yêu chính là từ chối sự độc lập. Thiên Chúa còn là Ðấng cao cả và quyền năng. Thế nhưng sự cao cả của Thiên Chúa chính là khả năng của tình yêu cho đến việc xóa mình đi trong sự khiêm hạ từ cái nhìn. Varrilon nhấn mạnh về cái nhìn khiêm hạ, chứ không phải cái nhìn dò xét, ác ý, bóp méo người khác. Cái nhìn khiêm hạ của Thiên Chúa không làm con người rối ren, không làm mất đi sự tự do và sự hiện hữu của con người.
Chỉ Thiên Chúa mới là Ðấng khiêm hạ. Con người thì không. Thế nhưng con người khiêm hạ được hiểu theo nghĩa lúc con người nhận ra bản thể không toàn năng của nó. Ðâng khiêm hạ mạc khải Người như một Hữu thể cá nhân, sống động, nội tại nơi lương tâm con người. Vậy, sự hiện diện nội tại như vậy không phải là sự xuất hiện của cái gì đó trong tôi và đồng thời khác tôi, mà là sự hiện diện của Ai đó trong tôi, đồng thời « ở trong tôi hơn cả chính tôi nữa » (4). Tác giả nói đến ba ngưỡng khi Thiên Chúa tỏ cho biết trong sự khiêm hạ. Ngưỡng thứ nhất là cái được ban tặng đến từ Ðấng ban tặng. Ngưỡng thứ hai là Thiên Chúa được nhận biết không chỉ là Ðấng ban tặng, Người còn là Ðấng tự trao ban chính mình. Ngưỡng thứ ba là sự nhận biết tính bao la của tình yêu Thiên Chúa như tính bao la của sự khiêm hạ (5).
Tác giả cho rằng nơi Thiên Chúa, tự do và phụ thuộc không đối lập nhau. Trong sự phụ thuộc, Thiên Chúa muốn thể hiện bản tính thật của tự do của Người, và cả tự do của con người nữa. Lúc khởi đầu là Tính nhưng không của tự do. Vậy nhưng, Ðức Ki Tô mạc khải cho chúng ta rằng Thiên Chúa, trong sự trọn hảo của Người, không muốn bỏ qua chúng ta. Nơi Ðức Ki Tô chúng ta có một Thiên Chúa bị tổn thương bởi vì Người muốn như vậy.
Chắc rằng tác giả của chúng ta ý thức được tính mập mờ trong cách hiểu về ngôn từ « tình yêu », nhất là khi nói đến Thiên Chúa. Cho nên, tác giả có nhấn mạnh đến điều này. Có thể ngôn từ « tình yêu » khi đề cập đến Thiên Chúa vừa là cần thiết, những cũng vừa nguy hiểm. « Thiên Chúa là Tình Yêu » (1 Ga 4, 8. 16). Tác giả đi theo cách hiểu về Tình Yêu Thiên Chúa của Truyền thống trong Giáo Hội, theo đó tình yêu không được hiểu như là một thuộc tính của Thiên Chúa trong số các thuộc tính khác. Theo tác giả, ở đây, thánh Gioan khẳng định tình yêu là chủ thể bởi nói Thiên Chúa là nói Tình Yêu (6).
Tác giả cũng đề cập đến một số thuộc tính về Thiên Chúa. Thứ nhất là Ðấng Tối Cao (7). Một khái niệm quá sức tưởng tưởng chăng ? Làm thế nào kết hợp được thứ ngôn từ này với ngôn từ khiêm hạ mà chúng ta đã đề cập từ những trang viết đầu tiên cho đến nay. Tác giả cho rằng trong sự khiêm hạ, sự cao cả được tỏ lộ. Khái niệm về sự tối cao của Thiên Chúa có thể nhằm gợi lên tính siêu việt và cả tính nội tại sâu thẳm nữa. Thiên Chúa là Ðấng Tối Cao, nhưng đồng thời cũng là Ðấng ở trong sâu thẳm nơi con người nhất và ở trong sự hiệp thông giữa con người với nhau.
Tiếp đến là ngôn từ Vinh Quang (8). Sự xuất hiện của Vinh Quang là hữu thể của nó. Vinh Quang của Thiên Chúa chính là sự thánh thiện của Người. Vính quang là sự hiện hữu trọn vẹn, là trọng lượng. Không phải là trọng lượng của một vật nào đó, cũng không phải trọng lượng của chính mình, mà là trọng lượng của tình yêu. Trong Thiên Chúa có một Vinh Quang vượt quá vinh quang thường : đó là Vinh Quang muốn chỉ là tình yêu. Khi nhập thể làm người và khi chịu chết, Thiên Chúa từ bỏ vinh quang, nhưng lại mạc khải Vinh Quang vượt qua cái vinh quang thường.
Còn sự Toàn Năng ? Chúng ta cần có kinh nghiệm lâu dài, thậm chí cả cuộc đời thì mới có thể hiểu được chút ít tại sao trong Thiên Chúa, sự giàu có lại là sự nghèo khó, sức mạnh lại là sự yếu đuối trong phạm trù tình yêu. Cũng như khi đề cập đến Vinh Quang, Sự Toàn Năng của Thiên Chúa cũng ẩn chứa một sự Toàn năng vượt qua sự toàn năng thường.
Việc thông biết mọi sự ? Nói hay tin Thiên Chúa thông biết mọi sự làm không ít người sợ, thậm chí muốn quang khỏi cuộc sống của họ hình ảnh về một Thiên Chúa như thế. Nếu Chúa biết tất cả, từ quá khứ, hiện tại đến tương lai, thế làm thế nào tránh khỏi thuyết định mệnh. Niềm tin trong ki tô giáo tin Thiên Chúa thấu biết mọi sự. Vấn đề là nên hiểu điều này ra sao và hợp với lo gích của li lẽ thế nào. Là con người, chúng ta chỉ biết phần nào chứ không biết hết mọi sự. Từ ý thức giới hạn kiến thức của mình, con người nhận ra điều này là sự hiểu biết, nhận thức nơi Thiên Chúa mới là toàn vẹn. Nơi con người thì có hạn, nơi Thiên Chúa vì vô hạn. Nơi Thiên Chúa không có vùng, miền, không có đường biên, không có thời gian, không có không gian. Sự thông biết mọi sự của Thiên Chúa là thế đó (9).
Thế còn Nét Ðẹp ? Thực ra chúng ta không thể nói gì cách trực tiếp về nét đẹp của Thiên Chúa, vì quan niệm về cái đẹp nơi chúng ta thì liên quan đến cái nhạy cảm, trong khi Thiên Chúa là Ðấng mà « mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe ». Hơn nữa trong kinh nghiệm của chúng ta có một điểm yếu giữa tình yêu và nhận thức, vậy nên cũng có một điểm yếu giữa nét đẹp và tình yêu.
Về Vẻ Uy Nghi của Thiên Chúa ? Khác với nét uy nghi của con người, vẻ uy nghi của Thiên Chúa được khám phá qua việc chiêm ngắm Ðức Giê Su Ki Tô. Nét uy nghi của Thiên Chúa thật sự là nét uy nghi của Ðấng khiêm hạ, bởi Người được tôn thờ.
Sự Kín đáo của Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa mới tôn trọng cách tuyệt đối tự do của con người. Chính Người tạo ra tự do. Chính vì thế Thiên Chúa không bao giờ kêu la, không bao giờ ép buộc. Thiên Chúa gợi ý, đề nghị, mời gọi. Thiên Chúa ẩn mình vì không muôn chúng ta chứng mình về Người theo cách thức của lí trí. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng có những sự táo bạo vô tận như việc tạo dựng và sự nhập thể nơi con người Ðứ Giê Su. Thiên Chúa kín đáo để con người trưởng thành trong tự do và trong sự tôn trọng Người cách tuyệt đối.
Ðọc tiếp tác phẩm này, tác giả nói đến thời ấu thơ của Chúa, tình thương mến của Chúa. Chúng ta có những dòng suy tư thiêng liêng khá mới mẻ và sâu sắc về đề tài trên. Ðức Giê Su là ai trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi ? Một câu hỏi xem ra quá dễ dàng cho người ki tô hữu, nhưng đồng thời cũng là một mầu nhiệm không bao giờ khám phá hết. Những môn đệ, tức những con người được Giê Su chọn và đồng hành với mình trong suốt quá trình hoạt động cuộc đời công khai. Những người này cũng chỉ khẳng định thiên tính của ngài Giê Su sau một biến cố sống lại. Họ đã sống kinh nghiệm về con người Giê Su qua những cử chỉ, những việc làm, những cái nhìn của Ngài lên những con người khác. Ðối với họ những gì được thể hiện nơi Ðức Giê Su làm cho họ kinh nghiệm rằng đó là Thiên Chúa đang nhìn đến con người và cũng là con người đang nhìn đến Thiên Chúa. Một câu hỏi khó hiện lên nơi họ là : Thiên Chúa và thầy Giê Su là hai hay một ? Biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống ngày lễ ngũ tuần đã trả lời cho họ rằng Ðức Giê Su là Thiên Chúa, thế là Giê Su và Thiên Chúa không phải là hai, mà là một. Ðức Giê Su là Thiên Chúa làm người vì họ, vì toàn thể nhân loại. Nơi con người Giê Su họ nhận ra ơn gọi là được trở nên giống như Thiên Chúa. Vì thế mà đã có truyền thống giáo phụ cho rằng Thiên Chúa làm người để con người trở nên Thiên Chúa. Nếu như Thiên Chúa không phải là Ba Ngôi, thì việc nhập thể làm người chỉ là một huyền thoại. Và niềm hy vọng của con người tin vào Thiên Chúa cũng là hảo huyền (10).
Tác giả đem đến cho độc giả những dòng suy nghĩ rất sâu đậm về tình yêu, đặc biệt tình yêu đôi lưa. Tình yêu nơi hạ giới là niềm vui và đau khổ lẫn lộn. Niềm vui nào ? Niềm vui nói với người mình yêu rằng em và anh chúng ta không phải là hai, mà là một. Ðau khổ nào ? Ðó là đau khổ khi nhận ra rằng, khi khẳng định sự kết hợp nên một giữa hai người, song đó không phải là điều tồn tại sẵn rồi, đó chỉ là điều hai người muốn trở nên một cho nhau, nhưng lại không thể được. Hai người không thể là một, họ luôn luôn là hai người. Bởi nếu người yêu và người được yêu không còn là hai nữa thì sẽ không còn người khác. Ðiều này có nghĩa là tình yêu sẽ bị hủy bỏ, bởi không có người khác để yêu. Trong trường hợp này thì chỉ có tình yêu chính mình mà thôi. Mình yêu mình. Thứ tình yêu mình như vậy thì không phải là tình yêu, mà chỉ là sự thoar mãn chính mình. Thứ tình yêu đó không có sự tiếp nhận, không có sự cho đi (11).
Thực ra, tác giả nói đến tình yêu con người là để chúng ta hiểu thêm về tình yêu trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi Ngôi vị trong Ba Ngôi không tồn tại cho chính mình. Mỗi ngôi chỉ tồn tại khi tồn tại cho hai ngôi khác. Ngôi Cha (Chuá Cha) chỉ tồn tại khác với Ngôi Con (Chuá Con) khi cho Ngôi Con hoàn toàn. Ngôi Con chỉ tồn tại khác với Ngôi Cha khi là cái đà yêu thương cho Chúa Cha. Chúa Cha không phải là ngôi vị trước hết như là ngôi vị được hình thành nên trong chính ngôi vị đó và cho chính ngôi vị đó. Nhưng chính hành vi sinh ra Chúa Con hình thành nên ngôi vị Chúa Cha. Vậy Chúa Cha là « Hành vi » cho đi chính mình. Chúa Con và Chúa Thánh Thần (Ngôi Ba) cũng vậy.
Qua lối giả thích có vẻ mới mẻ này, điều tác giả muốn chuyển đến chúng ta là trong mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, có mối tương quan yêu thương. Chính sự tương quan ấy là dạng nguyên thủy của hữu thể tồn tại. Vậy tại sao phải là Ba Ngôi ? Tác giả cho rằng nếu Thiên Chúa không phải Ba Ngôi, thì nơi Thiên Chúa sẽ không phải là Tình Yêu. Nhưng ngược lại, nếu Thiên Chúa không phải là Một, thì sẽ không phải là Thiên Chúa. Tác giả nhấn mạnh ở đây điều này là đức tin ki tô hữu là đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, chứ không phải đức tin vào Ba Thiên Chúa. Mầu nhiệm ba ngôi Thiên Chúa làm sáng tỏ mọi con đường của cuộc sống con người. Chúng ta cần bắt chước Thiên Chúa. Chúng ta không nên lạm dụng về tình yêu. Ơn gọi làm người, ý nghĩa của cuộc sống, là sống như Thiên Chúa sống, là yêu như Thiên Chúa yêu (12).
Chúng ta càng đọc càng nhận ra ngụ ý đầy xác tín của tác giả. Ðó là xác tín của một con người tin vào Thiên Chúa theo truyền thông đức tin của Giáo Hội. Ðó là đức tin vào Thiên Chúa siêu việt, nhưng đồng thời Ðấng Siêu Việt cũng là Ðấng tồn tại cách nội tại trong con người mà Thiên Chúa đã tạo ra. Lí trí con người chỉ có thể hiểu được sự siêu việt của Thiên Chúa như là cái gì đó ở bên kia trong nội tại tính : Thiên Chúa ở trong tôi hơn cả tôi là tôi. Thiên Chúa chỉ tồn tại với mình nhờ lối tồn tại với người khác. Mối tương quan của Thiên Chúa với cái mình là mối tương quan với người khác. Thiên Chúa không phải là Hữu Thể bị xóa đi, mà là Hành vi tự xóa mình. Bản chất của Thiên Chúa là tồn tại xa cái mình một cách vô tận. Thiên Chúa chỉ gần người khác. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng con người cần siết chặt với cái mình (le soi) như là hữu thể cá biệt để có thể tự xưng Tôi. Nhưng nếu tự hình thành nên cái mình thì hậu quả sẽ là khuynh hướng thích mình hơn người khác, yêu mình hơn yêu người khác, và rút cục không hề yêu người khác mà chỉ yêu chính cái mình (13).
Còn về Hành vi tạo dựng của Thiên Chua ? Việc Thiên Chúa tạo dựng thế gian và con người là một Hành Vi từ Tính nhưng không của Thiên Chúa, hay vì một nhu cầu, một thiếu thốn gì đó ? Tác giả cho rằng nếu Thiên Chúa tạo dựng chỉ vì thiếu cái gì đó, chỉ vì nhu cầu gì đó thì niềm xác tín về tính thuần khiết của tình yêu Thiên Chúa đã đề cập đến sẽ bị sụp đổ hết. Bởi trong Thiên Chúa chỉ Người thôi là đủ cách tuyệt đối. Thiên Chúa đã không quyết định tạo dựng ở một lúc nào đó của sự hiện hữu của Người, bởi Thiên Chúa tồn tại cách vô hạn. Sự hiện hữu của Thiên Chúa không bị phân chia theo quảng thời gian, màlà vô tận. Chúng ta cũng không thể nói về một Thiên Chúa sáng tạo như một người thợ thủ công, một người chế tạo, hay một nhà sản xuất. Bởi Thiên Chúa là tỉnh yêu, mà tình yêu thì không thể không muốn con người mà nó tạo nên tự tạo lấy cái mình bởi chính mình.
Trong Hành Vi tạo dựng có cái không thể phủ nhận được, không thể minh họa được, đó là mối dây giữa sự hoàn thành hoàn hảo của Thiên Chúa trong chính Người và dự định đời đời, ở trong sự hoàn thành ấy của Thiên Chúa, mở mình ra với những người khác. Như vậy ta thấy Sự hoàn thiện của Tình Yêu Thiên Chúa không phải là một sự khép kín trên chính Người, mà là một sáng kiến theo hướng mở ra ngoài (14).
Theo tác giả, nói đến Hành Vi sáng tạo của Thiên Chúa thì cần nóiq đến tính khiêm hạ trong việc sáng tạo. Thiên Chúa không tạo dựng để phô bày như người ta phô bày một cảnh tượng. Bởi tác giả cho rằng việc phô bày thì không thể không có sự kiêu ngạo, huyênh hoang. Và sự khiêm hạ trong sáng tạo của Thiên Chúa là thế này : Thiên Chúa xóa mình đi khi không xem Người là tất cả. Sự từ chối đó thậm chí là bản thể của Người. Chính sự toàn năng của Thiên Chúa trong hành động, là sự toàn năng của sự rút lui, ẩn mình, chứ không phải sự toàn năng của tính phô trương. Nơi Thiên Chúa, rút lui chính là sức mạnh tôi cao. Như vậy, sự toàn năng của Thiên Chúa là sự từ bỏ tuyệt đối chính mình.
Varillon cho rằng Hành vi tạo dựng của Thiên Chúa có một cấu trúc liên quan đến Ðức Ki Tô. Bởi vì Ðức Ki Tô là sự thể hiện hoàn hảo của tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. « Thiên Chúa đã chọn chúng ta trong Ðức Ki Tô trước khi tạo dựng thế gian » (Ep 1, 4). « Ðức Ki Tô là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử của mọi tạo vật. Người có trước mọi loài và mọ loài tồn tại trong Người » (Col 1, 15-17).
Nói đến Ðức Ki Tô dẫn tác giả đến ý tưởng về tính tổn thương nơi Thiên Chúa. Bởi Ðức Ki Tô là Thiên Chúa, nhưng là một Thiên Chúa bị đóng đinh trên thập giá. Thiên Chúa trong Ðức Ki Tô chịu để tạo vật là con người mà Thiên Chúa đã tạo nên và ban cho tự do làm Người tổn thương. Vì Tình Yêu (tức Thiên Chúa) thì không thể ngăn cản hay ép buộc. Khi để cho con người tự tạo lấy cái tôi, cái mình, tức tự tiếp tục hoàn thiện nhân thể, Thiên Chúa chấp nhận mạo hiểm bị con người quay lưng chống lại Người. Một tình yêu tạo nên tự do thì không thể không đau khổ. Tình yêu thì không thể không đi đến cùng của con đường yêu thương. Tình yêu thì hy sinh, là hiến tế, nếu không tình yêu sẽ bị giới hạn. Tuy nhiên con người vẫn tự do dưới thập giá. Thiên Chúa tiếp tục tôn trọng con người đến cùng. Dầu vậy, niềm hy vọng vẫn tồn tại. Thiên Chúa và con người cùng hy vọng ơn cứu độ cho con người (15). Cũng vì Thiên Chúa không chế tạo ra tự con người, mà là tạo dựng và ban ơn tự do nhưng không cho con người, nên con người mới có thể làm tồn thương Thiên Chúa trong lòng.
Tác giả dẫn chúng ta trở về với mầu nhiệm Ðức Ki Tô, mầu nhiệm của sự tự hủy, của sự tước bỏ, tức là việc hạ mình và từ bỏ mọi danh dự và mọi vinh quang của Ðức Ki Tô, Ðấng vốn dĩ là Thiên Chúa, có địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Tác giả đưa chúng ta từ sự tước bỏ của Ðức Ki Tô đến sự tước bỏ của Thiên Chúa (Chuá Cha), để rồi khám phá trong đó điều bí ẩn của công trình và bản thể của Thiên Chúa. Vì chúng ta thương nghe Ðức Ki Tô nói « Ai đã thấy Người thì thấy Cha Người ». Vậy, trọng tâm của đức tin chúng ta là rằng bản thể của Thiên Chúa khớp với sự xuất hiện của Người trong Ðức Ki Tô. Sỡ dĩ có một sự tước bỏ của Ðức Ki Tô là vì Thiên Chúa, Cha, Con, Thánh Thần là đời đời trong sự tước bỏ, tức mãi trong hành vi giao nộp hi sinh mình. Ðúng là không cần phải là người ki tô hữu để biết rằng không ai vào trong niềm vui yêu thương mà lại không vào trong cùng một chuyển động trong đau khổ vì yêu. Tuy nhiên, điều khác biệt là người tin vào Ðức Ki Tô thì lập nên trong Thiên Chúa chính tính hai chiều này, hay còn gọi là căn tính. Thiên Chúa hằng hữu là Ðấng trở nên trong Ðức Ki Tô (16).
Sự tước bỏ của Ðức Ki Tô đạt đến sự trọn vẹn trong cái chết. Vì thế cái chết của Người mạc khải trọn vẹn Vinh Quang của Thiên Chúa, Ðấng mà chúng ta gọi là Tình Yêu đồng nhất với Sự toàn năng tự hủy mình. Trong Ðức Giê Su bị đóng đinh, cái « cho bạn, cho anh », sự phủ nhận cái « cho mình », của Ðấng Tuyệt Ðối ba ngôi hằng sống. Thập giá là gương mặt trung tâm của sự mạc khải : một con người bị bẽ mặt lại mở ra cho thấy Hữu Thể đời đời vô hình dạng (17).
Chú thích:
(1) Như trên, tr. 68-70.
(2) Như trên, tr. 70.
(3) Như trên, tr. 71.
(4) Như trên, tr. 73.
(5) Như trên, tr. 74.
(6) Như trên, tr. 79.
(7) Như trên, tr. 80.
(8) Như trên, tr. 81.
(9) Như trên, tr. 86.
(10) Như trên, tr. 103-105.
(11) Như trên, tr. 106.
(12) Như trên, tr. 107-109.
(13) Như trên, tr. 110.
(14) Như trên, tr. 116-121.
(15) Như trên, tr. 121-124.
(16) Như trên, tr. 125-128.
(17) Như trên, tr. 142-144.