ROME (Zenit.org).-. Bài giải thích của Cha giảng Phủ Giáo Hoàng, Cha Raniero Cantalamessa Dòng Capuchin, về các bài đọc phụng vụ Chúa Nhật Lễ Lá

Một cái Nhìn Lịch Sử đến sự Thương Khó của Chúa Kitô

Isaia 5o:4-7; Philipphê 2: 6-11; Luca 22:14-23,56

Trong Ngày Chúa Nhật Lễ Lá chúng ta sẽ nghe tường trình đầy đủ của Thánh Luca về sự Thương Khó. Chúng ta hãy đặt câu hỏi quan trọng, câu hỏi mà những Tin Mừng được viết để trả lời. Một con người như vậy sao mà kết thúc trên thánh giá ? Những kẻ trách nhiệm về sự chết của Chúa Giêsu dựa trên những lý do gì?

Theo một lý thuyết đã bắt đầu lưu hành vào thế kỷ qua, sau thảm kịch Shoah, trách nhiệm về sự chết của Chúa Kitô --trên thật tế cũng có lẽ như vậy—trên Pilatô và các thẩm quyền Roma, mà động lực thúc đẩy thuộc bản chất chính trị hơn là tôn giáo. Những Tin Mừng được giả thiết là đã minh oan Pilatô và tố cáo những người lãnh đạo Do thái chủ mưu cái chết của Chúa Kitô hầu làm yên tâm các thẩm quyền Roma về những Kitô hữu và để tranh thủ cho tình bạn của họ.

Luận án này phát sinh từ một sự quan tâm mà ngày nay tất cả chúng ta chia sẻ: để thủ tiêu mọi lý do cho việc bài-Dothái đã gây nhiều đau khổ cho dân Do thái trong tay những Kitô hữu. Nhưng sự lầm lỗi nặng nhất có thể được thực hiện vì một nguyên nhân chính đáng là binh đỡ nó với những luận cứ sai lầm. Trận chiến chống lại sự bài Do thái phải đặt trên một nền tảng vững chắc hơn là một sự giải thích đáng bàn cãi (và đã được bàn cãi) về những thường thuật Tin Mừng của sự Thương Khó.

Việc dân Dothái với tư cách người Do Thái là vô tội đối với sự chết của Chúa Kitô dựa trên một sự chắc chắn kinh thánh mà những Kitô hữu đã có quan niệm đối với người Do Thái hầu như đã bị lãng quên một cách lạ lùng qua bao thế kỷ: “Con không mang lấy tội của cha, cha cũng không mang lấy tội của con” (Ezechiel 18:20). Huấn giáo Giáo Hội chỉ biết có một tội được truyền sang từ cha tới con là tội nguyên tổ, không có tội nào khác.

Tôi đã làm sáng tỏ việc loại trừ thuyết bài-Dothái, tôi muốn giải thích tại sao không thể chấp nhận tính vô tội hoàn toàn của các thẩm quyền Do thái trong sự chết của Chúa Kitô và cùng với sự đó sự tuyên bố về bản chất hoàn toàn chính trị của việc kết án Chúa Kitô.

Phaolô trong những lá thư đầu của ngài, viết vào khoảng năm 50, cung cấp cơ bản cũng một tường thuật về án tử của Chúa Kitô y như trong các sách Tin Mừng. Ngài nói “những người Do thái đã giết Chúa Giêsu” (1 Thessalonians 2:15). Về những biến cố xảy ra tại Jerusalem không bao lâu trước lúc ngài đến, Phaolô phải được thông tin tốt hơn chúng ta là những người đương thời, đã một thời gian kiên trì phê chuẩn và bênh vực án tử của người Nadareth.

Không thể đọc những tường thuật về sự Thương Khó mà không biết mọi sự xảy ra trước. Bốn sách Tin Mừng minh chứng--hầu như trong mỗi trang, chúng ta có thể nói-một sư khác biệt tôn giáo ngày càng lớn giữa Chúa Giêsu và một nhóm quyền thế người Dothái ( Biệt Phái, tiến sĩ luật, kinh sư) về sự giữ ngày sa bát, thái độ đối với những kẻ tội lỗi và những người thu thuế, và về sự trong sạch và sự không trong sạch.

Một khi đã vạch rõ sự hiện hữu của sự tương phản này, làm sao người ta có thể nghĩ rằng sự tương phản này cuối cùng không đóng một vai trò nào, và nghĩ rằng những người lãnh đạo Do thái đã quyết định tố cáo Chúa Giêsu cho Philatô-hầu như trái với ý muốn của họ--chỉ vì sợ một sự can thiệp quân sự của người Roma?

Pilatô không phải là một người quan tâm với sự công chính đến nỗi âu lo về số phận của một người Do thái không tên tuổi; ông ta là một mẫu người cứng cỏi, độc ác, sẵn sàng đổ máu nếu có một dấu vết rất nhỏ nổi loạn. Tất cả sự này là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, ông không ra sức cứu sống Chúa Giêsu vì thương cảm nạn nhân, nhưng chỉ để ghi một điểm thắng chống lại những kẻ tố cáo Chúa Giêsu, với họ ông đã đã có xung đột từ ngày tới đất Judea. Dĩ nhiên, sự này không giảm bới đi trách nhiệm của Pilatô trong việc lên án Chúa Kitô, một trách nhiệm ông đã chia sẻ với những nhà lãnh đạo Do thái.

Đây không phải chút nào là một trường hợp “làm người Dothái hơn chính người Dothái.” Từ những tường thuật về sự chết của Chúa Giêsu hiện diện trong Talmud và trong những tài liệu Do thái khác (tuy muộn hơn và mâu thuẩn về mặt lịch sử), một sự nổi lên: truyền thống Do thái không bao giờ từ chối sự tham gia của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó trong việc lên án Chúa Kitô. Họ không bênh vực mình bằng sự chối bỏ hành động, nhưng, nếu có hành động nào, họ đã chối rằng hành động đó, từ viễn ảnh Dothái, làm thành một tội ác và án tử Chúa Kitô là một án bất công.

Như vậy, đối với câu hỏi, “tại sao Chúa Giêsu bị kết án tử? “ sau tất cả những nghiên cứu và những sự lựa chọn giữa hai sự được đề nghị, chúng ta phải đưa ra cũng một câu trả lời như trong các Tin Mừng. Người bị kết án vì những lý do tôn giáo, tuy nhiên những lý do này được đặt một cách thành thạo trong những từ chính trị để thuyết phục tốt hơn đối với quan tổng trấn Roma.

Tước hiệu “Messiah,” mà sự cáo của Công Nghị tập trung vào, bị xử trước Philatô, “Vua người Do Thái,” và đó là tước hiệu bị kết án treo lên thập giá:” Giêsu Nadareth, Vua dân Do Thái.” Chúa Giêsu đã chiến đấu suốt đời Người để tránh sự lẫm lẫn này, nhưng cuối cùng chính sự lầm lẫn này sẽ quyết định số phận của Người.

Điều này mở ra sự bàn cãi về việc sử dụng những tường thuật sư Thương Khó. Trong quá khứ những tường thuật đó thường bị sử dụng (trong những biểu diển kịch tính của sự Thương Khó, ví dụ) trong một cách không thích hợp, với một sự cưỡng ép bài-Do Thái.

Đó là một cái gì mà mọi người ngày nay cương quyết loại bỏ, dầu là điều gì còn phải làm để loại trừ khỏi việc cử hành Kitô hữu về việc Thương Khó, tất cả những gì còn có thể xúc phạm tính nhạy cảm của anh em Do thái chúng ta. Chúa Giêsu đã là và vẫn là, mặc dầu gì đi nữa, ân huệ lớn nhất của Do thái Giáo đối với thế giới, một ân huệ mà người Do thái đã phải trả một giá rất đắt.

Như vậy kết luận chúng ta phải rút từ những nhận xét lịch sử này, là các thẩm quyền tôn giáo và các thẩm quyền chính trị, các thũ lãnh Công Nghị và quan tổng trấn Roma, cả hai đã tham gia, vì những lý do khác nhau, trong sự xử án Chúa Kitô.

Chúng ta phải nói thêm cho việc này là lịch sử không nói tất cả mọi sự và không nói cả sự cần thiết trọng yếu này. bằng đức tin cho chúng ta biết rằng tất cả chúng ta có trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu vì tội lỗi chúng ta.

Chúng ta hãy gạt ra một bên bây giờ những vấn đề lịch sử, và hãy dành một lúc để chiêm ngưỡng Người. Chúa Giêsu đã làm sao trong sự Thương Khó? Phẩm giá siêu nhân, sự kiên nhẫn vô cùng. Không một cử chỉ hay lời nói chối bỏ điều Người đã rao giảng trong Tin Mừng của Người, cách riêng các mối phúc. Người chết đương khi xin sự tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Người.

Và không có gì nơi Người giống sự khinh bỉ sự đau khổ đầy kiêu căng của người khắc kỷ. Sự phản ứng của Người với đau khổ và độc ác thì hoàn toàn nhân bản: Người run và đổ mồ hôi máu tại Giệtsêmanim, người kêu lên nỗi đau buồn của Người trên thánh giá:” Lạy Chúa con, Lạy Chúa con, nhân sao Chúa bỏ con?”

Có một trong những nét chỉ sự cao thượng siêu nhân này của Chúa Kitô mê hoặc tôi: đó là sự thinh lặng của Người. “Đức Chúa Giêsu vẫn làm thinh” (Mt 26:63). Người làm thinh trước Caipha, Người làm thinh trước quan Philatô, Người làm thinh trước vua Hêrôđê, kẻ hy vọng thấy Người làm một phép lạ (x. Luke 23:8). Bị nguyền rủa Người không nguyền rủa lại.” Thơ Thứ Nhất của Phêrô nói về Người (2:23)

Sự thinh lặng chỉ bị phá vỡ một lúc trước khi sự chết—“tiếng kêu lớn” từ thánh giá sau đó Chúa Giêsu tắt thở. Điều này làm cho viên đại đội trưởng Roma thú nhận: “Thật người này là Con Thiên Chúa.”

Đức Ông Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ