”Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”.
VATICAN (Zenit.org).- Bài giảng Mùa Chay Cha Capuchin Raniero Cantalamessa đã trình bày hôm Thứ Sáu trước Đức Benedict XVI và những viên chức Giáo Triều Roma. Cha giảng Phủ Giáo Hoàng đã trình bày bài giảng này trong Nguyện Đường Mater Redemptoris tại Lâu Đài Tông Toà.
* * *
1.Từ sự trong sạch nghi thức tới sự trong sạch tâm hồn
Tiếp tục suy tư của chúng ta về những mối phúc tin mừng mà chúng ta đã bắt đầu trong mùa Vọng, trong bài gẫm thứ nhất mùa Chay này chúng tôi muốn suy tư về mối phúc trong sạch tâm hồn.
Ngày nay bất cứ ai đọc hay là nghe công bố, “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa,” tự nhiên nghĩ về nhân đức khiết tịnh hầu như mối phúc này là sự tương đương tích cực của Điều Răn Thứ Sáu, “Đừng có phạm những hành vi ô uế.” Sự giải thích này, tiến xa cách rời rạc trong vòng lịch sử linh đạo Kitô hữu, đã trở nên nỗi bật bắt đầu thế kỷ 19.
Trên thực tế, sự trong sạch tâm hồn không chỉ, theo ý nghĩ của Chúa Kitô, một nhân đức riêng biệt, nhưng là một đức tính phải đi kèm tất cả những nhân đức để chúng nên những nhân đức thật sự chớ không phải “ là những nết xấu rực rỡ.” Điều đối nghịch hầu như trực tiếp của nó không phải là sư ô uế, nhưng là sự giả hình. Một sự luận bình nhỏ và lịch sử sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn.
Điều Chúa Giê-su muốn nói qua “sự trong sạch tâm hồn” được làm sáng tỏ bởi bối cảnh Bài Giảng trên Núi. Theo Tin Mừng, điều quyết định sự trong sạch hay không trong sạch của một hành động--hoặc là sự bố thí, ăn chay hay là cầu nguyện—là ý định: công việc được làm cho người ta thấy hay để làm đẹp lòng Chúa?
“Vậy khi bố thí thì đừng có khua chiêng đánh trống như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha các anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh” (Mt 6: 2-6).
Sự giả hình là tội bị Chúa tố cáo mạnh nhất trong Kinh Thánh và lý do cho sự này thì rõ. Với sự giả hình, con người phàm giáng cấp Thiên Chúa, họ đặt Người trong chỗ thứ hai, đặt tạo vật, công chúng lên chỗ nhất. “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thí thấy tận đáy lòng” (1 Samuel 16:7): Trau giồi dáng dẻ bên ngoài của chúng ta hơn tâm hồn chúng ta có nghĩa là coi người phàm trọng hơn Thiên Chúa.
Như vậy sự giả hình tự bản chất là một sự thiếu đức tin: nhưng đó cũng là một sự thiếu đức bác ái đối với tha nhân theo nghĩa nó có xu hướng qui những con người thành những kẻ say mê. Sự giả hình không công nhận phẩm giá thích đáng của họ, nhưng thấy họ tùy thuộc hình ảnh của chính mình.
Phán đoán của Chúa Giê-su về sự giả hình không có chống án: “ Receperunt mercedem suam” (Họ đã lãnh thưởng của mình rồi)! Một phần thưởng lừa dối, hơn nữa cả trên mức dộ nhân bản bởi vì chúng ta biết rằng vinh quang trốn khỏi những kẻ tìm nó, và tìm những kẻ trốn khỏi nó.
Những lời thóa mạ Chúa Giê-su nhắm vào những luật sĩ và những người Pharisêu cũng giúp chúng ta hiều ý nghĩa của sự trong sạch tâm hồn. Những chỉ trích của Chúa Giê-su tập trung vào sự đối nghịch giữa “cái bên trong” và “cái bên ngoài,” của con người.
“Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sự và người Pharisêu giả hình! Các ngươi giống như mồ mã tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” ( Mt 23:27-28).
Cuộc cách mạng Chúa Giê-su dẫn đến ở đây có ý nghĩa không kể xiết. Trước Người, trừ một vài gợi ý hoạ hiếm trong các tiên tri và các Thánh Vịnh—“Ai sẽ leo lên núi Chúa? Đó là kẻ tay sạch lòng thanh” (Tv 24:3)-- sự trong sạch được hiểu một cách nghi thức và văn hóa; sự thanh sạch hệ tại tránh xa những sự, những thú vật, những con người hay là những chỗ được hiểu là gây ô nhiễm cho người ta và đưa con người xa sự thánh thiện của Thiên Chúa. Hơn hết, đó là những sự liên kết với sự sinh, sự tử, thức ăn và tình dục. Trong những hình thức khác nhau và với những giả định khác nhau, các tôn giáo khác, ngoài Kinh Thánh, chia sẻ những ý niệm này.
Chúa Giê-su quét sạch tất cả những cấm kỵ này và làm như vậy trước hết bằng một số cử chỉ: Người ăn với những kẻ tội lỗi, rờ những người phung, trà trộn với các người dân ngoại. Tất cả những sự này được xem như là những sự thiếu vệ sinh cao. Người cũng quét sạch những điều cấm kỵ này với những huấn giáo của Người. Cách trịnh trọng mà Người dẫn nhập bài phát biểu của Người về sự sạch và không sạch, bộc lộ sự người ý thức về sự mới mẻ của giáo lý Người.
“Và Người lại gọi đám đông tới mà bảo :”Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế…Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế “”’ (Mark 7: 14-17, 21-23).
Tác giả Tin Mừng, hầu như sững sờ, ghi nhận: “Như vậy là Người tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch” (Mark 7:19). Chống lại sự cố sức của một số người Kitô hữu Do thái muốn phục hồi sự phân biệt giữa cái sạch và không sạch trong những thức ăn và những khu vực khác của sự sống, Giáo Hội tông đồ lập lại cách thuyết phục: “Mọi sự đều trong sạch với những người trong sạch”- “omnia munda mundis”- (Titô 1:15; x.Roma 14:20).
Sự trong sạch, hiểu như là sự tiết dục và khiết tịnh, không vắng bóng khỏi mối phúc Tin Mừng (Chúa Giê-su cũng nhắc tới tà dâm, ngoại tình và trác táng giữa những sự làm ô uế tâm hồn); những điều đó chiếm một chỗ hữu hạng và “thứ yếu”. Chúng là một nhóm giữa những thứ khác trong một lãnh vực mà trong đó “tâm hồn có một chỗ quyết định, như khi Chúa Giê-su nói: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5: 28).
Trên thực tế, những từ “sạch” và “sự trong sạch (“katharos,” “katharotes ”) không bao giờ được sử dụng trong Tân Ước để chỉ điều chúng ta muốn nhờ chúng mà nói ngày nay, tức là, sự vắng bóng những tội lỗi xác thịt. Với những sự này có những từ khác được sử dụng: sự tự chế {“enkrateia”),sự điều độ (“sophrosune”), khiết tịnh (“hagneia”).
Từ điều đã được nói, rõ ràng người có lòng trong sạch tâm hồn nhất hảo là chính Chúa Giê-su. Những kẻ thù của người phải ép buộc mà nói về người: “Chúng tôi biết Thầy là người chân thật và chẳng vị nễ ai” (Mark 12:14). Chúa Giê-su đã nói về mình: “Tôi không tìm vinh quang cho mình” ( Ga 8:50).
2.Một cái nhìn lịch sử
Trong sự chú giải của các Giáo Phụ lúc ban đầu, chúng ta thấy ba hướng cơ bản mà trong đó mối phúc trong sạch tâm hồn sẽ được lãnh nhận trong lịch sử linh đạo Kito hữu, phác họa chính mình: sự luân lý, sự thần bí, và sự khổ hạnh.
Sự giải thích luân lý nhấn mạnh sự ngay thẳng của ý định, sự giải thích huyền bí nhấn mạnh sự thấy Thiên Chúa, và sự giải thích khổ hạnh nhấn mạnh sự tranh đấu chống những đam mê xác thịt. Chúng ta thấy những sự giải thích này được minh họa bằng thí dụ nơi Augustine, Thánh Gregory thành Nyssa và Thánh Gioann Kim Khẩu.
Trung thành chú tâm vào bối cảnh Tin Mừng, Thánh Augustine giải thích mối phúc trong một cách luân lý, như một sự từ chối “phô trương sự công chính của mình trước người đời để được họ khen ngợi” (Mt 6:1), và như vậy như sự đơn sơ và thẳng thắng là những điều trái nghịch với sự gỉa hình. Thánh Augustine viết: “Chỉ người nào bỏ qua sự khen ngợi của người đời và trong sự sống của mình chỉ quan tâm làm đẹp lòng Chúa, Đấng dò thấu lương tâm chúng ta, (người đó) có một tấm lòng đơn sơ, nghĩa là, trong sạch.” (1)
Ở đây yếu tố quyết định sự trong sạch tâm hồn là ý định của mình. “Tất cả những hành dộng của chúng ta là lương thiện và làm đẹp lòng trước mặt Chúa nếu chúng được thực thi với một tâm hồn chân tình, tức là, với tình yêu như mục tiêu của chúng… Như vậy, không hẳn phải chú ý tới hành động nhưng ý định của hành động đó.” [2] Kiểu giải thích này, tập trung vào ý định, sẻ có tác dụng cho toàn thể truyền thống thiêng liêng tiếp theo, cách riêng truyền thống của Ignatiô. [3]
Sự giải thích huyền bí, mà người đề xướng đầu tiên ra nơi Thánh Gregory thành Nyssa, thấy mối phúc trong tương quan với sự chiêm niệm. Chúng ta phải thanh lọc tâm hồn chúng ta khỏi mọi sự ràng buộc với thế gian và sự dữ; bằng cách này tâm hồn con người sẽ trở lại với hình ảnh thanh sạch và trong suốt của Chúa mà nó là, lúc khởi đầu khi chính trong linh hồn chúng ta, như trong một tấm kính, chúng ta có thể “thấy Chúa.”
“Nếu trong cách sống của anh, anh siêng năng và chăm chú, anh sẽ lau sạch sự xấu xí bị đặt trong tâm hồn anh và vẻ đẹp thần linh sẽ chiếu sáng trong anh… Khi chiêm ngắm chính mình anh, anh sẽ thấy Đấng là sự ao ước của lòng anh, và anh sẽ được chúc phúc. “ [4]
Ở đây tất cả trọng lượng là ở trong “apodosis,” hoa quả được hứa cho mối phúc; có một tâm hồn trong sạch là phương tiện; mục đích là “thấy Chúa.” Về ngôn ngữ, ảnh hưởng của triết gia Plotinus lộ rõ, và điều này sẽ trở thành rõ hơn trong Thánh Basil. [5]
Phương pháp giải thích này cũng sẽ có một sự tiếp nối trong lịch sử sau này của linh đạo Kito hữu, thông qua Thánh Bernard, Thánh Bonaventura và những nhà huyền bí Rhineland. [6] Trong một số nhóm đan viện một ý niệm thích thú sẽ được thêm vào: ý niệm về sự trong sạch như là một sự thống nhất nội tâm đạt được nhờ muốn một điều duy nhất, khi “sự” này là Chúa. Thánh Bernard viết: “Phúc thay những kẻ có tâm hồn thanh sạch. Vì họ sẽ thấy Chúa. Dường như nói: Hãy thanh lọc tâm hồn anh, tránh xa mọi sự, hãy nên một đan sĩ, tức là, một mình, hãy tìm một sự từ Chúa và theo sự ấy (x. Tv 27:4), được giải thoát mọi sự, anh sẽ thấy Chúa (x. Tv 46:11).” [7]
Sự giải thích khổ chế hoàn toàn độc nhất trong các Giáo Phụ và các tác giả trung cổ. Sự giải thích này tập trung vào đức khiết tịnh và sẽ nên nỗi bật, như tôi đã nói, bắt đầu thế kỷ 19. Thánh Gioan Kim Khẩu là gương rõ ràng nhất của phương pháp này.[8] Nhà huyền bí Ruysbroeck, kẻ phân biệt giữa sự khiết tịnh tinh thần, sự khiết tịnh tâm hồn và sự khiết tịnh thân xác, ở trong cũng một đường hướng này. Ông liên kết mối phúc Tin Mừng với đức khiết tịnh tâm hồn. Đức khiết tịnh này, ông viết, “ hồi tưởng và tăng cường những giác quan bên ngoài, đang khi, bên trong, nó kiềm chế và kiểm soát những bản năng thú tính… Nó đóng tâm hồn cho những sự trần thế và những cơn cám dỗ phỉnh nịnh và mở tâm hồn cho những sự trên trời và cho công lý.” [9]
Với những mức độ khác biệt về sự trung thành, mỗi một trong những sự giải thích chính thống vẫn ở trong chân trời mới của cuộc cách mạng do Chúa Giê-su mang lại cuộc cách mạng đó đưa mọi sự thuyết trình luân lý trở về tâm hồn.
Cách nghịch lý, những kẻ phản bội mối phúc Tin Mừng về sự trong sạch {“katharoi”} tâm hồn, là chính những kẻ lấy tên của nó: Cathars, với tất cả những phong trào tương tự đi trước và theo sau họ trong lịch sử Kitô Giáo. Họ thuộc vào loại những người lấy sự trong sạch theo nghĩa tách xa, trong nghi thức và trong xã hội, khỏi những người và những sự bị phán đoán là ô uế tự chúng. Đó là một sự trong sạch bề ngoài hơn là bề trong. Những nhóm này là những kẻ thừa kế của chủ nghĩa triệt để bè phái Pharisêu và Essenô hơn là thừa kế Tin Mừng Chúa Kitô.
3. Sự giả hình phi đạo đức
Thường người ta đề cao ý nghĩa xã hội và văn hóa của một số mối phúc. Điều thường đọc ” Phúc thay ai xây dựng hòa bình” trên các lá cờ những người theo chủ nghĩa hoà bình mang trong những cuộc biểu tình. Và phúc của kẻ hiền lành vì được Đất Hứa làm gia nghiệp được viện dẫn liên quan với nguyên tắc bất bạo động, mà không nói gì về cái phúc của kẻ nghèo và kẻ bị bắt bớ vì sống công chính.
Nhưng sự liên quan xã hội của mối phúc trong sạch tâm hồn thì không bao giờ được nói tới và xem ra chỉ dành cho lĩnh vực cá nhân. Tuy nhiên, tôi xác tìn rằng mối phúc này có thể có một vai trò quan trọng rất cần trong xã hội chúng ta.
Chúng ta đã thấy rằng trong tư tưởng của Chúa Kitô, sự trong sạch tâm hồn không chủ yếu đối nghịch với sự ô uế nhưng với sự giả hình, và sự giả hình có lẽ là nết xấu nhân bản phổ biến nhất, và ít được xưng ra nhất. Có những sự giả hình cá thể và tập thể.
Thánh Pascal đã viết con người có hai sự sống: một là sự sống thật của họ và sự sống kia là sự sống tưởng tượng mà họ sống theo ý kiến của họ hay là theo ý kiến của người khác. Chúng ta làm việc cực nhọc để làm tốt và bảo tồn hữu thể tưởng tượng của chúng ta và chúng ta coi thường hữu thể thật của chúng ta. Nếu chúng ta có một nhân đức hay công nghiệp gì, chúng ta ra sức làm cho người ta biết nó, bằng cách này hay cách khác, hầu nối những nhân đức này với sự sống tưởng tượng đó. Chúng ta thà cách ly các nhân đức ấy với chính mình để liên kết những nhân đức ấy với cuộc sống tưởng tượng; và chúng ta sẵn sàng nên hèn nhát hầu được tiếng là bạo dạn. [10]
Xu hướng do Thánh Pascal đưa ra ánh sáng đã lớn mạnh trong văn hoá hiện thời, văn hoá bị chi phối bởi những phương tiện truyền thông, phim ảnh, truyền hình và nghệ thuật giải trí nói chung. Descartes đã nói: “Cogito ergo sum” (tôi nghĩ nên tôi hiện hữu); nhưng ngày nay điều này có khuynh hướng được thay thế bởi câu “tôi xuất hiện nên tôi hiện hữu.”
Lúc đầu từ giả hình được dành cho diễn viên sân khấu. Nó chỉ có nghĩa là hành động, biểu diễn trong một pha cảnh. Thánh Augustine ghi nhận điều này trong bài bình luận của ngài về mối phúc trong sạch tâm hồn. “Những kẻ giả hình,” ngài viết, “là những kẻ sáng tạo sự tưởng tượng theo nghĩa họ trình diễn tính cách của những kẻ khác trong những vở kịch.” [11]
Nguồn gốc của từ này đặt chúng ta trên con đường tới chỗ khám phá bản tính của sự giả hình. Sự giả hình biến sự sống người ta thành một sân khấu trong đó người ta hành động cho một khán giả; đó là mang mặt nạ, không còn là một con người và trở thành một tính cách.
Một nơi nào đó tôi đã đọc sự giải thích của hai sự: “Tính cách là không gì khác hơn là sự đồi trụy của con người. Con người là một gương mặt, tính cách là một mặt nạ. Con người là sự trần truồng triệt để, tính cách chỉ là áo mặc. Con người yêu sự đích thực và tính chủ yếu, tính cách sống bằng sự bịa đặt và lường gạt. Con người vâng theo những xác tín riêng mình, tính cách vâng theo một kịch bản. Con người thì khiêm tốn và nhẹ nhàng, tính cách thì nặng nề và phiền hà.”
Nhưng sự bịa dặt của sân khấu là một sự giả hình vô tội bởi vì nó luôn giữ sự phân biệt giữa sân khấu và sự sống. Không ai xem một sự biểu diễn về Agamemnon—đây là thí dụ của Thánh Augustine—mà tưởng người biểu diễn là Agamemnon thật. Sự phát triển mới mẻ và gây lo lắng là ngày nay có một xu hướng hủy bỏ sự phân chia này, bằng cách biến đổi chính sự sống thành một vở kịch. Đó là điều mà cái gọi là thực tại trình chiếu trên truyền hình.
Theo triết gia người Pháp, Jean Baudrillard, kẻ đã chết tuần trước, bây giờ khó mà phân biệt những biến cố thật--những cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9, Chiến Tranh Vùng Vịnh--với sự mô tả trong các phương tiện của chúng. Thực tại hầu như bị lẫn lộn.
Sự kêu gọi trở về trạng thái nội tâm đặc điểm hóa mối phúc chúng ta và toàn thể Bài Giảng trên Núi là một lời mời không để chúng ta bị lôi cuốn vào trong xu hướng này chủ trương làm trống rỗng con người, qui họ về một hình ảnh, hay là xấu hơn--sử dụng một từ ngữ Baudrillard ưa thích--một “ảo ảnh.”
Kierkegaard lôi kéo sự chú ý của chúng ta tới sự tha hóa, hậu quả của cách sống thuần túy bên ngoài, luôn luôn và chỉ trong sự hiện diện của kẻ khác, và không bao giờ trong sự hiện diện của Chúa và của chúng ta”.
Ông quan sát, một nông gia có thể là một “cái Tôi” trước những con bò của ông, nếu ông luôn luôn sống với chúng và chỉ có chúng làm thước đo cho mình. Một ông vua có thể là một “ cái Tôi” trước những thần dân của mình và ông sẽ cảm thấy mình như một “cái Tôi” quan trọng. Đứa con coi mình như một “cái Tôi” trong tương quan với cha mẹ mình, một công dân trước nhà nước.
Nhưng điều đó sẽ luôn luôn là một “cái Tôi” bất toàn bởi vì nó thiếu thước do thích đáng. Nhưng cái “Tôi” của tôi chiếm được một thực tại vô cùng dường nào khi nó biết sống trước Chúa, biết trở nên một “cái Tôi” nhân bản mà thước do là Chúa… Một trọng tâm vô cùng dường nào rớt xuống trên cái “Tôi” trong lúc Thiên Chúa trở nên thước do của tôi!”
Điều đó tương tự như một sự bình luận về câu nói của Thánh Phanxicô thành Assisi: “Trước Thiên Chúa điều gì người ta là, thì họ là điều đó và không có gì khác hơn” [12])
4.Sự giả hình đạo đức
Điều xấu nhất một kẻ giả hình có thể làm là coi mình như là tiêu chuẩn dể phán đoán những kẻ khác, xã hội, văn hoá và thế giới. Đây là những kẻ Chúa Giê-su gọi là giả hình: “Hỡi kẻ đạo đức giả, lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em” (Mt 7:5).
Là những tín hữu, chúng ta phải nhớ lời nói của một rabbi Dothái sống đồng thời với Chúa Giê-su, và theo ông, 90% sự giả hình của thế giới được thấy tại Jerusalem. [13] Thánh Inhatiô tử đạo thành Antioch đã cảm thấy nhu cầu khuyên bảo những người anh em trong đức tin: “Điều tốt hơn là làm Kitô hữu mà không nói mình là Kitô hữu hơn là nói mình là Kitô hữu mà không phải như vậy.” [14]
Sự giả hình quyến rũ những người sốt sắng và đạo đức hơn hết, và lý do của sự này thì đơn giản : Nơi nào có sự quí trọng mạnh nhất đối với những giá trị tinh thần đạo đức và nhân đức (và chính thống!), thì cơn cám dỗ giả vờ những sự đó thế nào để được xem như là không thiếu chúng, cũng rất mạnh. “Một số vị trí công khai trong xã hội loài người,” Thánh Augustine viết, “ cần thiết phải làm chúng con được yêu và đuợc tôn trọng bởi những anh em chúng con. Trên mọi phía kẻ thù của hạnh phúc thật, chúng con giăng rộng những chiếc lưới của nó ‘ Thật tuyệt! Thật tuyệt!’ đến nỗi vồ lấy cách thèm muốn những lời ngợi khen này, chúng con có thể bị sự kinh ngạt chiếm hữu, và bỏ sự thích thú của chúng ta trong chân lý của Chúa để tìm kiếm nó, ngược lại, trong sự tâng bốc nhân bản. Như vậy sự quí mến và danh dự chúng con nhận là cái gì chúng con hưởng không phải vì Chúa, nhưng thay thế Chúa.”[15]
Sự giả hình nguy hại nhất là giấu sự giả hình của chính mình. Tôi không bao giờ gặp trong bất cứ sự giúp xét mình nào đến những câu hỏi như: Tôi có phải là tên giả hình không? Tôi có quan tâm hơn về việc kẻ khác thấy tôi hơn là về việc Chúa thấy tôi không? Có lúc trong sự sống của tôi, tôi đã đem vào những câu hỏi này trong lúc xét mình, và họa hiếm tôi có khả năng đi qua mà không có một vấn đề cho những câu hỏi theo sau.
Một ngày kia, khi nghe dụ ngôn những nén bạc được đọc trong Thánh Lễ, tôi thình lình hiểu một cái gì. Giữa sư sinh lợi với nén bạc được cho và sự không sinh lợi, có một khả năng thứ ba: khả năng sinh lợi, không vì kẻ đã cho tôi điều chúng tôi có, nhưng vì vinh quang riêng của chúng tôi hay là vì tư lợi của chúng tôi, và điều này có lẽ là một tội nặng hơn việc không sinh lợi chút nào. Ngày đó khi Rước Lễ tôi đã làm như một số kẻ trộm làm khi chúng bị bắt trong hành vi và đầy xấu hổ, móc túi trút ra những gì mình đã lấy cắp dưới chân chủ nó.
Chúa Giê-su đã để lại cho chúng ta một phương tiện đơn giản và không thể qua được để đính chính những ý định chúng ta trong những thời gian khác nhau suốt ngày, ba vấn đề thứ nhất trong kinh Lạy Cha: “Danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Ý Cha thể hiện.” Những vấn đề này có thể đọc như kinh nguyện nhưng cũng có thể là những công bố ý định: Tất cả những gì con làm, con muốn làm sao cho danh Cha cả sáng, cho nước Cha trị đến và cho ý Cha thể hiện.
Có thể là một đóng góp quí báu cho xã hội và công đồng Kitô hữu nếu mối phúc tâm hồn trong sạch giúp chúng ta giữ sống động trong chúng ta sự luyến tiếc một thế giới sạch, thật, không có sự giả hình đạo đức hay là không đạo đức; một thế giới trong đó những hành động tương ứng với những lời nói, những lời nói tương ứng với nhữ tư tưởng, và những tư tưởng của con người tương ứng với những tư tưởng của Thiên Chúa. Điều này chỉ sẽ xảy ra đầy đủ trên Jerusalem trên trời, thành được làm bằng thủy tinh, nhưng ít nhất chúng ta phải cố gắng thực hiện sự đó.
Một tác giả những truyện ngụ ngôn đã viết một truyện ngụ ngôn có tên “The Glass Town –Thành Phố Kính.” Trong truyện này một cô gái trẻ đạt tới phép phù thủy trong một thành phố làm bằng kính: những nhà kính, những con chim kính, những cây kính, dân chúng cử động như những tượng kính duyên dáng. Nhưng không gì trong thành phố này nứt bể vì mỗi người đã học phải di động cách nào trong thành phố để khỏi gây thiệt hại. Khi gặp nhau, dân chúng trả lời những câu hỏi trước khi họ được hỏi bởi vì cả những tư tưởng cũng được rõ ràng và trong suốt trong thành phố này; không ai dám nói láo vì biết rằng mỗi người có thể đọc thấy điều gì có trong trí khôn mình. [16]
Chúng ta rùng mình khi nghĩ tới điều gì sẽ xảy ra nếu điều này thình lình xảy ra ở đây giữa chúng ta; nhưng điều bổ ích là ít nhất có xu hướng về một lý tưởng như thế. Đó là con đường sẽ đưa chúng ta tới mối phúc mà chúng ta đã cố gắng bình giải: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.”
* * *
[1] St. Augustine, "De sermone Domini in monte," II, 1, 1 (CC 35, p. 92).
[2] Ibid. II, 13, 45-46.
[3] Jean-François de Reims, "La vraie perfection de cette vie," Part 2, Paris 1651, Instr. 4, p. 160.
[4] Gregory of Nyssa, "De beatitudinibus," 6 (PG 44, p. 1272).
[5] St. Basil, "On the Holy Spirit," IX, 23; XXII, 53 (PG 32, 109,168).
[6] Cf. Michel Dupuy, "Pureté," in DSpir. 12, pp. 2637-2645.
[7] St. Bernard of Clairvaux, "Sententiae," III, 2 (S. Bernardi Opera, ed. J. Leclerq and H. M. Rochais).
[8] St. John Chrysostom, "Homiliae in Mattheum," 15, 4.
[9] John Ruysbroeck, "Lo splendore delle nozze spirituali," Roma, Città Nuova 1992, pp.72 f.
[10] Cf. Blaise Pascal, "Pensées," 147 Br.
[11] St. Augustine, "De sermone Domini in monte," 2, 5 (CC 35, p. 95).
[12] St. Francis of Assisi, "Ammonizioni," 19 (Fonti Francescane, n.169).
[13] Cf. Strack-Billerbeck, I, 718.
[14] St. Ignatius of Antioch, "Ephesians" 15:1 ("It is better to say nothing and to be, than to chatter and not be") and "Magnesians," 4 ("It is necessary not only to call ourselves Christians but also to be Christians").
[15] Cf. St. Augustine, "Confessions," X, 36, 59.
[16] Lauretta, "Il bosco dei lillà," Ancora, Milano, 2nd ed. 1994, pp. 90ff.
VATICAN (Zenit.org).- Bài giảng Mùa Chay Cha Capuchin Raniero Cantalamessa đã trình bày hôm Thứ Sáu trước Đức Benedict XVI và những viên chức Giáo Triều Roma. Cha giảng Phủ Giáo Hoàng đã trình bày bài giảng này trong Nguyện Đường Mater Redemptoris tại Lâu Đài Tông Toà.
* * *
1.Từ sự trong sạch nghi thức tới sự trong sạch tâm hồn
Tiếp tục suy tư của chúng ta về những mối phúc tin mừng mà chúng ta đã bắt đầu trong mùa Vọng, trong bài gẫm thứ nhất mùa Chay này chúng tôi muốn suy tư về mối phúc trong sạch tâm hồn.
Ngày nay bất cứ ai đọc hay là nghe công bố, “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa,” tự nhiên nghĩ về nhân đức khiết tịnh hầu như mối phúc này là sự tương đương tích cực của Điều Răn Thứ Sáu, “Đừng có phạm những hành vi ô uế.” Sự giải thích này, tiến xa cách rời rạc trong vòng lịch sử linh đạo Kitô hữu, đã trở nên nỗi bật bắt đầu thế kỷ 19.
Trên thực tế, sự trong sạch tâm hồn không chỉ, theo ý nghĩ của Chúa Kitô, một nhân đức riêng biệt, nhưng là một đức tính phải đi kèm tất cả những nhân đức để chúng nên những nhân đức thật sự chớ không phải “ là những nết xấu rực rỡ.” Điều đối nghịch hầu như trực tiếp của nó không phải là sư ô uế, nhưng là sự giả hình. Một sự luận bình nhỏ và lịch sử sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn.Điều Chúa Giê-su muốn nói qua “sự trong sạch tâm hồn” được làm sáng tỏ bởi bối cảnh Bài Giảng trên Núi. Theo Tin Mừng, điều quyết định sự trong sạch hay không trong sạch của một hành động--hoặc là sự bố thí, ăn chay hay là cầu nguyện—là ý định: công việc được làm cho người ta thấy hay để làm đẹp lòng Chúa?
“Vậy khi bố thí thì đừng có khua chiêng đánh trống như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha các anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh” (Mt 6: 2-6).
Sự giả hình là tội bị Chúa tố cáo mạnh nhất trong Kinh Thánh và lý do cho sự này thì rõ. Với sự giả hình, con người phàm giáng cấp Thiên Chúa, họ đặt Người trong chỗ thứ hai, đặt tạo vật, công chúng lên chỗ nhất. “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thí thấy tận đáy lòng” (1 Samuel 16:7): Trau giồi dáng dẻ bên ngoài của chúng ta hơn tâm hồn chúng ta có nghĩa là coi người phàm trọng hơn Thiên Chúa.
Như vậy sự giả hình tự bản chất là một sự thiếu đức tin: nhưng đó cũng là một sự thiếu đức bác ái đối với tha nhân theo nghĩa nó có xu hướng qui những con người thành những kẻ say mê. Sự giả hình không công nhận phẩm giá thích đáng của họ, nhưng thấy họ tùy thuộc hình ảnh của chính mình.
Phán đoán của Chúa Giê-su về sự giả hình không có chống án: “ Receperunt mercedem suam” (Họ đã lãnh thưởng của mình rồi)! Một phần thưởng lừa dối, hơn nữa cả trên mức dộ nhân bản bởi vì chúng ta biết rằng vinh quang trốn khỏi những kẻ tìm nó, và tìm những kẻ trốn khỏi nó.
Những lời thóa mạ Chúa Giê-su nhắm vào những luật sĩ và những người Pharisêu cũng giúp chúng ta hiều ý nghĩa của sự trong sạch tâm hồn. Những chỉ trích của Chúa Giê-su tập trung vào sự đối nghịch giữa “cái bên trong” và “cái bên ngoài,” của con người.
“Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sự và người Pharisêu giả hình! Các ngươi giống như mồ mã tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” ( Mt 23:27-28).
Cuộc cách mạng Chúa Giê-su dẫn đến ở đây có ý nghĩa không kể xiết. Trước Người, trừ một vài gợi ý hoạ hiếm trong các tiên tri và các Thánh Vịnh—“Ai sẽ leo lên núi Chúa? Đó là kẻ tay sạch lòng thanh” (Tv 24:3)-- sự trong sạch được hiểu một cách nghi thức và văn hóa; sự thanh sạch hệ tại tránh xa những sự, những thú vật, những con người hay là những chỗ được hiểu là gây ô nhiễm cho người ta và đưa con người xa sự thánh thiện của Thiên Chúa. Hơn hết, đó là những sự liên kết với sự sinh, sự tử, thức ăn và tình dục. Trong những hình thức khác nhau và với những giả định khác nhau, các tôn giáo khác, ngoài Kinh Thánh, chia sẻ những ý niệm này.
Chúa Giê-su quét sạch tất cả những cấm kỵ này và làm như vậy trước hết bằng một số cử chỉ: Người ăn với những kẻ tội lỗi, rờ những người phung, trà trộn với các người dân ngoại. Tất cả những sự này được xem như là những sự thiếu vệ sinh cao. Người cũng quét sạch những điều cấm kỵ này với những huấn giáo của Người. Cách trịnh trọng mà Người dẫn nhập bài phát biểu của Người về sự sạch và không sạch, bộc lộ sự người ý thức về sự mới mẻ của giáo lý Người.
“Và Người lại gọi đám đông tới mà bảo :”Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế…Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế “”’ (Mark 7: 14-17, 21-23).
Tác giả Tin Mừng, hầu như sững sờ, ghi nhận: “Như vậy là Người tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch” (Mark 7:19). Chống lại sự cố sức của một số người Kitô hữu Do thái muốn phục hồi sự phân biệt giữa cái sạch và không sạch trong những thức ăn và những khu vực khác của sự sống, Giáo Hội tông đồ lập lại cách thuyết phục: “Mọi sự đều trong sạch với những người trong sạch”- “omnia munda mundis”- (Titô 1:15; x.Roma 14:20).
Sự trong sạch, hiểu như là sự tiết dục và khiết tịnh, không vắng bóng khỏi mối phúc Tin Mừng (Chúa Giê-su cũng nhắc tới tà dâm, ngoại tình và trác táng giữa những sự làm ô uế tâm hồn); những điều đó chiếm một chỗ hữu hạng và “thứ yếu”. Chúng là một nhóm giữa những thứ khác trong một lãnh vực mà trong đó “tâm hồn có một chỗ quyết định, như khi Chúa Giê-su nói: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5: 28).
Trên thực tế, những từ “sạch” và “sự trong sạch (“katharos,” “katharotes ”) không bao giờ được sử dụng trong Tân Ước để chỉ điều chúng ta muốn nhờ chúng mà nói ngày nay, tức là, sự vắng bóng những tội lỗi xác thịt. Với những sự này có những từ khác được sử dụng: sự tự chế {“enkrateia”),sự điều độ (“sophrosune”), khiết tịnh (“hagneia”).
Từ điều đã được nói, rõ ràng người có lòng trong sạch tâm hồn nhất hảo là chính Chúa Giê-su. Những kẻ thù của người phải ép buộc mà nói về người: “Chúng tôi biết Thầy là người chân thật và chẳng vị nễ ai” (Mark 12:14). Chúa Giê-su đã nói về mình: “Tôi không tìm vinh quang cho mình” ( Ga 8:50).
2.Một cái nhìn lịch sử
Trong sự chú giải của các Giáo Phụ lúc ban đầu, chúng ta thấy ba hướng cơ bản mà trong đó mối phúc trong sạch tâm hồn sẽ được lãnh nhận trong lịch sử linh đạo Kito hữu, phác họa chính mình: sự luân lý, sự thần bí, và sự khổ hạnh.
Sự giải thích luân lý nhấn mạnh sự ngay thẳng của ý định, sự giải thích huyền bí nhấn mạnh sự thấy Thiên Chúa, và sự giải thích khổ hạnh nhấn mạnh sự tranh đấu chống những đam mê xác thịt. Chúng ta thấy những sự giải thích này được minh họa bằng thí dụ nơi Augustine, Thánh Gregory thành Nyssa và Thánh Gioann Kim Khẩu.
Trung thành chú tâm vào bối cảnh Tin Mừng, Thánh Augustine giải thích mối phúc trong một cách luân lý, như một sự từ chối “phô trương sự công chính của mình trước người đời để được họ khen ngợi” (Mt 6:1), và như vậy như sự đơn sơ và thẳng thắng là những điều trái nghịch với sự gỉa hình. Thánh Augustine viết: “Chỉ người nào bỏ qua sự khen ngợi của người đời và trong sự sống của mình chỉ quan tâm làm đẹp lòng Chúa, Đấng dò thấu lương tâm chúng ta, (người đó) có một tấm lòng đơn sơ, nghĩa là, trong sạch.” (1)
Ở đây yếu tố quyết định sự trong sạch tâm hồn là ý định của mình. “Tất cả những hành dộng của chúng ta là lương thiện và làm đẹp lòng trước mặt Chúa nếu chúng được thực thi với một tâm hồn chân tình, tức là, với tình yêu như mục tiêu của chúng… Như vậy, không hẳn phải chú ý tới hành động nhưng ý định của hành động đó.” [2] Kiểu giải thích này, tập trung vào ý định, sẻ có tác dụng cho toàn thể truyền thống thiêng liêng tiếp theo, cách riêng truyền thống của Ignatiô. [3]
Sự giải thích huyền bí, mà người đề xướng đầu tiên ra nơi Thánh Gregory thành Nyssa, thấy mối phúc trong tương quan với sự chiêm niệm. Chúng ta phải thanh lọc tâm hồn chúng ta khỏi mọi sự ràng buộc với thế gian và sự dữ; bằng cách này tâm hồn con người sẽ trở lại với hình ảnh thanh sạch và trong suốt của Chúa mà nó là, lúc khởi đầu khi chính trong linh hồn chúng ta, như trong một tấm kính, chúng ta có thể “thấy Chúa.”
“Nếu trong cách sống của anh, anh siêng năng và chăm chú, anh sẽ lau sạch sự xấu xí bị đặt trong tâm hồn anh và vẻ đẹp thần linh sẽ chiếu sáng trong anh… Khi chiêm ngắm chính mình anh, anh sẽ thấy Đấng là sự ao ước của lòng anh, và anh sẽ được chúc phúc. “ [4]
Ở đây tất cả trọng lượng là ở trong “apodosis,” hoa quả được hứa cho mối phúc; có một tâm hồn trong sạch là phương tiện; mục đích là “thấy Chúa.” Về ngôn ngữ, ảnh hưởng của triết gia Plotinus lộ rõ, và điều này sẽ trở thành rõ hơn trong Thánh Basil. [5]
Phương pháp giải thích này cũng sẽ có một sự tiếp nối trong lịch sử sau này của linh đạo Kito hữu, thông qua Thánh Bernard, Thánh Bonaventura và những nhà huyền bí Rhineland. [6] Trong một số nhóm đan viện một ý niệm thích thú sẽ được thêm vào: ý niệm về sự trong sạch như là một sự thống nhất nội tâm đạt được nhờ muốn một điều duy nhất, khi “sự” này là Chúa. Thánh Bernard viết: “Phúc thay những kẻ có tâm hồn thanh sạch. Vì họ sẽ thấy Chúa. Dường như nói: Hãy thanh lọc tâm hồn anh, tránh xa mọi sự, hãy nên một đan sĩ, tức là, một mình, hãy tìm một sự từ Chúa và theo sự ấy (x. Tv 27:4), được giải thoát mọi sự, anh sẽ thấy Chúa (x. Tv 46:11).” [7]
Sự giải thích khổ chế hoàn toàn độc nhất trong các Giáo Phụ và các tác giả trung cổ. Sự giải thích này tập trung vào đức khiết tịnh và sẽ nên nỗi bật, như tôi đã nói, bắt đầu thế kỷ 19. Thánh Gioan Kim Khẩu là gương rõ ràng nhất của phương pháp này.[8] Nhà huyền bí Ruysbroeck, kẻ phân biệt giữa sự khiết tịnh tinh thần, sự khiết tịnh tâm hồn và sự khiết tịnh thân xác, ở trong cũng một đường hướng này. Ông liên kết mối phúc Tin Mừng với đức khiết tịnh tâm hồn. Đức khiết tịnh này, ông viết, “ hồi tưởng và tăng cường những giác quan bên ngoài, đang khi, bên trong, nó kiềm chế và kiểm soát những bản năng thú tính… Nó đóng tâm hồn cho những sự trần thế và những cơn cám dỗ phỉnh nịnh và mở tâm hồn cho những sự trên trời và cho công lý.” [9]
Với những mức độ khác biệt về sự trung thành, mỗi một trong những sự giải thích chính thống vẫn ở trong chân trời mới của cuộc cách mạng do Chúa Giê-su mang lại cuộc cách mạng đó đưa mọi sự thuyết trình luân lý trở về tâm hồn.
Cách nghịch lý, những kẻ phản bội mối phúc Tin Mừng về sự trong sạch {“katharoi”} tâm hồn, là chính những kẻ lấy tên của nó: Cathars, với tất cả những phong trào tương tự đi trước và theo sau họ trong lịch sử Kitô Giáo. Họ thuộc vào loại những người lấy sự trong sạch theo nghĩa tách xa, trong nghi thức và trong xã hội, khỏi những người và những sự bị phán đoán là ô uế tự chúng. Đó là một sự trong sạch bề ngoài hơn là bề trong. Những nhóm này là những kẻ thừa kế của chủ nghĩa triệt để bè phái Pharisêu và Essenô hơn là thừa kế Tin Mừng Chúa Kitô.
3. Sự giả hình phi đạo đức
Thường người ta đề cao ý nghĩa xã hội và văn hóa của một số mối phúc. Điều thường đọc ” Phúc thay ai xây dựng hòa bình” trên các lá cờ những người theo chủ nghĩa hoà bình mang trong những cuộc biểu tình. Và phúc của kẻ hiền lành vì được Đất Hứa làm gia nghiệp được viện dẫn liên quan với nguyên tắc bất bạo động, mà không nói gì về cái phúc của kẻ nghèo và kẻ bị bắt bớ vì sống công chính.
Nhưng sự liên quan xã hội của mối phúc trong sạch tâm hồn thì không bao giờ được nói tới và xem ra chỉ dành cho lĩnh vực cá nhân. Tuy nhiên, tôi xác tìn rằng mối phúc này có thể có một vai trò quan trọng rất cần trong xã hội chúng ta.
Chúng ta đã thấy rằng trong tư tưởng của Chúa Kitô, sự trong sạch tâm hồn không chủ yếu đối nghịch với sự ô uế nhưng với sự giả hình, và sự giả hình có lẽ là nết xấu nhân bản phổ biến nhất, và ít được xưng ra nhất. Có những sự giả hình cá thể và tập thể.
Thánh Pascal đã viết con người có hai sự sống: một là sự sống thật của họ và sự sống kia là sự sống tưởng tượng mà họ sống theo ý kiến của họ hay là theo ý kiến của người khác. Chúng ta làm việc cực nhọc để làm tốt và bảo tồn hữu thể tưởng tượng của chúng ta và chúng ta coi thường hữu thể thật của chúng ta. Nếu chúng ta có một nhân đức hay công nghiệp gì, chúng ta ra sức làm cho người ta biết nó, bằng cách này hay cách khác, hầu nối những nhân đức này với sự sống tưởng tượng đó. Chúng ta thà cách ly các nhân đức ấy với chính mình để liên kết những nhân đức ấy với cuộc sống tưởng tượng; và chúng ta sẵn sàng nên hèn nhát hầu được tiếng là bạo dạn. [10]
Xu hướng do Thánh Pascal đưa ra ánh sáng đã lớn mạnh trong văn hoá hiện thời, văn hoá bị chi phối bởi những phương tiện truyền thông, phim ảnh, truyền hình và nghệ thuật giải trí nói chung. Descartes đã nói: “Cogito ergo sum” (tôi nghĩ nên tôi hiện hữu); nhưng ngày nay điều này có khuynh hướng được thay thế bởi câu “tôi xuất hiện nên tôi hiện hữu.”
Lúc đầu từ giả hình được dành cho diễn viên sân khấu. Nó chỉ có nghĩa là hành động, biểu diễn trong một pha cảnh. Thánh Augustine ghi nhận điều này trong bài bình luận của ngài về mối phúc trong sạch tâm hồn. “Những kẻ giả hình,” ngài viết, “là những kẻ sáng tạo sự tưởng tượng theo nghĩa họ trình diễn tính cách của những kẻ khác trong những vở kịch.” [11]
Nguồn gốc của từ này đặt chúng ta trên con đường tới chỗ khám phá bản tính của sự giả hình. Sự giả hình biến sự sống người ta thành một sân khấu trong đó người ta hành động cho một khán giả; đó là mang mặt nạ, không còn là một con người và trở thành một tính cách.
Một nơi nào đó tôi đã đọc sự giải thích của hai sự: “Tính cách là không gì khác hơn là sự đồi trụy của con người. Con người là một gương mặt, tính cách là một mặt nạ. Con người là sự trần truồng triệt để, tính cách chỉ là áo mặc. Con người yêu sự đích thực và tính chủ yếu, tính cách sống bằng sự bịa đặt và lường gạt. Con người vâng theo những xác tín riêng mình, tính cách vâng theo một kịch bản. Con người thì khiêm tốn và nhẹ nhàng, tính cách thì nặng nề và phiền hà.”
Nhưng sự bịa dặt của sân khấu là một sự giả hình vô tội bởi vì nó luôn giữ sự phân biệt giữa sân khấu và sự sống. Không ai xem một sự biểu diễn về Agamemnon—đây là thí dụ của Thánh Augustine—mà tưởng người biểu diễn là Agamemnon thật. Sự phát triển mới mẻ và gây lo lắng là ngày nay có một xu hướng hủy bỏ sự phân chia này, bằng cách biến đổi chính sự sống thành một vở kịch. Đó là điều mà cái gọi là thực tại trình chiếu trên truyền hình.
Theo triết gia người Pháp, Jean Baudrillard, kẻ đã chết tuần trước, bây giờ khó mà phân biệt những biến cố thật--những cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9, Chiến Tranh Vùng Vịnh--với sự mô tả trong các phương tiện của chúng. Thực tại hầu như bị lẫn lộn.
Sự kêu gọi trở về trạng thái nội tâm đặc điểm hóa mối phúc chúng ta và toàn thể Bài Giảng trên Núi là một lời mời không để chúng ta bị lôi cuốn vào trong xu hướng này chủ trương làm trống rỗng con người, qui họ về một hình ảnh, hay là xấu hơn--sử dụng một từ ngữ Baudrillard ưa thích--một “ảo ảnh.”
Kierkegaard lôi kéo sự chú ý của chúng ta tới sự tha hóa, hậu quả của cách sống thuần túy bên ngoài, luôn luôn và chỉ trong sự hiện diện của kẻ khác, và không bao giờ trong sự hiện diện của Chúa và của chúng ta”.
Ông quan sát, một nông gia có thể là một “cái Tôi” trước những con bò của ông, nếu ông luôn luôn sống với chúng và chỉ có chúng làm thước đo cho mình. Một ông vua có thể là một “ cái Tôi” trước những thần dân của mình và ông sẽ cảm thấy mình như một “cái Tôi” quan trọng. Đứa con coi mình như một “cái Tôi” trong tương quan với cha mẹ mình, một công dân trước nhà nước.
Nhưng điều đó sẽ luôn luôn là một “cái Tôi” bất toàn bởi vì nó thiếu thước do thích đáng. Nhưng cái “Tôi” của tôi chiếm được một thực tại vô cùng dường nào khi nó biết sống trước Chúa, biết trở nên một “cái Tôi” nhân bản mà thước do là Chúa… Một trọng tâm vô cùng dường nào rớt xuống trên cái “Tôi” trong lúc Thiên Chúa trở nên thước do của tôi!”
Điều đó tương tự như một sự bình luận về câu nói của Thánh Phanxicô thành Assisi: “Trước Thiên Chúa điều gì người ta là, thì họ là điều đó và không có gì khác hơn” [12])
4.Sự giả hình đạo đức
Điều xấu nhất một kẻ giả hình có thể làm là coi mình như là tiêu chuẩn dể phán đoán những kẻ khác, xã hội, văn hoá và thế giới. Đây là những kẻ Chúa Giê-su gọi là giả hình: “Hỡi kẻ đạo đức giả, lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em” (Mt 7:5).
Là những tín hữu, chúng ta phải nhớ lời nói của một rabbi Dothái sống đồng thời với Chúa Giê-su, và theo ông, 90% sự giả hình của thế giới được thấy tại Jerusalem. [13] Thánh Inhatiô tử đạo thành Antioch đã cảm thấy nhu cầu khuyên bảo những người anh em trong đức tin: “Điều tốt hơn là làm Kitô hữu mà không nói mình là Kitô hữu hơn là nói mình là Kitô hữu mà không phải như vậy.” [14]
Sự giả hình quyến rũ những người sốt sắng và đạo đức hơn hết, và lý do của sự này thì đơn giản : Nơi nào có sự quí trọng mạnh nhất đối với những giá trị tinh thần đạo đức và nhân đức (và chính thống!), thì cơn cám dỗ giả vờ những sự đó thế nào để được xem như là không thiếu chúng, cũng rất mạnh. “Một số vị trí công khai trong xã hội loài người,” Thánh Augustine viết, “ cần thiết phải làm chúng con được yêu và đuợc tôn trọng bởi những anh em chúng con. Trên mọi phía kẻ thù của hạnh phúc thật, chúng con giăng rộng những chiếc lưới của nó ‘ Thật tuyệt! Thật tuyệt!’ đến nỗi vồ lấy cách thèm muốn những lời ngợi khen này, chúng con có thể bị sự kinh ngạt chiếm hữu, và bỏ sự thích thú của chúng ta trong chân lý của Chúa để tìm kiếm nó, ngược lại, trong sự tâng bốc nhân bản. Như vậy sự quí mến và danh dự chúng con nhận là cái gì chúng con hưởng không phải vì Chúa, nhưng thay thế Chúa.”[15]
Sự giả hình nguy hại nhất là giấu sự giả hình của chính mình. Tôi không bao giờ gặp trong bất cứ sự giúp xét mình nào đến những câu hỏi như: Tôi có phải là tên giả hình không? Tôi có quan tâm hơn về việc kẻ khác thấy tôi hơn là về việc Chúa thấy tôi không? Có lúc trong sự sống của tôi, tôi đã đem vào những câu hỏi này trong lúc xét mình, và họa hiếm tôi có khả năng đi qua mà không có một vấn đề cho những câu hỏi theo sau.
Một ngày kia, khi nghe dụ ngôn những nén bạc được đọc trong Thánh Lễ, tôi thình lình hiểu một cái gì. Giữa sư sinh lợi với nén bạc được cho và sự không sinh lợi, có một khả năng thứ ba: khả năng sinh lợi, không vì kẻ đã cho tôi điều chúng tôi có, nhưng vì vinh quang riêng của chúng tôi hay là vì tư lợi của chúng tôi, và điều này có lẽ là một tội nặng hơn việc không sinh lợi chút nào. Ngày đó khi Rước Lễ tôi đã làm như một số kẻ trộm làm khi chúng bị bắt trong hành vi và đầy xấu hổ, móc túi trút ra những gì mình đã lấy cắp dưới chân chủ nó.
Chúa Giê-su đã để lại cho chúng ta một phương tiện đơn giản và không thể qua được để đính chính những ý định chúng ta trong những thời gian khác nhau suốt ngày, ba vấn đề thứ nhất trong kinh Lạy Cha: “Danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Ý Cha thể hiện.” Những vấn đề này có thể đọc như kinh nguyện nhưng cũng có thể là những công bố ý định: Tất cả những gì con làm, con muốn làm sao cho danh Cha cả sáng, cho nước Cha trị đến và cho ý Cha thể hiện.
Có thể là một đóng góp quí báu cho xã hội và công đồng Kitô hữu nếu mối phúc tâm hồn trong sạch giúp chúng ta giữ sống động trong chúng ta sự luyến tiếc một thế giới sạch, thật, không có sự giả hình đạo đức hay là không đạo đức; một thế giới trong đó những hành động tương ứng với những lời nói, những lời nói tương ứng với nhữ tư tưởng, và những tư tưởng của con người tương ứng với những tư tưởng của Thiên Chúa. Điều này chỉ sẽ xảy ra đầy đủ trên Jerusalem trên trời, thành được làm bằng thủy tinh, nhưng ít nhất chúng ta phải cố gắng thực hiện sự đó.
Một tác giả những truyện ngụ ngôn đã viết một truyện ngụ ngôn có tên “The Glass Town –Thành Phố Kính.” Trong truyện này một cô gái trẻ đạt tới phép phù thủy trong một thành phố làm bằng kính: những nhà kính, những con chim kính, những cây kính, dân chúng cử động như những tượng kính duyên dáng. Nhưng không gì trong thành phố này nứt bể vì mỗi người đã học phải di động cách nào trong thành phố để khỏi gây thiệt hại. Khi gặp nhau, dân chúng trả lời những câu hỏi trước khi họ được hỏi bởi vì cả những tư tưởng cũng được rõ ràng và trong suốt trong thành phố này; không ai dám nói láo vì biết rằng mỗi người có thể đọc thấy điều gì có trong trí khôn mình. [16]
Chúng ta rùng mình khi nghĩ tới điều gì sẽ xảy ra nếu điều này thình lình xảy ra ở đây giữa chúng ta; nhưng điều bổ ích là ít nhất có xu hướng về một lý tưởng như thế. Đó là con đường sẽ đưa chúng ta tới mối phúc mà chúng ta đã cố gắng bình giải: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.”
* * *
[1] St. Augustine, "De sermone Domini in monte," II, 1, 1 (CC 35, p. 92).
[2] Ibid. II, 13, 45-46.
[3] Jean-François de Reims, "La vraie perfection de cette vie," Part 2, Paris 1651, Instr. 4, p. 160.
[4] Gregory of Nyssa, "De beatitudinibus," 6 (PG 44, p. 1272).
[5] St. Basil, "On the Holy Spirit," IX, 23; XXII, 53 (PG 32, 109,168).
[6] Cf. Michel Dupuy, "Pureté," in DSpir. 12, pp. 2637-2645.
[7] St. Bernard of Clairvaux, "Sententiae," III, 2 (S. Bernardi Opera, ed. J. Leclerq and H. M. Rochais).
[8] St. John Chrysostom, "Homiliae in Mattheum," 15, 4.
[9] John Ruysbroeck, "Lo splendore delle nozze spirituali," Roma, Città Nuova 1992, pp.72 f.
[10] Cf. Blaise Pascal, "Pensées," 147 Br.
[11] St. Augustine, "De sermone Domini in monte," 2, 5 (CC 35, p. 95).
[12] St. Francis of Assisi, "Ammonizioni," 19 (Fonti Francescane, n.169).
[13] Cf. Strack-Billerbeck, I, 718.
[14] St. Ignatius of Antioch, "Ephesians" 15:1 ("It is better to say nothing and to be, than to chatter and not be") and "Magnesians," 4 ("It is necessary not only to call ourselves Christians but also to be Christians").
[15] Cf. St. Augustine, "Confessions," X, 36, 59.
[16] Lauretta, "Il bosco dei lillà," Ancora, Milano, 2nd ed. 1994, pp. 90ff.