Sự khiêm hạ của Thiên Chúa (phần 1)
François Varillon, linh mục dòng tên, mở đầu trong cuốn sách « Sự khiêm nhường của Thiên Chúa » như thế này : « Tel est ici mon propos que le moi doit y paraître moins haïssable que son absence. L’absence du moi est souvent, paradoxalement, absence de modestie ». Tôi hiểu ý nghĩa của câu nói trên như sau : « Tôi cho là cái tôi không đáng ghét bằng sự vắng cái tôi. Thật kỳ lạ, không có cái tôi thường khiến con người thiếu sự khiêm tốn. ». Như vậy, tác giả nhìn nhận nơi cái tôi có một giá trị quan trọng, đặc biệt tầm quan trọng có sự hiện diện của nó. Cần có cái tôi để con người giao tiếp, chuyển thông trong tính đơn sơ. Nhưng cái tôi nhân trần tiếp chuyện thế nào với một Thiên Chúa khiêm nhường ? Với cái tôi, con người có thể nói Thiên Chúa là Ðấng khiêm nhường. Vậy, khi tôi cầu nguyện, tôi thưa chuyện với Ðấng khiêm nhường hơn tôi. Khi tôi xưng thú tội lỗi, tôi cầu xin sự tha thứ với Ðấng khiêm nhường hơn tôi. Nếu như Thiên Chúa không phải là Ðấng khiêm nhường, tôi sẽ do dự tuyên xừng Người là Ðấng yêu thương vô cùng tận.
François Varillon là một con người không biết mệt mỏi trong việc tìm hiểu ý nghĩa của sự khiêm nhường nơi Thiên Chúa. Ông viết « khi nói về Thiên Chúa, ý nghĩa của chữ khiêm nhường chỉ có thể được khai mở dần dần, trừ khi người ta muốn định nghĩa từ này ngoài kinh nghiệm sống. » Tác giả là một người kế thừa kho tàng kinh nghiệm về sự khiêm nhường của Thiên Chúa. Năm 1956, François Varillon thâu nạp những suy nghĩ của thần học gia Karl Barth về nhân tính của Thiên Chúa. Viết về sự khiêm nhường của Thiên Chúa đã dẫn tác giả nhìn lại cả chặng đường đã qua và đi vào một truyền thống lâu đời của Giáo Hội với nguồn kinh nghiệm phong phú về Thiên Chúa.
Tuy nhiên, tác giả hiểu rõ nói về Thiên Chúa không phải dễ. Dầu vậy, hơn bao giờ hết, ngày nay cần nói về Thiên Chúa. Tôi cần nói về Thiên Chúa trước hiết là với tôi, nói cách nghiêm túc để có thể nói tốt về Thiên Chúa cho những người khác. « Nêú tôi không còn muốn nói về Thiên Chúa cho tha nhân nữa, đó là có lẽ vì tôi không còn nói về Thiên Chúa cho chính mình tôi nữa ». Ngày nay, con người dễ dàng cho rằng Thiên Chúa không còn chỗ đứng trong thế giới này nữa. Vậy không cần thiết phải nói về Người. Thật là một sai lầm khi cho rằng Thiên Chúa đã mất chỗ đứng trong cuộc sống con người chỉ vì thế giới bị quá nhiều bạo lực, tai ương hoành hành. Thật sai lầm vì vậy mà nghĩ rằng trong thế giới này không còn chỗ đứng cho sự nhưng không nữa.
Hơn lúc nào hết, tác giả nhận thấy bây giờ là thời gian cần « thay đổi cuộc sống », đồng thời cũng cần tiếp tục nói về Thiên Chúa. Trong thế giới này, con người cần tiếp tục góp phần vào việc tạo dựng và phát triển con người. Nhu cầu cảm nhận và làm cho con người cảm nhận tính nhưng không là ơn gọi cuối cùng. Có nghĩa là ơn gọi của con người được tuyển chọn bởi ân sủng của Thiên Chúa. « Con người được chọn lựa bởi ân sủng của Thiên Chúa để làm việc hầu con người trở nên người hơn ».
Thiên Chúa là Ðấng ngự trong tự do của tôi. Người nói với tôi. Tôi nói với Người. Tôi nói về Người. Thiên Chúa ở trong tôi hơn cả chính tôi. Vì vậy, Thiên Chúa không ở ngoài những lí do hành động của tôi. Sự hiện diện của Thiên Chúa là Lời và Hành (hành động). Thiên Chúa nói với tôi rằng tôi ở trên thế gian để yêu thương như Người yêu thương. Thiên Chúa ban cho tôi khả năng yêu thương. Quà tặng này cho tôi theo truyền thống Giáo Hội gọi là Ân Sủng. Thiên Chúa là sự nhưng không thuần khiết. Thiên Chúa chuyển ban cho tôi Hữu thể của sự nhưng không của Người. Thiên Chúa cho tôi thông phần vào Sự sống không cần toan tính. Như vậy con người mới thực sự là người hơn. François Varillon cho rằng « lí do riêng biệt của việc dấn thân của ki tô hữu trong thời đại chính là làm cho mọi người có thể đi đến nhận biết trong tự do sự nhưng không tuyệt đối của tình yêu Thiên Chúa ». Tác giả còn làm sáng tỏ thêm từ vựng : « Sự nhưng không có lẽ là từ kém thích đáng nhất để diễn tả huyền nhiệm của con người và mầu nhiệm của Thiên Chúa. Sự nhưng không vừa nói lên sự thuần khiết của tình yêu, sự tự do, sự không toan tính. »
Chủ đề về sự thinh lặng chiếm một phần không nhỏ trong tập sách này. Tác giả viết « thinh lặng không phải là câm lặng. » Bởi câm lặng thì không có lời do sự trống rỗng của tâm hồn. Ngược lại, tác giả nhấn mạnh và đề cao giá trị của sự thinh lặng. Trong thinh lặng có có sự chuyển thông của ngôn ngữ. Nói khác đi, trong sự thinh lặng có chuyển động của sự sống được sống. Theo tác giả, khi ngôn ngữ về Thiên Chúa không được nhận ra là nó sinh từ sự thinh lặng và thấm nhuần từ từ trong thinh lặng thì thứ ngôn ngữ đó không ai để ý nghe. Vì vậy, tác giả mời gọi mỗi người trong tự do trải nghiệm về sự thinh lặng.
Có lẽ vì tầm quan trong lớn lao của sự thinh lặng trong đời sống của con người, đặc biệt của những ai tin vào Thiên Chúa. Ðức tin trong ki tô giáo không thể là một thứ đức tin vào một Ðức Ki Tô mà không không tin vào Thiên Chúa, và ngược lại đó cũng không phải là đức tin vào một Thiên Chúa mà không tin vào Ðức Ki Tô. Như vậy đức tin của người ki tô hữu không thể tách rời Thiên Chúa và Ðức Ki Tô. Bởi nếu chỉ tin vào Ðức Ki Tô mà không tin vào Thiên Chúa thì đó chỉ là đức tin vào một con người đặc biệt, một con người cao siêu có một không hai trong lịch sử, hay một siêu nhân. Nếu chỉ tin vào Thiên Chúa mà không tin vào Ðức Ki Tô thì đó chỉ là Chúa của các triết gia và của những người thông thái. Trong khi đó, đức tin phải là đức tin vào Ðấng tuyệt đối mà sự thật của Ðấng ấy mang tính hoàn vũ. « Ðấng tuyệt đối thì không tương đối với cái gì, không tương đối vơi bất cứ ai. »
Nhờ Thiên Chúa mà tôi tồn tại như con người suy tư. Thiên Chúa là Ðấng duy nhất làm cho mọi sự tồn tại. Ngoài Người ra không có gì hiện hữu. Con người chỉ có thể chứng tỏ được Thiên Chúa khi nhận ra Người. « Mọi hiểu biết lí trí về Thiên Chúa là một sự nhận biết. » Ðấng tuyệt đối không phải là Ðấng không có quan hệ bởi Thiên Chúa không phải là một Hữu Thể phi quan hệ.
Con người tin vào Thiên Chúa cũng là con người chất vấn về cuộc sống con người. Ðâu là ý nghĩa của cuộc sống vui buồn lẫn lộn ? Sự sống đến từ đâu và đi về đâu ? Tại sao sự sống tồn tại ? Sự chất vấn về ý nghĩa của sự hiện hữu làm người chính là một hành vị của tự do và lí lẽ, và cũng là một hành vi của đức tin. Ắt hẳn là có một ý nghĩa nào đó, nếu không câu hỏi được đặt ra trở nên vô nghĩa. Cuộc sống có yã nghĩa, ví dụ khi con người tìm cách sống huynh đệ hơn, xây dựng một xã hội công bằng hơn, vân vân. Nhưng cũng có cái vô nghĩa của sự sống. Chẳng hạn khi con người đối diện với bệnh tật cướp đi sự sống, khi con người theo tư suy của Jean-Paul Sartre xem người khác là địa ngục cho mình, nên không còn khả năng sống chung. Cuộc sống cũng trở nên vô nghĩa khi vợ chồng phản bội nhau.
Tác giả cho rằng ý nghĩa và vô nghĩa tồn tại song song, lẫn lộn nhau giống như cỏ lùng và cây lúa mì cùng mọc trong đất trong dụ ngôn của Tin Mừng. Cái vô nghĩa thường chiếm lấy cái ý nghĩa, ngay cả cái ý nghĩa vui và tuyệt vời nhất. Bởi vì cái vô nghĩa bám lấy cái ý nghĩa và làm mờ dần đi cái ý nghĩa. Ngay trong triết học cũng phải đi đến câu hỏi căn bản mà Heidegger đặt ra : « Tại sao có cái gì đó còn hơn không ? » Con người hiện tại mới chỉ khám phá được những ý nghĩa cá biệt, còn cái ý nghĩa hoàn vũ, hoàn toàn thì chưa. Thiên Chúa, Ðấng tuyệt đối là « nguồn của mọi ý nghĩa và là nền tảng mà sự hiện diện làm cho có thể cảm nhận… » bởi « Thiên Chúa là Mầu nhiệm », tức « sự vô tận của Ðấng không thể xóa nhòa. » Mầu nhiệm không phải là mầu nhiệm cách tạm thời, mà là mãi mãi, vì Thiên Chúa, Ðấng Hoàn Toàn Khác với con người sẽ luôn luôn như thế. Giữa Thiên Chúa và con người, luôn có sự khác biệt này, sự khác biệt đến vô tận. Con người cần nhìn nhận sự khác biệt này. « Tình yêu chỉ tuyệt đối, chỉ là tình yêu của Ðấng Tuyệt Ðối khi có sự nhìn nhận tuyệt đối về Sự khác biệt tuyệt đối. »
Ðấng Tuyệt Ðối không thể xóa nhòa, Ðấng mà con người không thể nói đến lại là Ðấng nòi về mình. Ðấng ấy tỏ hiện và nói. Thiên Chúa không thể là Ðâng phi quan hệ. Làm sao có thể khái niệm một Thiên Chúa không phải là tình yêu ? Sự mạc khải cho chúng ta biết tình yêu có thể đi đến đâu, đến mức độ nào của sự nhưng không : đến tận cái chết của Ðức Ki Tô để ban tặng cho con người chia sẻ sự sống thiên Chúa. Vì thế, « con người cần để ý đến huyền nhiệm làm người của mình để có thể nói về mầu nhiệm của Thiên Chúa, nếu không lời của con người về Thiên Chúa chỉ là cuộc bút chiến về từ ngữ mà thôi. » Con người chỉ có thể biết Thiên Chúa nhờ Thiên Chúa, và quả thật chúng ta biết Thiên Chúa. Ân Sủng khắc ghi vào trong cấu trúc của lí trí. Thiên Chúa làm cho tạo vật có lí trí khi cho con người có khả năng đón nhận sự trao ban về chính Người cho con người. Khả năng đón nhận chính là bản chất của lí lẽ (lí trí). Vì vậy tôi có thể tự hào là con người có lí trí. Một sự tự hào không thể tách khỏi sự khiêm hạ (khiêm nhường). Thiên Chúa xem trọng con người, không chỉ trong ơn gọi cuối cùng và trong tính siêu việt của cùng đích con người, mà còn trong sự sâu thẳm của gốc rễ con người.
Vậy Thiên Chúa thì khiêm hạ, nhưng đồng thời tôi ý thức rằng Người khiêm hạ không phải như con người có thể và phải trở nên khiêm hạ. Khái niệm về sự khiêm hạ chỉ được áp dụng cho loài thụ tạo. Không có khái niệm có khả năng bao hàm cái vô tận và cái hữu hạn. Tác giả đề cập đến tầm quan trọng của những tín điều vì nó giúp con người tránh được những mơ mộng nguy hiểm nhất, như mơ mộng vào một Thiên Chúa cao trọng hơn Thiên Chúa của Ðức Ki Tô. Thiên Chúa là Tha vị chứ không phải là một người khác trong các mơ mộng của chúng ta. Bởi nếu vậy thì chúng ta đang theo chính chúng ta. Thiên Chúa của tính chủ thể thuần khiết chỉ có thể là một sự phản chiếu tội lỗi về cái mình. Chính vì vậy khẳng định tín lí chặn đứng quá trình chết người đó. Vả lại, « sở dĩ có những tín điều trong Giáo Hội là để không ai lạm dụng về cái gọi là tình yêu. » Hơn nữa, « Giáo Hội không tôn thời Thiên Chúa với phẩm chất là Vị Giáo Sư siêu phàm nhờ những suy luận lô gích làm thỏa mãn lí trí. » Giáo Hội luôn để ý để ánh sáng Ðức Ki Tô được đón nhận đúng đắn trong mọi thời và mọi nơi.
François Varillon nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự mạc khải. « Thiên Chúa mạc khải, tức tỏ cho biết) về Người qua những gì người thực hiện. Chương trình của Người đối với con người, được thực hiện trong Ðức Giê Su Ki Tô, mở ra hữu thể sâu kín của Người. Ta không thể tách khỏi Thiên Chúa hành vi và hữu thể. Sở dĩ việc nhập thể là hành vi của sự khiêm hạ, chính là vì Thiên Chúa là hữu thể của sự khiêm hạ. » Sự khiêm hạ của Ðức Ki Tô trong thời gian thể hiện rằng sự khiêm hạ ở trong lòng của vinh quang.
Thiên Chúa là Ðấng Toàn Năng ư ? Hẳn là thế rồi, nhưng Thiên Chúa toàn năng bởi sức mạnh nào ? Người toàn năng bởi sự Bất lực hoàn toàn nơi đồi Can-vê. Kỳ lạ thay, chính sự bất lực hoàn toàn ấy lại mạc khải bản tính thật của sự Toàn năng của Hữu thể vô hạn. Sự khiêm hạ của tình yêu mở ra điều này : cần ít sức mạnh để thể hiện dung nhan, nhưng thật nhiều để xóa mình đi. Bởi vậy, Thiên Chúa thì toàn năng vô hạn về sự xóa mình.
Sự khiêm hạ có gì liên quan với bổn phận đạo đức ? Theo tác giả, sự khiêm hạ không phải là một bổn phận, không phải là một ép buộc mang tính đạo đức thế này, thế nọ. Không ai có thể đòi buộc ai phải khiêm nhường nếu con người không chịu. Vậy, tác giả cho rằng, về mặt đạo đức « sự khiêm nhường còn mập mờ ». Tác giả còn cho rằng « nghiêng mình trước sự cao siêu của người khác không hẳn là khiêm nhường. » Sự khiêm nhường là khía cạnh tận căn nhất của tình yêu. Sự khiêm nhường thì được sinh ra trong phạm trù hữu thể, chứ không trong phạm trù sở hữu. Thiên Chúa thì vô hình vì Thiên Chúa là Thần Khí và Người hiện diện cách nội tại trong chúng ta.Vậy, Thiên Chúa là Tha Vị, nhưng lại không xa cách chúng ta. Song Thiên Chúa lại ẩn mình, ẩn mình cách khiêm hạ vì chúng ta không thể nhìn thấy Thiên Chúa mà vẫn còn tự do. Vì thể, sự vô hình, sự ẩn mình của Thiên Chúa là sự khiêm hạ tôn trong sự tự do của chúng ta.
Chúng ta khó tha thứ cho ai đó lấn át chúng ta dù bất cứ trong lĩnh vực gì, nếu người đó không khiêm nhường. Nếu nếu khiêm nhường thì mọi sự sẽ khác : sự lấn át của người đó sẽ được bỏ qua dễ dàng hơn vì « con người ta không ghen tị về một người khiêm nhường đáng kính ». Vả lại, người khiêm nhường thì không hạ nhục người khác.