Trở về với bản chất thần linh
Khởi đầu Mùa Chay Thánh Giáo hội nhắc nhở chúng ta ý thức đến thân phận mỏng dòn của kiếp người qua nghi thức xức tro: “hỡi người là tro bụi, hãy nhớ mình bụi tro, rồi đấy sẽ trở về với tro bụi”. Khi nhắc đến kiếp tro bụi, chắc chắn Giáo hội không có ý dẫn đưa chúng ta vào một chân trời bi quan, chán chường của kiếp nhân sinh, nhưng là mời gọi chúng ta khám phá tình yêu của Thiên Chúa khi trao ban cho chúng ta sự sống nầy.
Thật vậy từ thân phận tro bụi Thiên Chúa đã nâng nó lên hàng thần linh khi trao ban cho chúng ta chính sự sống của Người. Chỉ khi tạo dựng con người Thiên Chúa mới tỏ lộ: “Chúng ta hãy làm ra con người giống hình ảnh chúng ta, giống như Chúng ta” (St 1, 26). Nhìn đến công trình tạo dựng nầy, tác giả Thánh vịnh đã sững sờ thốt lên: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên…” (Tv 8, 4-6).
Ý thức được điều đó Giáo hội mời gọi con cái trong Mủa Chay Thánh nầy hãy lột bỏ thân phận bụi tro để trở về với nguồn gốc thần linh của mình. Biến cố biến hình trên núi Tabor là một minh chứng hùng hồn cho chúng ta hiểu rằng: Thiên Chúa yêu thương con người, Người đã biến đổi thân xác bụi tro trở thành dung mạo thần linh. Sự biến đổi lạ lùng đến nỗi thánh sử Luca chỉ có thể trình bày : “Dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa” (Lc 9, 29), Thánh sử Matthêu nói rõ hơn: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17, 2).
1- Hãy lột bỏ thân phận bụi tro – Khởi đầu bài tường thuật về biến cố Hiển Dung, thánh Luca nói đến việc Chúa Giêsu lên núi và cầu nguyện. Hành vi “lên núi” như là hành vi chuẩn bi cho cuộc biến hình. Trong bối cảnh Mùa Chay Thánh việc “lên núi” như là hành vi lột bỏ thân phận bụi tro. Tuy được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, nhưng con người luôn bị cám dỗ chối bỏ nguồn gốc thân linh của mình, để chỉ dừng lại trong thân xác bụi tro hay hư nát nầy. Trải qua từ thế hệ nầy tới thế hệ khác, con người luôn bị cám dỗ chống lại Thiên Chúa để tôn thờ điều mà thánh Phaolô đã phê phán gay gắt cộng đoàn tìn hữu Philiphê: “Chúa họ thờ là cái bụng” (Phil. 3, 19). Không chỉ cộng đoàn Philiphê của thời gian các Tông đồ, nhưng việc “tôn thờ cái bụng” luôn được lập đi lập lại mãi cho tới ngày hôm nay, và càng ngày người ta càng “tôn thờ cái bụng” với nhiều chiêu bài: nào là vì nhân phẩm con người, vì sự tự do của con người, vì cuộc sống của con người… Chung cuộc là một trào lưu hưởng thụ, chỉ lo làm thỏa mãn những đam mê ích kỷ thấp hèn của thân xác. “Vì cái bụng” mà biết bao người đã sẵn sàng chà đạp lên mạng sống – Bao nhiêu thai nhi đã bị giết cách oan uổng – “vì cái bụng” mà biết bao tín hữu đã bỏ quên giới luật yêu thương của Chúa, người ta chà đạp lên nhau để mưu cầu ích lợi cho riêng mình, sẵn sàng rộng tay chi phí cho những tiệc tùng, nhưng lại ngoảnh mặt làm ngơ trước những mãnh đời bất hạnh đang cần sự giúp đỡ của chúng ta.
Do đó Mùa Chay Thánh là cơ hội thuận tiện để chúng ta thực hiện một cuộc “lên núi” hay là lột bỏ thân xác bụi tro, tức là khước từ những đam mê trần thế, khước từ vinh hoa thế trần, không coi cuộc sống trần gian nầy là cùng đích. Để nói như thánh Phaolô, chúng ta hướng đến Nước Trời, đó chính là quê hương đích thật của chúng ta (x. Phil. 3, 20). Nói như thế không có nghĩa là chúng ta khinh miệt đời sống thể xác. Thánh Công đlồng Vat. II đã dạy: chúng ta phải “coi thân xác mình là tốt đẹp và đáng tôn trọng, vì thân xác ấy do Chúa tạo dựng và phải được sống lại ngày sau hết. Tuy nhiên, mang thương tích do tội gây nên, con người cảm nghiệm nơi chính mình những nổi loạn của thân xác. Vậy chính phẩm giá con người đòi hỏi con người ca tụng Thiên Chúa nơi thân xác của mình, đừng để thân xác ấy nô lệ cho những xu hướng xấu xa của lòng mình” (GS số 14).
2- Trở về với bản chất thần linh – Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II trong thông điệp “Evangelium Vitae” (Tin Mừng về Sự sống) đã khẳng định: “Con người được gọi tới sự sống sung mãn vượt xa những chiều kích của cuộc sinh tồn trên trái đất nầy, vì được tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa” (EV số 2). Quả thật cuộc sống của con người “được sáng tỏ nhờ lời hứa ban sự sống thần linh và được canh tân nhờ ơn ban sự sống thần linh” (EV số 2) do đó sự hiện hữu của con người chứa đựng bản chất thần linh trong thân xác. Sự biến hình của Chúa Giêsu trên núi Tabor xác quyết điều đó. Giáo lý công giáo tuyên xưng: Chúa Giêsu là người thật, có nghĩa Chúa Giêsu cũng mang lấy thân xác bụi tro của đời sống nhân sinh, và thân xác đó đã biến đổi chói ngời của Đấng thần linh. Sự Hiển Dung nầy đã chỉ cho chúng ta nhận ra “tính thần linh” nơi thân xác của chúng ta, để chúng ta làm một cuộc trở về. Trở về với bản chất đích thật của con người.
Cuộc trở về nầy không là một cuộc cách mạng đòi quyền làm Chúa. Con người mãi muôn đời vẫn là con người, có nghĩa là mãi là thụ tạo của Thiên Chúa. Con người được mang lấy bản chất thần linh không do yếu tính của mình, nhưng do Tình yêu của Thiên Chúa. Bởi yêu thương, Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh của Thiên Chúa, con người được dự phần vào ánh sáng của trí tuệ Thiên Chúa, để nhờ đó con người khám phá và yêu mến những gì là chân là thiện (x. GS số 15). Bởi vậy lời mời gọi trở về không gì hơn là kêu gọi con người ý thức sự hiện hữu của mình để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa. Do đó trở về với bản chất thần linh của mình chính là thực hiện một cuộc gặp gỡ với Đấng, nhờ đó mà mình được hiện hữu. Đấng đó chính là Chúa Giêsu, thật vậy nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Chính khi gặp gỡ với Chúa Giêsu, chúng ta thực sự sẽ được Người biến đổi, vì Người như thế nào chúng ta sẽ trở nên giống như vậy.
Để cuộc gặp gỡ đó được hiện thực trước tiên chính là “hãy vâng nghe lời Người: (Lc 9, 35). Thật vậy, Chúa Giêsu là Lời của Thiên Chúa, Lời chân lý và sự sống, do đó “vâng nghe lời Người” là phương thế duy nhất tạo ra cuộc gặp gỡ với Đấng, nhờ Người mà mình được hiện hữu, và qua đó được biến đổi trở nên giống như Người. Lời Chúa Giêsu được nói lên trong Thánh kinh, trong các Giáo huấn của Giáo hội, của tiếng nói lương tâm, của những người khôn ngoan đạo đức, của ông bà cha mẹ …
Chính khi tuân giữ “Lời Người” chúng ta thực sự gặp gỡ được Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta, từ đó chúng ta sẽ được biến đổi dung mạo như cuộc Hiển dung của Chúa Giêsu. Thật vậy, chúng ta sẽ lột bỏ được con người ích kỷ hẹp hòi, chất chứa thù hận, ganh ghét, tham lam, chúng ta thực sự mặc lấy dung mạo của người con Thiên Chúa. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI. trong Thông điệp “Deus caritas est” (Thiên Chúa là Tình yêu) đã trình bày: “trong quá trình gặp gỡ nầy một điều cho chúng ta thấy rõ là tình yêu không phải chỉ là cảm xúc. Cảm xúc đến rồi đi. Một cảm xúc có thể là một tia sáng loé lên huy hoàng lúc đầu, nhưng nó không phải là sự viên mãn của tình yêu. …. Sự tiếp xúc với những biểu thị hữu hình của tình yêu Thiên Chúa có thể đánh thức trong chúng ta một cảm giác hân hoan xuất phát từ cảm nhận mình đang được yêu. Nhưng cuộc gặp gỡ này cũng thu hút cả ý chí và trí tuệ của chúng ta. Nhìn nhận Thiên Chúa hằng sống là một con đường hướng đến tình yêu, và lời ‘xin vâng’ của ý chí chúng ta trước thánh ý Ngài sẽ kết hiệp trí tuệ chúng ta, ý chí chúng ta và những tình cảm của chúng ta lại trong hành vi ôm trọn tất cả của tình yêu. Nhưng tiến trình này luôn luôn bất tận; tình yêu không bao giờ ‘hoàn tất’ và hoàn toàn; suốt đời, tình yêu thay đổi và trưởng thành, và qua đó luôn trung tín với chính mình.” (Số 17) Từ đó, việc “vâng nghe lời Người” tiếp thục được thể hiện qua việc thực hiện lệnh truyền: “các con hãy yêu thương nhau” (Ga 15, 12). Khi thực hiện lệnh truyền yêu thương nầy, chúng ta tìm thấy bản chất thần linh trong sự hiện hữu của mình, tìm thấy hình ảnh Thiên Chúa nơi mình, vì “nếu anh em giữa các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15, 10).
Sự Hiển Dung của Chúa Giêsu trên núi Tabor là dấu chỉ của niềm hy vọng và cũng là lời mời gọi chúng ta bước vào cuộc hành trình trở về với chính mình, một thụ tạo được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, và được trao ban cho sự sống thần linh. Sự trở về nầy được thực hiện trong từng giây phút của cuộc sống thường nhật bằng một thái độ đáp trả chân thành trước lời mời gọi của Đấng yêu thương, và như thế cuộc trở về chính là “biến đổi từng ngày phàm nhân thành ngày ân sủng” (Karl Rahner), biến những đau khổ thành niềm hoan lạc vinh quang, biến những khước từ thành sự chiến thắng khải hoàn, biến những mất mát vì tình yêu Chúa thành kho tàng bất diệt và như tthế chúng ta đang thực sự biến đổi dung mạo của thân phận bụi tro thành dung mạo chói ngời vinh quang Chúa.
Lm Hà văn Minh
Khởi đầu Mùa Chay Thánh Giáo hội nhắc nhở chúng ta ý thức đến thân phận mỏng dòn của kiếp người qua nghi thức xức tro: “hỡi người là tro bụi, hãy nhớ mình bụi tro, rồi đấy sẽ trở về với tro bụi”. Khi nhắc đến kiếp tro bụi, chắc chắn Giáo hội không có ý dẫn đưa chúng ta vào một chân trời bi quan, chán chường của kiếp nhân sinh, nhưng là mời gọi chúng ta khám phá tình yêu của Thiên Chúa khi trao ban cho chúng ta sự sống nầy.
Thật vậy từ thân phận tro bụi Thiên Chúa đã nâng nó lên hàng thần linh khi trao ban cho chúng ta chính sự sống của Người. Chỉ khi tạo dựng con người Thiên Chúa mới tỏ lộ: “Chúng ta hãy làm ra con người giống hình ảnh chúng ta, giống như Chúng ta” (St 1, 26). Nhìn đến công trình tạo dựng nầy, tác giả Thánh vịnh đã sững sờ thốt lên: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên…” (Tv 8, 4-6).
Ý thức được điều đó Giáo hội mời gọi con cái trong Mủa Chay Thánh nầy hãy lột bỏ thân phận bụi tro để trở về với nguồn gốc thần linh của mình. Biến cố biến hình trên núi Tabor là một minh chứng hùng hồn cho chúng ta hiểu rằng: Thiên Chúa yêu thương con người, Người đã biến đổi thân xác bụi tro trở thành dung mạo thần linh. Sự biến đổi lạ lùng đến nỗi thánh sử Luca chỉ có thể trình bày : “Dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa” (Lc 9, 29), Thánh sử Matthêu nói rõ hơn: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17, 2).
1- Hãy lột bỏ thân phận bụi tro – Khởi đầu bài tường thuật về biến cố Hiển Dung, thánh Luca nói đến việc Chúa Giêsu lên núi và cầu nguyện. Hành vi “lên núi” như là hành vi chuẩn bi cho cuộc biến hình. Trong bối cảnh Mùa Chay Thánh việc “lên núi” như là hành vi lột bỏ thân phận bụi tro. Tuy được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, nhưng con người luôn bị cám dỗ chối bỏ nguồn gốc thân linh của mình, để chỉ dừng lại trong thân xác bụi tro hay hư nát nầy. Trải qua từ thế hệ nầy tới thế hệ khác, con người luôn bị cám dỗ chống lại Thiên Chúa để tôn thờ điều mà thánh Phaolô đã phê phán gay gắt cộng đoàn tìn hữu Philiphê: “Chúa họ thờ là cái bụng” (Phil. 3, 19). Không chỉ cộng đoàn Philiphê của thời gian các Tông đồ, nhưng việc “tôn thờ cái bụng” luôn được lập đi lập lại mãi cho tới ngày hôm nay, và càng ngày người ta càng “tôn thờ cái bụng” với nhiều chiêu bài: nào là vì nhân phẩm con người, vì sự tự do của con người, vì cuộc sống của con người… Chung cuộc là một trào lưu hưởng thụ, chỉ lo làm thỏa mãn những đam mê ích kỷ thấp hèn của thân xác. “Vì cái bụng” mà biết bao người đã sẵn sàng chà đạp lên mạng sống – Bao nhiêu thai nhi đã bị giết cách oan uổng – “vì cái bụng” mà biết bao tín hữu đã bỏ quên giới luật yêu thương của Chúa, người ta chà đạp lên nhau để mưu cầu ích lợi cho riêng mình, sẵn sàng rộng tay chi phí cho những tiệc tùng, nhưng lại ngoảnh mặt làm ngơ trước những mãnh đời bất hạnh đang cần sự giúp đỡ của chúng ta.
Do đó Mùa Chay Thánh là cơ hội thuận tiện để chúng ta thực hiện một cuộc “lên núi” hay là lột bỏ thân xác bụi tro, tức là khước từ những đam mê trần thế, khước từ vinh hoa thế trần, không coi cuộc sống trần gian nầy là cùng đích. Để nói như thánh Phaolô, chúng ta hướng đến Nước Trời, đó chính là quê hương đích thật của chúng ta (x. Phil. 3, 20). Nói như thế không có nghĩa là chúng ta khinh miệt đời sống thể xác. Thánh Công đlồng Vat. II đã dạy: chúng ta phải “coi thân xác mình là tốt đẹp và đáng tôn trọng, vì thân xác ấy do Chúa tạo dựng và phải được sống lại ngày sau hết. Tuy nhiên, mang thương tích do tội gây nên, con người cảm nghiệm nơi chính mình những nổi loạn của thân xác. Vậy chính phẩm giá con người đòi hỏi con người ca tụng Thiên Chúa nơi thân xác của mình, đừng để thân xác ấy nô lệ cho những xu hướng xấu xa của lòng mình” (GS số 14).
2- Trở về với bản chất thần linh – Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II trong thông điệp “Evangelium Vitae” (Tin Mừng về Sự sống) đã khẳng định: “Con người được gọi tới sự sống sung mãn vượt xa những chiều kích của cuộc sinh tồn trên trái đất nầy, vì được tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa” (EV số 2). Quả thật cuộc sống của con người “được sáng tỏ nhờ lời hứa ban sự sống thần linh và được canh tân nhờ ơn ban sự sống thần linh” (EV số 2) do đó sự hiện hữu của con người chứa đựng bản chất thần linh trong thân xác. Sự biến hình của Chúa Giêsu trên núi Tabor xác quyết điều đó. Giáo lý công giáo tuyên xưng: Chúa Giêsu là người thật, có nghĩa Chúa Giêsu cũng mang lấy thân xác bụi tro của đời sống nhân sinh, và thân xác đó đã biến đổi chói ngời của Đấng thần linh. Sự Hiển Dung nầy đã chỉ cho chúng ta nhận ra “tính thần linh” nơi thân xác của chúng ta, để chúng ta làm một cuộc trở về. Trở về với bản chất đích thật của con người.
Cuộc trở về nầy không là một cuộc cách mạng đòi quyền làm Chúa. Con người mãi muôn đời vẫn là con người, có nghĩa là mãi là thụ tạo của Thiên Chúa. Con người được mang lấy bản chất thần linh không do yếu tính của mình, nhưng do Tình yêu của Thiên Chúa. Bởi yêu thương, Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh của Thiên Chúa, con người được dự phần vào ánh sáng của trí tuệ Thiên Chúa, để nhờ đó con người khám phá và yêu mến những gì là chân là thiện (x. GS số 15). Bởi vậy lời mời gọi trở về không gì hơn là kêu gọi con người ý thức sự hiện hữu của mình để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa. Do đó trở về với bản chất thần linh của mình chính là thực hiện một cuộc gặp gỡ với Đấng, nhờ đó mà mình được hiện hữu. Đấng đó chính là Chúa Giêsu, thật vậy nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Chính khi gặp gỡ với Chúa Giêsu, chúng ta thực sự sẽ được Người biến đổi, vì Người như thế nào chúng ta sẽ trở nên giống như vậy.
Để cuộc gặp gỡ đó được hiện thực trước tiên chính là “hãy vâng nghe lời Người: (Lc 9, 35). Thật vậy, Chúa Giêsu là Lời của Thiên Chúa, Lời chân lý và sự sống, do đó “vâng nghe lời Người” là phương thế duy nhất tạo ra cuộc gặp gỡ với Đấng, nhờ Người mà mình được hiện hữu, và qua đó được biến đổi trở nên giống như Người. Lời Chúa Giêsu được nói lên trong Thánh kinh, trong các Giáo huấn của Giáo hội, của tiếng nói lương tâm, của những người khôn ngoan đạo đức, của ông bà cha mẹ …
Chính khi tuân giữ “Lời Người” chúng ta thực sự gặp gỡ được Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta, từ đó chúng ta sẽ được biến đổi dung mạo như cuộc Hiển dung của Chúa Giêsu. Thật vậy, chúng ta sẽ lột bỏ được con người ích kỷ hẹp hòi, chất chứa thù hận, ganh ghét, tham lam, chúng ta thực sự mặc lấy dung mạo của người con Thiên Chúa. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI. trong Thông điệp “Deus caritas est” (Thiên Chúa là Tình yêu) đã trình bày: “trong quá trình gặp gỡ nầy một điều cho chúng ta thấy rõ là tình yêu không phải chỉ là cảm xúc. Cảm xúc đến rồi đi. Một cảm xúc có thể là một tia sáng loé lên huy hoàng lúc đầu, nhưng nó không phải là sự viên mãn của tình yêu. …. Sự tiếp xúc với những biểu thị hữu hình của tình yêu Thiên Chúa có thể đánh thức trong chúng ta một cảm giác hân hoan xuất phát từ cảm nhận mình đang được yêu. Nhưng cuộc gặp gỡ này cũng thu hút cả ý chí và trí tuệ của chúng ta. Nhìn nhận Thiên Chúa hằng sống là một con đường hướng đến tình yêu, và lời ‘xin vâng’ của ý chí chúng ta trước thánh ý Ngài sẽ kết hiệp trí tuệ chúng ta, ý chí chúng ta và những tình cảm của chúng ta lại trong hành vi ôm trọn tất cả của tình yêu. Nhưng tiến trình này luôn luôn bất tận; tình yêu không bao giờ ‘hoàn tất’ và hoàn toàn; suốt đời, tình yêu thay đổi và trưởng thành, và qua đó luôn trung tín với chính mình.” (Số 17) Từ đó, việc “vâng nghe lời Người” tiếp thục được thể hiện qua việc thực hiện lệnh truyền: “các con hãy yêu thương nhau” (Ga 15, 12). Khi thực hiện lệnh truyền yêu thương nầy, chúng ta tìm thấy bản chất thần linh trong sự hiện hữu của mình, tìm thấy hình ảnh Thiên Chúa nơi mình, vì “nếu anh em giữa các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15, 10).
Sự Hiển Dung của Chúa Giêsu trên núi Tabor là dấu chỉ của niềm hy vọng và cũng là lời mời gọi chúng ta bước vào cuộc hành trình trở về với chính mình, một thụ tạo được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, và được trao ban cho sự sống thần linh. Sự trở về nầy được thực hiện trong từng giây phút của cuộc sống thường nhật bằng một thái độ đáp trả chân thành trước lời mời gọi của Đấng yêu thương, và như thế cuộc trở về chính là “biến đổi từng ngày phàm nhân thành ngày ân sủng” (Karl Rahner), biến những đau khổ thành niềm hoan lạc vinh quang, biến những khước từ thành sự chiến thắng khải hoàn, biến những mất mát vì tình yêu Chúa thành kho tàng bất diệt và như tthế chúng ta đang thực sự biến đổi dung mạo của thân phận bụi tro thành dung mạo chói ngời vinh quang Chúa.
Lm Hà văn Minh