Chút suy tư về huyền nhiệm làm người.



Cuộc sống con người là một trong những huyền nhiệm đối với chính con người. Con người không hiểu hết về chính thực tại làm người của mình. Con người lại càng không thể thấu hiểu và chắc chắn con người sống để rồi đi đâu và về đâu. Con người chỉ biết sự sống trong thân xác con người là một sự sống mà con người đón nhận từ một ai khác. Con người với nhãn quan và khả năng lí trí sớm hay muộn sẽ nhận thức được cuộc sống mình đón nhận để làm người sẽ có một hồi kết. Có một điều mình nhiên đối với con người chính là thân phận con người có bước khởi đầu và hồi kết lúc nào không đoán trước được. Ðó chính là một huyền nhiệm khác nữa về chính con người. Dường như đối với con người, không có gì là trường tồn, không có gì là vĩnh cửu, không có gì là bất diệt trong con người. Huyền nhiệm con người là thế. Nhưng còn hơn thế nữa.

Chính vì việc làm người có một bước khởi đầu, cụ thể là việc ra đời từ cung lòng người mẹ và một đoạn kết không thể tránh đối với cuộc sống con người, đó chính là sự chết, nên con người không phải lúc nào cũng sống vô lo về ý nghĩa cuộc sống làm người trên thế gian. Phải chăng con người đón nhận sự sống để rồi sẽ không còn là gì nữa một khi đạt đến hồi kết. Cuộc sống có hay chăng chỉ tạm bỡ thế thôi? Phải chăng cuộc đời làm người sẽ không là gì nữa khi tiến đến cái đích của hồi kết như hồi kết của một truyền thuyết hoang tưởng? Hay là sau hồi kết còn chứa ẩn một sự kế tiếp nào đó của sự sống mà con người chưa có khả năng nhận ra do giới hạn của khả năng thẩm định tự nhiên nơi con người? Ðó còn là một điều huyền nhiệm nữa được đặt ra cho con người.

Quan niệm của con người về con người như thế nào cũng luôn là một điều không ngừng xuất hiện những cái mới. Ðiều đó chứng tỏ huyền nhiệm về con người là cái gì đó không bao giờ được khám phá một lần cho mãi mãi. Huyền nhiệm về sự thật làm người của sự sống con người là một thực tế không ngừng được khám phá theo thời gian và nó không bao giờ bị cạn kiệt. Mỗi nền văn hóa chắc chắn có nét đặc thù trong lối khái niệm về con người, về nguồn gốc con người, về ý nghĩa của sự hiện hữu của con người. Thế nhưng, có lẽ vấn đề con người quan tâm nhiều hơn cả là muốn biết có hay chăng một sự thật mang tính hoàn vũ về sự thật con người, về ý nghĩa của sự sống con người, vân vân. Về vấn đề này, trong triết học có quan niệm riêng, trong các tôn giáo có cách nhìn nhận riêng, chẳng hạn trong ki tô giáo, những điều huyền nhiệm trên đây liên quan đến cuộc sống con người được chú tâm cách đặc biệt.

Trong cuộc sống, từ lâu thực tại cuộc sống đã khiến cho con người bị thôi thúc đi tìm lời giải đáp cho những vấn đề liên quan đến chính con người. Tại sao một người sinh ra, lớn lên, già nua, ốm đau, rồi chết đi? Những sự thật rành rành như thế đã từng làm chao đảo con người với cái tên gọi quen thuộc ngày nay trong Phật Giáo là Boudhha. Cái tên này chứa ẩn ý nghĩa là người được thức tỉnh. Ðúng thế, ông bị đánh động để rồi thức tỉnh lên đường muốn đi tìm lời giaỉ đáp thỏa đáng cho những vấn đề hiện sinh của con người. Trong các tôn giáo độc thần lớn như Do Tháo Giáo, Ki Tô Giáo, con người cũng chất vấn nhiều về chính con người. Con người vật lộn không ít với đau khổ, với bất hạnh, với niềm khát khao mưu cầu hạnh phúc, với thiện ý tìm ra con đường dẫn đến ánh sáng chỉ cho thấy mục đích và ý nghĩa làm người. Con người là gì? Chúng ta suy nghĩ đến thánh vịnh số 8 trong Thánh Kinh làm ví dụ minh họa cho thắc mắc của con người về con người. Ðối diện với huyền nhiệm về chính mình, con người kêu lên Chúa như thể mong chờ Người cho lời giải thích. Vâng, con người là gì mà cần phải được yêu thương? Con người phải chăng chỉ là bụi đất? Con người phải chăng chỉ là làn gió thoảng? Con người phải chăng chỉ là lời gian dối? Ðời người chỉ như cát dã tràng thôi chăng? Nếu thế, thì sự chết định đoạt tất cả cho con người? Nếu thế, sự chết chiếm đoạt tất cả của con người sao? Nếu thế, sự chết là lời cuối cùng của con người ư? Sự sống được yêu thương, được nâng niu, được trân trọng lại có thể bị cái chết vùi dập tất cả được sao? Con người có chấp nhận cái lô gích là mọi thứ đều “kết thúc” với cái chết không? Sự sống hiện tại trong thân xác con người đã là tất cả chăng?

Trong suy tư triết học, Epicure đưa ra một lập luận thật đơn giản: “khi tôi sống, tôi không chết. Khi tôi chết, tôi không còn sống nữa”. Như vậy, theo ông, cuộc sống hiện có là tất cả đối với con người. Sự chết sẽ đồng nghĩa với sự thật phũ phàng mất đi tất cả. Chết thế là hết. Con người không còn gì nữa khi chết đi. Có người còn cho rằng sự chết không thể là một sự kiện của sự sống, rằng sự chết không thể được sống. Nếu sự chết không thể là đối tượng của cuộc sống hiện hữu, thì con người cũng không thể nói về sự chết, và cũng không thể đề cập đến cái gì đó có lẽ đến sau đó. Theo quan điểm này, cái gì không thể đề cập đến thì tốt hơn là không nên nói đến. Lí do là trong cuộc sống này, con người không có nhìn nhận nhảy cảm nào liên quan đến khả năng về một thế giới bên kia của sự chết, và còn vì lí do những nhìn nhận siêu tâm lí khó có thể chứng minh được. Như thế, ý tưởng về sự chết và sự sống sau sự chết xem ra mập mờ và có thể làm cho con người quên đi cuộc sống hiện có, quên đi những vui thú, những gánh nặng hiện tại. Ý tưởng đó cũng có thể biến cuộc sống hiện tại thành một nơi hoán chuyển đến một cuộc sống khác ở thế giới bên kia, và như thế sẽ làm cho cuộc sống hiện tại mất đi bản chất. Ý nghĩ như thế còn có khả năng làm cho con người quay lưng lại với tình yêu cuộc sống hiện tại và hướng đến một cuộc sống nơi thế giới khác chưa biết đến. Ý tưởng về sự chết và sự sống sau khi chết cũng có thể sinh ra thuyết định mệnh và sự hững hờ nơi con người, đến mức có thể làm cho con người chỉ sống nửa chừng cuộc sống vốn có, khiến cho con người sống trong ý nghĩ là thỏa mãn “chịu đựng” và “sống sót” vì một cuộc sống bên kia. Ý nghĩ về sự sống sau sự chết có thể có hậu quả là con người sống không hạnh phúc và thất vọng vì đau khổ và lãng phí mọi kho tàng trên trời.

Theo lập trường trên về sự chết và sự sống, con người tốt hơn nên định hướng cho cuộc sống như thế nào? Có lẽ con người ta nên sống cuộc sống mỗi ngày như thể sự chết không tồn tại, sống và yêu quí cuộc sống hôm nay và bây giờ không chút nghi ngại, như thể sự chết thực sự là “hồi kết của mọi sự”. Ý nghĩ rằng cuộc sống này chỉ là bước chuẩn bị đến thế giới bên kia là một lí thuyết phủ nhận sự sống. Ý nghĩ đó trái ngược với “Thiên Chúa hằng sống”, Ðấng “yêu sự sống”.

Trong cuộc sống, ai đó đã suýt chết và đã thoát khỏi nguy hiểm cửa tử thì biết rằng mình đã được “trở lại với sự sống” và như vậy có cảm giác được sinh ra một lần nữa. Kinh nghiệm đó sẽ giúp cho người đó nhìn nhận về cái đặc thù và cái đẹp của cuộc sống này, ý thức mạnh mẽ hơn bao giờ hết về cuộc sống. Trong trường hợp này, ý nghĩ về sự chết và sự sống sau khi chết lại không nhất thiết làm con người quay lưng với cuộc sống, nhưng trái lại, ý nghĩ đó có thể tạo thêm chiều sâu cho cuộc sống hiện tại và còn có thể làm cho con người sống hiện diện trong cuộc sống hiện tại cách đầy đủ hơn, đỡ lạnh lùng hơn, có khả năng yêu thương hơn.

Ðẩy lùi mọi ý nghĩ về sự chết và sống như thể chúng ta có thời gian vô tận làm cho con người trở nên nông cạn và hững hờ trong cuộc sống. Trong sâu thẳm lòng mình, con người biêt rằng sự chết có thể đến bất cứ lúc nào mỗi ngày. Nhưng con người lại sống với ý thức bị vùi lấp về sự chết, điều đó có nguy cơ làm cho con người sống không có tiếp cận với thực tại này.Cái ý nghĩ sống không có sự chết và lí thuyết cho rằng sự chết sẽ không phải là một sự kiện của cuộc sống cũng gây nên việc phủ nhận cuộc sống và thể hiện sự dối trá phi tôn giáo. Như thế thì trái ngược với kinh nghiệm thực về cuộc sống, bởi mỗi người thừa biết rằng cuộc sống có hạn. Sống như thể sự chết không tồn tại là một ảo tưởng về cuộc sống. Bất cứ con người nào sống có ý thức thì đều có khả năng nhận biết rằng sự chết không chỉ là một sự kiện của cuộc sống, mà còn là một sự kiện quan trọng của cuộc sống hiện tại. Mọi cách nhìn nhận cuộc sống nhất thiết kéo theo việc nhìn nhận sự chết nơi cuộc sống con người. Theo lập trường này, liệu con người có đi theo ý tưởng của Epicure về việc tạo khoảng cách rõ ràng giữa sự sống và sự chết, cái khoảng cách cho rằng đã là sự sống thì không có sự chết, đã là sự chết thì không thể có sự sống. Ðiều này xem ra khó chấp nhận với con người ngày nay, bởi hơn bao giờ hết, trong cuộc sống, lương tâm con người luôn có ý nghĩ về vấn đề sự chết. Con người thời Trung Ðại đặc biệt khiếp sợ cái chết thình lình vì lí do là nó sẽ không cho phép con người có thời gian chuẩn bị cho sự kiện đó. Con người thời hiện đại thì lại mong ước cái chết nhẹ nhàng, cái chết không đớn đau; nói cho cùng thì ý muốn này trùng lặp với ý nghĩa của cái chết bất chợt mà con người trung đại không ao ước.

Con người sẽ ra sao, sẽ sống như thế nào một khi trong lương tâm không hề có ý nhgĩ về cái chết nữa? Rất có thể hậu quả là làm cho con người dù sống, nhưng trở nên hờ hững với người khác, hờ hững với chính mình. Con người sống khép kín trong những thành kiến, không chịu làm quen với những kinh nghiệm mới và tự nhốt mình trong không gian như thể sống trong tù ngục. Sống như thể không có sự chết có nguy cơ làm cho con người bị chiếm đoạt cái hạnh phúc đời này. Ðiều đó mở ra cho con người ngày nay hướng đến ý nghĩ mới và khó đi theo quan điểm về cuộc sống không sự chết và về sự chết không sự sống của Epicure.

Ðiều đó dẫn chúng ta đi xa hơn trong suy luận về ý nghĩ đến vấn đề sự sống và sự chết. Sự thật không thể tránh là mỗi người đều trải qua kinh nghiệm mất mát đau thương do sự chết để lại. Con người đối diện với cái chết của người khác và thậm chí sống gần với chính cái chết của con người. Sự thật hiện hiện đó làm nảy sinh nhiều chất vấn hầu như nan giải. Trong con người có bộ phận nào được dành cho sự sống sau khi chết đi? Nói khác đi, bộ phận nào của con người được xem là còn sự sống sau sự chết? Câu hỏi này đưa con người đến với khái niệm nhân loại học. Trong kho tàng trí thức của nhân loại, ắt hẳn nguồn cổ xưa nhất đề cập đến vấn đề này phải kể đến là triết học Hy Lạp cổ. Triết gia Platon trong tác phẩn mang tên Phédon, cung cấp một giải pháp cho vấn đề bằng khái niệm linh hồn bất tử. Theo ông, con người có xác và hồn. Khi con người chết, tức cái chết của thân xác, thì linh hồn tìm được sự giải thoát hay sự giải phóng khỏi tù ngục là thân xác. Thân xác chết đi tạo điều kiện cho linh hồn rời bỏ cái miền xa lạ với chính nó là sự sống hay chết để trở về với quê hương vĩnh cửu của linh hồn. Ðiều này muốn nói rằng linh hồn là bộ phận liên quan đến sự sống sau sự chết. Linh hồn được xem là cái không bị tổn thương vì cái chết của thân xác không dẹp tắt sự sống nơi linh hồn. Biện luận đáng kể nhất của Platon là ông xem sự chết chính là việc chia linh hồn khỏi thân xác, là một sự giải phóng cho linh hồn.

Tại sao Platon quan niệm linh hồn bất tử ? Ðiều này chắc hẳn liên quan đến khái niệm của ông về linh hồn. Linh hồn thuộc bộ phận tạo nên con người. Nhưng sự tồn tại của linh hồn không phải chỉ bắt đầu được hình thành từ lúc thân xác con người được hình thành. Linh hồn tồn tại trước khi con người được sinh ra trong thân xác và linh hồn cũng tồn tại sau cái chết của thân xác. Vì vậy, khi thân xác mất đi, linh hồn vẫn sống mãi. Linh hồn bất tử vì lí do linh hồn không phải được sinh ra như thân xác, bởi vì linh hồn thì siêu việt so với sự sinh ra và sự chết của thân xác, và cũng còn bởi vì trong bản chất, linh hồn không bị sự sống và sự chết của thân xác tác động. Linh hồn chính là mặt của con người hướng về đấng thần linh luôn tồn tại. Vì linh hồn không sinh ra, nên nó cũng không thể chết. Cái chết chỉ chạm đến cái phải chết, còn cái bất tử vẫn cao hơn sự chết đánh dấu giới hạn của thân xác.

Học thuyết của Platon về sự bất tử của linh hồn không phải là học thuyết về “sự sống sau cái chết”, nhưng là học thuyết về đặc tính thần linh của con người ở bên kia sự sinh ra làm người và sự chết nơi thân xác. Trong cái chết của thân xác, cái không thể chết cũng là cái không sinh ra trong sự sinh ra thân xác, và cũng là cái không sống trong sự sống của thân xác. Chỉ cái không sống theo sự sống thân xác mới không thể chết theo thân xác. Bởi vậy, vì cái chết là sự giải phóng đối với thân xác hay chết, nên sự chết là tiệc mừng của linh hồn. Khi thân xác chết đi, linh hồn ăn mừng niềm vui trở về quê hương vĩnh cửu. Như vậy, cái chết là người bạn tốt nhất của linh hồn.

Nỗ lực phân tích vừa rồi về học thuyết trong tư tưởng triết học của triết gia Platon dù sao cũng để lại cho con người nhiều thắc mắc. Liệu con người có thể nghĩ đến một sự tồn tại của linh hồn con người không thân xác tiếp tục tồn tại sau cái chết của thân xác? Cho dù sự tồn tại đó có thể, vậy thì làm sao có thể hình dung một thần khí hay linh hồn con người không bộ não hay không có thực tại thân xác tương đương, nếu không phải sự tồn tại đó chỉ là một điều trừu tượng. Linh hồn không thân xác thì không thể khái niệm được trong những điều kiện suy nghĩ thuộc thân xác.

Trong văn hóa đông phương, một trong những nét thú vị là thuyết luân hồi hay còn gọi là thuyết hóa kiếp sau khi con người chết đi. Sự chết của một ai đó không hoàn toàn đồng nghĩa với sự mất đi sự sống. Người đó vẫn tiếp tục sống bằng nhiều dạng thức khác nhau. Kiếp phàm trần của người đó vẫn tiếp tục trong sinh thể nào đó trong thế giới. Ðiều này chứng tỏ rằng con người không muốn một kết thúc ngắn ngủi bởi cái chết lấy đi tất cả. Con người không đành lòng nhìn sự sống vô nghĩa.

Chúng ta hãy chuyển cái nhìn một cách khác về sự sống bằng cách nhìn nhận sự sống con người là sức sống, khi xem sức sống con người là hữu thể được quan tâm đến. Quan tâm đến sự sống hay cuộc sống, điều đó chúng ta gọi là tình yêu. Như thế, cái nhìn mới mà chúng ta muốn chuyển đến trên con đường tìm hiểu về huyền nhiệm cuộc sống, sự sống con người sẽ xoay quanh hai chữ “tình yêu”. Lập trường mới này với ý tưởng nòng cốt cho rằng sự sống thật của con người là bởi tình yêu mà ra, sự sống thật của con người thì sống động nhờ tình yêu và làm cho những sự sống khác cũng trở nên sống động nhờ tình yêu. Như vậy, ở đây đặc tính thật của một con người cốt yếu trong tình yêu. Linh hồn hay thần trí vì vậy không còn là cái tồn tại cách trừu tượng khi chúng ta tách rời trong ý nghĩ những gì là thân xác, nhưng ở đâu có tình yêu thì ở đó có sự hiện hữu của linh hồn. Ở đây, câu hỏi con người quan tâm sẽ không phải nhằm để biết bộ phận nào trong con người sẽ được xem là bất tử nữa, nhưng đúng hơn muốn tìm hiểu xem tình yêu là nguồn sự sống của con người có tồn tại luôn không. Làm thế nào chúng ta có thể dấn thân thực sự trong cuộc sống với những xung đột, những đau khổ, những thất vọng, nếu như chúng ta không cho rằng tình yêu có thể tiện lợi hơn sự chết, nếu như con người không tuyên xưng sự sống trong từng giây phút của cuộc sống, và nếu như con người không đứng lên đấu tranh trước những sức mạnh và những điều kiện làm nảy sinh sự chết.

Con người trong ki tô giáo có một quãng thời gian ưu tiên cho việc ý thức cách đặc biệt đến cái huyền nhiệm liên quan đến chính con người và sự sống con người. Ðiều thú vị khi chúng ta đề cập đến tình yêu như nguồn phát sinh sự sống chính là ở chỗ trong ki tô giáo tình yêu mang một cái tên cụ thể: Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu và chính Người là Ðấng sáng tạo và ban sự sống cho con người. Cái lô gích nội tại của tình yêu luôn là sự sống hay sức sống. Nếu như khái niệm về một linh hồn bất tử là hoa quả có được, là niềm xác tín có được từ những suy tư của con người thuộc phạm trù lí lẽ, thì việc con người nhìn nhận Thiên Chúa là Tình yêu, là tác giả của sự sống con người lại thuộc về phạm trù khác, đó là phạm trù đức tin. Con người tin và chấp nhận Thiên Chúa tình yêu tạo dựng và ban sự sống cho mình.

Khái niệm về sự cấu thành con người trong nhân loại học ki ki tô giáo, cụ thể là công giáo dường như vẫn không hoàn toàn bỏ qua cách nhìn của người hy lạp cổ thời Platon. Một trong những giảng dạy cụ thể và gần đây nhất của công đồng Vatican II trong hiến chế “ Niềm vui và hy vọng” có đề cập đến những yếu tố cấu thành con người trong đó hai yếu tố thiêng liêng và vật chất xuất hiện rõ nét: linh hồn và thân xác. “ Con người thì duy nhất với xác và hồn » (số 14). Thế nhưng, quan niệm mang tính hai mặt về con người theo giảng dạy của công đồng công giáo không nên hiểu theo nghĩa của thuyết nhị nguyên như trong học thuyết của triết gia Platon. Tính hai mặt trong con người với hai yếu tố xác và hồn không đồng nghĩa với thuyết nhị nguyên trong triết học vì xác tín của công đồng nói nói rõ rằng con người duy nhất.

Giảng dạy của công đồng còn đề cao phẩm giá của con người với niềm tin rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Cái phẩm giá của con người đặc biệt nằm ở chỗ con người được tạo dựng trong tự do làm con. “ Vậy con người là gì? Con người đã và còn đang đưa ra nhiều quan niệm về chính mình, những quan niệm khác nhau và đôi khi trái ngược nhau. Theo những quan niệm đó, thường con người tán dương mình như một mẫu mực tuyệt đối hay lại chê bai đến độ tuyệt vọng, từ đó con người hoài nghi và lo lắng. Thông cảm sâu xa được những khó khăn này, Giáo Hội, vì được Thiên Chúa là Ðấng mạc khải dạy dỗ, có thể đem lại câu giải đáp cho những khó khăn ấy, nhờ đó diễn tả được thân phận đích thực của con người, giải bày những yếu hèn, đồng thời có thể nhìn nhận xác đáng phẩm giá và thiên chức của con người. Thực vậy, Thánh Kinh dạy rằng con người đã được tạo dựng "theo hình ảnh của Thiên Chúa" có khả năng nhận biết và yêu mến Ðấng Tạo Dựng mình, được Ngài đặt làm chủ mọi tạo vật trên trái đất để cai trị và sử dụng chúng mà ngợi khen Thiên Chúa” (số 12).

Con người vì vậy được mời gọi để nhận biết phẩm giá của con người và sống theo phẩm giá hình ảnh Thiên Chúa. Con người cũng được mời gọi để nhận ra thế giới trong đó con người sống và cả con người đều được Thiên Chúa tạo dựng nên. Tất cả những gì cấu tạo nên con người là nhờ hành vi tự do sáng tạo của Thiên Chúa. Nét độc đáo trong quan niệm ki tô giáo về việc cấu tạo con người là ý muốn làm nổi bật mối liên kết chặt chẽ giữa hồn và xác. Hồn và xác không còn là hai yếu tố đơn lẻ, nhưng chúng tạo nên con người duy nhất bởi vì nơi hồn và xác có mối tương quan nội tại không thể thiếu. Linh hồn trong con người không những được xem là nguyên lí của tự do, mà nó còn liên kết một cách nội tại với thân xác.

Trong truyền thống ki tô giáo, yếu tố thiêng liêng linh hồn thường xuất hiện là trở nên một phần không thể thiếu trong di sản giảng dạy, đến mức có người có xu hướng cho rằng cao điểm trong nội dung của Tin Mừng chính là sự bất diệt của linh hồn. Thế nhưng, ý nghĩ ấy cần được xem xét lại nhiều hơn nữa, bởi vì con người thì duy nhất với xác và hồn, bởi vì nội dung của thông điệp Tin Mừng liên quan đến con người trong tính toàn thể về con người, chứ không chỉ riêng về một yếu tố linh hồn. Ngày nay hơn bao giờ hết, có nhiều khám phá mới về chủ đề này. Ðặc biệt, con người đáng khám phá lại cái giá trị của thân xác. Có lẽ bởi vì con người đương đại có phát hiện mới về tầm quan trong nơi thân xác và dành cho nó sự tôn trọng và qua đó đặt vào thân xác một bậc thang giá trị mới hơn. Ðiều đó cũng có nghĩa rằng cuộc sống con người đang được mặc lấy một chiều kích thân xác. Việc đề cao không kém giá trị của thân xác giúp cho con người ngày nay không quá theo xu hướng tuyệt đối hóa hay đề cao quá mức vị trí của linh hồn so với thân xác.

Nhận thức mới mẻ như vậy về tầm quan trọng và giá trị của thân xác cũng chứng tỏ con người đang có những khám phá mới về Kinh Thánh. Kinh Thánh không nói về tính bất diệt của linh hồn được tách khỏi thân xác, cũng không nói về sự sống lại của thân xác được phân biệt khỏi linh hồn, nhưng Kinh Thánh đề cập về sự sống lại của thân xác với linh hồn. Cái nhìn này đánh dấu nét độc đáo so với khái niệm trong tư tưởng triết học hy lạp của Platon mà chúng ta đã bàn đến ở trên. Linh hồn không còn là “tù nhân” của thân xác, và thân xác cũng không phải là “nhà tù” giam hãm linh hồn. Sự sống bất diệt không chỉ là sự sống thần linh của linh hồn hoàn toàn độc lập với sự sống thân xác, mà là sự sống của xác và hồn. Trong viễn cảnh mới mẻ này, không thể tưởng tưởng một lập trường thiên vị về một yếu tố linh hồn hay thân xác, mà đúng hơn là cần xây dựng một lập trường cách hài hòa sao cho nó phù hợp với niềm hy vọng trong đức tin.

Niềm xác tín về linh hồn bất diệt không những hoàn toàn có thể được con người trong ki tô giáo đề cao và chấp nhận, mà nó còn được mặc thêm một chiều kích mới hàm chứa ý nghĩa rộng lớn hơn. Niềm hy vọng trong ki tô giáo vào sự sống vĩnh cửu nói đến sự bất diệt của con người bao gồm chiều kích vật chất là thân xác và chiều kích thiêng liêng là linh hồn. Sự sống bất diệt mà niềm hy vọng hướng tới chính là hy vọng vào sự bất diệt của con người, tức là liên quan đến tất cả những gì cấu tạo nên con người ngay từ công trình tạo dựng nên nó bởi Thiên Chúa. Một nguyên do sâu xa nữa cho phép con người ki tô giáo không phủ nhận niềm xác tín về con người bất tử liên quan đến hành động cứu độ của Thiên Chúa. Con người bất tử là nhờ Thiên Chúa hành động làm cho con người sống. Con người không phải tự nó bất diệt. Niềm hy vọng của con người trong đức tin ki tô giáo mang nét đặc thù rằng uy lực thần chết không thể vùi dập con người và sự sống con người. Ðức Ki Tô đã chiến thắng tử thần và nhờ đó, con người nhờ niềm tin cũng không còn chết nữa, nhưng sống mãi trong sự sống khải hoàn của Thiên Chúa mà Ðức Ki Tô đã mang lại. Như vậy trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa, Ðấng tạo ra sự sống, con người lớn tiếng tuyên xưng rằng “Tử thần đã bị chôn vùi” (1 Cr 15, 54); rằng “sẽ không còn sự chết nữa” (Kh 21, 4). Vậy nếu như linh hồn có thể thân chào sự chết như một người bạn, vì nó giải phóng linh hồn khỏi thân xác; thì đối với niềm hy vọng vào sự sống lại, sự chết là “thù địch cuối cùng” của Thiên Chúa hằng sống và các tạo vật của Người (1 Cr 15, 26) và thù địch đó đã bị khuất phục nhờ Ðức Ki Tô và trong Ðức Ki Tô.

Cái nhìn trên đây mở ra một chân trời tươi sáng về tương lai của sự sống con người. Chân trời mới này thắp sáng lên niềm lạc quan sống cho con người, tạo thêm niềm tin yêu đời, yêu cuộc sống ngay hạ giới này và không còn sống trong mong mỏi duy nhất vào một sự sống ở thế giới xa xôi đâu đó. Niềm tin của con người vào sự sống vẫn tồn tại sau sự chết, ở đây cụ thể muốn chỉ đến sự sống lại, không đơn thuần hạn hẹp tại một sự sống sau sự chết, mà còn xa hơn thế nữa rất nhiều. Nó còn là một sự kiện của toàn vẹn sự sống. Sau khi chết đi, cái con người hy vọng không thể chết chính là cuộc sống ở hạ giới đã được sống trong tình yêu. Trong tình yêu, con người đi từ sự chết đến sự sống. “Chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống vì chúng ta yêu thương anh em” (1 Ga 3, 14). Sự sống sau sự chết như vậy ở đây không phải liên quan đến việc tư biện về những trạng thái xa vời sau cái chết. Cõi sống nhờ tình yêu người khác này cũng không cất linh hồn khỏi sự sống thân xác. Nói khác đi, linh hồn không phải rút lui khỏi thân xác, nhưng trái lại nó được trao ban cho thân xác và sẽ trở nên người phàm. Linh hồn cũng không được phủ nhận những xúc động, nhưng làm cho chúng nên sống động trong tình yêu. Liên quan đến thân xác, niềm hy vọng vào sự sống không bị chấm dứt với sự chết không cho phép con người coi thường hay đánh giá thấp đời sống thân xác và những kinh nghiệm từ những giác quan nơi con người. Trái lại, con người được mời gọi tôn trọng thân xác vì luôn có sự sống trong nó.

Con người là huyền nhiệm, sự sống con người cũng là huyền nhiệm, ý nghĩa sự sống con người cũng là huyền nhiệm. Chúng ta đã cố gắng đi tìm lời giải đáp thích đáng cho vấn liên quan đến chính con người chúng ta với bao câu hỏi đặt ra. Chúng ta đã ghe thăm nhiều chân trời cho phép chúng ta phân tích và mở ra nhiều không gian và khả năng lập luân giúp vấn đề liên quan đến huyền nhiệm cuộc sống làm người chúng ta được thêm sáng tỏ hơn theo suốt chặng đường đã trải qua. Bài viết này hoàn toàn không có tham vọng đề cập đầy đủ mọi khía cạnh của vấn đề bởi con người luôn luôn và mãi mãi là một vấn đề được đặt ra cho chính con người. Dù thế nào đi nữa, cái nhìn bao quát trong bài viết này hàm rõ ý định về một sự sống không thể bị dẹp tắt. Sự sống phải tồn tại và tồn tại. Có một sự sống mà không thế lực nào có thể diết chết được. Chính sự sống đó làm nên giá trị cao cả của cuộc sống này và làm cho cuộc sống hiện tại được tràn đầy tình yêu giữa con người với nhau. Muốn khám phá cái cao trọng của sự sống, hãy học sống trong tình yêu và hãy học sống yêu thương. Con người không những được mời gọi sống trong yêu thương để có thể đạt đến cõi sống không hề mất, mà con người đã được mở đường để có thể thực hiện lời mời gọi đó như là ơn gọi chung của con người, nhờ một người mang tên Giê Su Ki Tô, Con Thiên Chúa, Ngôi Lời của Thiên Chúa và cũng chính là Thiên Chúa qua mầu nhiệm nhập thể. Chúa Giê Su làm người để mở cho loài người con đường của sự sống bất tận và ngài đã sống trong cuộc sống làm người của ngài. Vì vậy, con người cũng trở nên con đường cho Giáo Hội bước đi.

Tôi muốn khép lại bài viết này với ý niệm con người là đường đi của Giáo Hội: “Giáo Hội không thể bỏ rơi con người, mà « định mệnh », có nghĩa là sự chọn lựa, sự mời gọi, sự sinh ra và sự chết, sự cứu độ hoặc sự chịu hình phạt đời đời, đều liên quan với nhau một cách chặt chẽ với Ðức Ki Tô. Con người đề cập ở đây là mỗi người đang sống trên hành tinh này, trên trái đất mà Tạo Hóa đã ban cho con người đầu tiên, khi Người phán bảo người đàn ông và người phụ nữ : « Hãy thống trị nó ». Con người đươc đề cập đến ở đây chính là con người trong sự trọn vẹn của nó, trong thực tại tuyệt đối duy nhất của hữu thể con người và hành động con người, sự thông minh và ý chí con người, lương tâm và trái tim con người. Con người, trong thực tại riêng biệt của nó (bơỉ vì con người là một « người »), có một lịch sử cá nhân về cuộc đời, và nhất là một lịch sử cá nhân về linh hồn. Con người, đúng theo sự rộng mở bên trong của thần trí và với nhiều nhu cầu khác nhau của cơ thể, của cuộc sống chóng qua, viết ra lịch sử cá nhân qua nhiều mối dây, nhiều tiếp xúc, nhiều tình huống, nhiều cấu trúc xã hội, tất cả những cái đó kết hợp con người với những con người khác; và con người làm việc đó từ khi tồn tại trên trái đất, từ khi đang ở trong thai nghén và khi sinh ra làm người. Con người, trong sự thật trọn vẹn về sự hiện hữu của nó, về hữu thể cá nhân của con người và đồng thời của hữu thể thuộc cộng đồng và và xã hội- trong phạm vi gia đình, trong lòng các xã hội và các bối cảnh rất khác nhau, trong bối cảnh quốc gia hay dân tộc (và có thể là thị tộc hay bộ lạc), ngay cả trong khung cảnh của toàn nhân loại-, con người là đường đi đầu tiên mà Giáo Hội phải đi qua khi hoàn thành sứ mệnh của Giáo Hội : Con người là đường đi đầu tiên và đường đi căn bản của Giáo Hội, đường đi do chính Ðức Ki Tô đã vạch ra, đường đi, một cách không thể thay đổi, đi qua bằng mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc” ( Gioan Phao Lô II, Thông điệp, Ðấng cứu chuộc loài người, số 14).

Tháng 3 năm 2006

Văn Hào