Chúa chết mãi chăng?
« Chúa chết rồi. Chúa vẫn mãi chết. Chính chúng ta đã giết chết Người » (1). Ðó là lời công bố ngoài ngoài phố chợ của một kẻ điên trong tác phẩm « Le Gai Savoir » của triết gia Friedrich Nietzsche. Sự thật về cái chết của Chúa thuộc thành phần căn bản trong đức tin ki tô giáo. Chính cái chết của Chúa tạo nên điều mà người ki tô giáo gọi là nghịch lý, bởi Chúa chết là điều không thể tin, và hơn thế nữa là thực tế không thể chấp nhận. Nếu thế, Ðấng vĩnh cửu lại bị thần chết hủy diệt; Ðấng Hằng Hữu không còn nữa, mà chỉ là đấng hạn hữu. Trong khi sự thật Chúa chết, Chúa của Ki Tô Giáo, là một sự kiện lịch sử, là chiều kích lịch sử tính của đức tin vào Thiên Chúa hằng sống, nhưng vì yêu tạo vật mà Người đã dựng nên và đi đến tận cùng kể cả con đường chết, thì lời của kẻ điên đặt dấu chấm hết tại cái chết bởi vì theo nó « Chúa đã chết và Chúa vẫn mãi chết »(2). Chúa đã chết và mãi chết từ môi miệng một kẻ điên và Chúa nơi Ðức Giê Su với mầu nhiệm khổ nạn, sự chết và sống lại phải chăng là một ?
Trong khi đó, đức tin ki tô giáo không những không phủ nhận sự thật thần chết đã đến với Chúa trong con người Giê Su, hơn thế nữa, cái chết của Chúa nơi Ðức Giê Su mang lại ánh sáng mạc khải giúp những người ki tô hữu đầu tiên trải nghiệm về sự sống vô tận, bất chấp lực hủy hoại của thần chết.
Quả thật, nơi Ðức Giê Su, Chúa chết không phải để chết mãi. Ðức Giê Su mà một số người đã đóng đinh trên cây thập giá, đã chết và được mai táng trong mộ đá không lụi tàn mãi trong thế giới bụi đất hoang vu. Nơi Giê Su, Chúa đã chết và Chúa luôn sống. « Anh em đừng sợ, thầy đã chiến thắng thế gian »(3). Niềm xác tín và tuyên xưng Ðức Giê Su vẫn sống không phải do tính mê tín dị đoan hay tính quồng tín của những người ki tô hữu tiên khởi. Trái lại, họ đã bước đi trên con đường kinh nghiệm. Kinh nghiệm ấy là gì ? Chúng ta cứ gọi đó là kinh nghiệm căn bản ban đầu về sự sống. Ðức tin vào việc Ðức Giê Su chết rồi nhưng vẫn sống như vậy chứa đựng một chiều kích hết sức quan trọng : kinh nghiệm căn bản đầu tiên sau sự kiện Ðức Giê Su sống lại và vẫn còn hiện diện trong cuộc sống thường nhật của những người tin trong các cộng đoàn ki tô giáo tiên khởi. Chúng ta bắt đầu thử xem kinh nghiệm đó như thế nào ? Chúa Giê Su, một người làm việc luôn đầy nhiệt huyết và tình thương. Nhiều người chứng kiến các bệnh nhân được chữa lành. Ai nấy tràn ngập niềm vui lắng nghe lời : « Nước Thiên Chúa đã đến gần »(4). Thực sự dường như sự thay đổi của thế giới và triều đại nước Thiên Chúa đang trông thấy được. Thế là cuối cùng thì nỗi buồn của dân Chúa được biến đổi thành niềm vui. Nhiều người đang trông chờ một sứ giả của Thiên Chúa đứng ra cai quản lịch sử. Nhưng tiếp đó là gì và như thế nào ? Ðúng là nhiều người đau yếu, bệnh tật được lành mạnh trở lại, quỉ bị loại trừ, Tin Mừng được loan báo. Nhưng ngần ấy vẫn không đủ sức thuyết phục dưới mắt nhân trần. Bao thực tế khác còn lại thì vẫn thế. Có gì thay đổi đâu. Dân Rôma vẫn còn đó và cai trị. Gánh nặng của ách đô hộ không hề giảm đi. Cuộc sống vẫn khó khăn mỗi ngày, dầu đã có những dấu chỉ và những lời đẹp đẽ như thế nơi Ðức Giê Su. Và vì thế, niềm hăng say, nhiệt huyết cũng dập tắt, để rồi rút cục, thậm chí các môn đệ của Giê Su cũng đành bỏ Nhà Rao Giảng, bởi xem ra con người này rao giảng, nhưng không thay đổi được thế giới này.
Kinh nghiệm về cái chết và sự sống lại của Chúa Giê Su không phải là kinh nghiệm xuất phát từ nỗ lực tìm hiểu và suy tư của chủ quan con người, mà là một kinh nghiệm xuất phát từ một hành trình đức tin lâu dài trải qua bao nhiêu thế hệ. Cái kinh nghiệm về sự sống nơi Ðức Giê Su dù trải qua con đường chết, Thiên Chúa của Giao Ước và mạc khải qua dòng lịch sử của dân, là một hậu quả tất yếu của Vị Thiên Chúa hằng sống. Những ki tô hữu tiên khởi đã hoàn toàn không bịa đặt ra kinh nghiệm đó. Nơi Ðức Giê Su, Chúa chết và sống lại tuyệt đối không phải là một giả sử thuyết của tư duy con người. Cái kinh nghiệm nền tảng về những gì đã xảy đến với Giê Su trong đau thương không phải một kinh nghiệm bộc phát khi Giê Su đồng hành với dân chúng. Không ai hiểu được ý nghĩa của những điềm thiêng, dấu lạ, những việc lành Giê Su đã làm, kể cả những giảng đạy đơn sơ nhất của Người. Ðược nghe, được nhìn, nhưng vô tri, thì làm sao có thể nắm bắt được chút kinh nghiệm về điều gì đó. Tuyên xưng Giê Su đã chết lại càng không phải là một ảo tưởng thuyết, cũng không phải là một lí thuyết siêu nghiệm trong triết học.
Sau sự kiện ngôi mộ trống (5) làm xôn xao dư luận trong dân, những việc Giê Su đã thực hiện mới bắt đầu được nhìn lại dưới góc độ và chân trời mới. Thế là một luồng khí mới đang bắt đầu được thổi vào tâm trí họ nhờ sự xuất hiện và đồng hành của Giê Su phục sinh. Bóng tối che phủ bâý lâu đang dần nhường chỗ cho ánh sáng phục sinh để dẫn những người tin bắt tay vào một công việc mới : công việc chú giải về Lời Chúa trong Thánh Kinh và đối chiếu với cuộc đời con người Giê Su. Kinh nghiêm căn bản này đã giúp họ nhìn nhận ra rằng những gì đã được tiên báo trong Thánh Kinh Cựu Ước qua bao thế hệ ngôn sứ, nay đã được thực sự ứng nghiệm (6) nơi cái chết và sự sống lại của Ðức Giê Su.
Thế là cuôc đời và sự nghiệp truyền giáo của Giê Su đã được nhìn và đón nhận theo một chiều kích mới. Những người tín hữu tiên khởi đón nhận ơn hiểu biết mới trong Thánh Thần (7) được sáng mắt hơn về nhiều điều. Công việc chú giải vì vậy dẫn họ trở về với sự kiện làm người của Ðức Giê Su. Khi Giê Su còn sống, quả thật, việc nhập thể của Con Thiên Chúa, tức Giê Su, chưa bao giờ mở ra nơi họ ý nghĩa sâu xa như bây giờ. Họ đang dần dần hiểu hơn rằng việc nhập thể của Thiên Chúa nơi Giê Su trước hết nói lên quan hệ của họ với Thiên Chúa, ý nghĩa của thái độ họ với Thiên Chúa. Bây giờ họ mới hiểu rằng nơi Ðức Giê Su, Thiên Chúa làm người, là một cách Thiên Chúa chọn để ra khỏi chính hữu thể Người, đã xuống và đi vào trong xác phàm (8). Nay họ hiểu rằng Thiên Chúa không sống trong thế giới ý tưởng thuần khiết; nơi Ðức Giê Su làm người, Thiên Chúa không bị chia cách bởi vực thẳm của thế giới và vật chất như thế giới ý tưởng trong triết học Platon.
Như vậy, chìa khóa chú giải mới tìm được nơi Ðức Giê Su chết và sống lại mang lại cho họ cái nhìn mới về Thiên Chúa. Cái mới đó cốt ở chỗ nào ? Là thế này, Thiên Chúa của người ki tô hữu, Thiên Chúa làm người, không phải là một Thiên Chúa của thế giới khác, mà đúng là Thiên Chúa của thế giới này. Nước Trời được Ðức Giê Su loan báo thực ra là một hành động của Thiên Chúa liên quan đến thế giới này, chứ không phải một địa điểm ở bên kia thế giới bên kia xa vời.
Công việc chú giải mới vì vậy ngày càng tạo thêm độ vững chắc cho đức tin. Thời dân Rôma cai trị dân của Thiên Chúa, thập giá là cao điểm của án phạt cực hình đáng ghê tởm nhất. Thập giá là dấu chỉ của án tử. Thập giá là tiếng nói công khai của mọi ruồng bỏ, mọi hằn thù của đa số đối với thiểu số. Nói tóm lại, thập giá là tiếng nói cuối cùng của một cuộc đời. Thế nhưng, với Giê Su, cũng chính thập giá tử hình đó được mặc lấy giá trị mới, giá trị cứu chuộc. Chính vì vậy, những người tin ngay từ lúc sơ khai đã không thể và không muốn bỏ đi tai tiếng ô nhục của thập giá. « Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Ðấng Ki Tô bị đóng đinh, điều mà Người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ » (9)
. Giáo Hội ngay nay lại càng không thể che dấu hay từ bỏ sự kiện thập giá khi nói về cái chết của Ðức Giê Su. Ðơn giản nếu bỏ sự kiện thập giá, sẽ đồng nghĩa với việc dẹp bỏ chính ki tô giáo. Ý nghĩa cái chết trên thập giá của Ðức Giê Su chỉ thực sự được khám phá sau khi cũng chính con người Giê Su xuất hiện trở lại. Bây giờ, nhiều người bắt đầu thấu hiểu rằng Thiên Chúa vĩnh cửu chăm lo đến loài người. Thiên Chúa lo cho chúng ta và biết chúng ta. Ðấng vốn không thể nắm bắt được lại trở nên nắm bắt được trong con người Ðức Giê Su. Ðấng bất tử lại đã đau khổ trên thập giá. Sự sống lại và sự sống đời đời lại có thể được hứa ban cho chúng ta, vốn phải chết.
Tuần thánh dẫn người tín hữu trở về lại với kinh nghiệm nền tảng của đức tin mà chúng ta mới đề cập đến. Ðó là một việc hết sức quan trong để tái khám phá thông điệp của Ðức Giê Su. Dụ ngôn người gieo giống (10) là một ví dụ cho quá trình ôn lại thông điệp mà Ðức Giê Su muốn mang lại cho con người. Hạt giống cũng như Lời của Người, cũng như những phép lạ chữa lành bệnh tật chỉ là một điều nhỏ nhoi so với thực tế chính trị và lịch sử. Như hạt giống bé nhỏ, đáng khinh khi, thì Lời cũng vậy. Thế nhưng trong hạt giống, tương lại hiện diện, bởi vì hạt giống mang trong nó bánh của ngày mai, cuộc sống của ngày mai. Hạt giống dường như chẳng đáng gì, và thế nhưng hạt giống lại là sự hiện diện của tương lai và tương lai đó hiện diện ngay hiện tại này. Quá đó, dụ ngôn người gieo giống mở ra điều này là chúng ta đang ở trong thời kỳ gieo vãi, Lời Chúa có vẻ chỉ là một lời tầm thường đến mức hầu như không được xem ra gì. Nhưng hãy can đảm bởi Lời Chúa mang sự sống trong nó và mang hoa trái nữa.
Dụ ngôn hạt giống rơi xuống đất, chết đi và sinh nhiều hoa trái như một tấm màn được mở ra giúp chúng ta hiểu về Ðức Giê Su. Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không chết đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình. Nhưng nếu nó rơi xuống đất, chết đi, nó sẽ mang nhiều hoa trái. Tuần thánh dẫn chúng đi vào con đường đưa Ðức Giê Su đến cái chết trên thập giá. Ý nghĩa cái chết của Người sẽ được sáng tỏ hơn, khi chúng ta nhận ra hạt lúa mì chết đi sinh nhiều hoa trái ấy chính là Ðức Giê Su. Khi bị treo trên thập giá, tất cả dường như đã tan hoang, nhưng lại chính vì thế mà khi rơi xuống đất, khi chết đi, khi ở trên Con đường Thập Giá, là lúc Ðức Giê Su mang lại hoa trái cho mọi thời đại. Ðó là một cách chú giải theo chiều kích ki tô, theo đó chính Ðức Ki Tô là hạt giống, là Nước trời hiện diện. Chúng ta cũng có thể có một chiều kích chú giải mang tính thánh thể : hạt lúa mì rơi xuống đất và thế là tấm bánh mới lớn dần, bánh sự sống tương lai. Thánh Thể nuôi dưỡng chúng ta và mở chúng ta đến với những mầu nhiệm của Thiên Chúa vì sự sống đời đời.

Chúa đã chết rồi chăng? Phải, đó là một sự thật không thể chối bỏ. Chúa chết không phải do ý muốn và sức mạnh bạo lực của con người. Ðiều khẳng định Chúa chết của đức tin ki tô giáo không phải là lời mông lung của một kẻ điên đi tìm Chúa ở đầu đường xó chợ mà triết gia Nietzsche đã tạo dựng nên trong tác phẩm của ông. Chúa chết không phải là sự kết liễu một dòng tư tưởng siêu hình trong triết học để tìm cách chuyển sang một trào lưu mới. Chúa chết nơi Ðức Giê Su không phải là Chúa của siêu hình học. Bởi Chúa của đức tin ki tô giáo là nguồn gốc và cùng đích mọi loài, là sự sống nhờ đó mới có mọi sự sống khác.
Chúa của suy tư triết lí là sản phẩm của loài người và con người có quyền đặt tay làm gì lúc nào tùy ý lên sản phẩm đó. Nhưng Ðấng là Alpha và Omêga (11) của mọi loài thụ tạo là Ðấng Tự Hữu. Ðấng ấy có thể chết là vì tình yêu Người dành cho loài người đến tận cùng. Ðấng Hằng Sống có thể chết được cũng vì đã chấp nhận thoát khỏi chính mình, hạ mình xuống hạ giới, mặc lấy kiếp phàm trần. Ðiều đặc biệt nữa là sự sống của Thiên Chúa nhập thể nơi Ðức Giê Su không ai có thể lấy đi, nếu như không phải chỉ có tự do của Con Người tự ý trao ban vì sự sống của mọi người. Khi còn sống Ðức Giê Su đã nói rằng sự sống của Người không ai có quyền lấy đi, duy chỉ có Người mới được phép cho đi và lấy lại.
Nơi Ðức Giê Su, Chúa đã chết một lần cho mãi mãi, chứ không chết mãi mãi bởi sức mạnh tử thần đã bị đánh bại bởi sức mạnh sự sống đời đời của Thiên Chúa bằng việc sống lại. « Một khi Ðức Ki Tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống là sống cho Thiên Chúa » (12). Nói khác đi, công trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa được thực hiện một lần là đủ bằng cái chết của Con Một Yêu Dấu trên giá gỗ. Chính vì giá trị cứu chuộc ấy mà người ki tô hữu ngày nay vẫn tự hào tiếp bước đi trên Con Ðường Thập Giá và nhất quyết không bao giờ có thể từ bỏ. « Trước cây Thập Giá có hàng chữ « này là vua Do Thái », mọi người thất vọng, bởi vì con người muốn có một vị vua theo ý riêng của mình. Tuy nhiên, đó lại là con đường Chúa đã chọn. Từ nay, chúng ta không có quyền áp đặt những suy nghĩ, những ý tưởng của con người để gán cho Thiên Chúa; chúng ta cũng hết khép kín hay giới hạn Thiên Chúa trong những suy nghĩ hạn hẹp của người trần thế; chúng ta không còn quyền dùng sự khôn ngoan của con người để đo lường sự khôn ngoan của Thiên Chúa; …Từ nay, chúng ta tôn trọng quyền tự do của Thiên Chúa, khi tôn trọng quyền tự do của người khác » (13).
Tuần thánh 2006
---
Chú thích
(1) Friedrich Nietzsche, Le Gai Savoir,
(2) Xh 3, 13; Ga 14, 19
(3) Ga 17, 33
(4) Lc 25, 31
(5) Mt 28, 1-7; Mc 16, 1-7; Lc 24, 1-7
(6) Lc 24, 13tt
(7) Cv 2, 1tt
(8) Ga 16, 27-28
(9) 1 Cr 1, 22-24
(10) Mt 13, 18-23; Mc 4, 13-20; Lc 8, 11-15
(11) Is 44, 6; Kh 1, 8
(12) Rm 6, 9-10
(13) Lm F-X Nguyễn Tiến Dưng « Một Vị Vua không ngờ » trong : Báo Dân Chúa Âu Châu, tháng 4 năm 2006.