CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY C

CHÚA ĐANG KHÁT KHAO MONG ĐỢI …

Lc 15, 1 -32.


Thưa quý vị, có ý kiến cho rằng bài dụ ngôn người con hoang đàng của Phúc Âm hôm nay, hỏng bét về mặt pháp lý. Chúng ta phải sửa lưng tác giả mới được. Nếu cứ theo ông khuyên bảo mà mở cửa đón tiếp kẻ giết người, trộm cướp, hoang đàng thì thế giới này sẽ ra sao? Xã hội này còn thể thức nào nữa không? Ngày nào người ta cũng chứng kiến tội phạm ghê gớm vậy mà cứ để cho họ xổng chuồng thì ai còn có thể sống nổi? Xã hội toàn những kẻ đòi quyền lợi mà không hề lãnh trách nhiệm, thì chắc chắn nhân loại rơi vào hỗn loạn. Vậy dụ ngôn này mang giọng điệu quá nhu nhược, làm thế nào chấp nhận?

Chúng ta hãy nghe người con cả lý giải: Cha tôi đối xử với thằng con ông ấy như vậy, chẳng khác nào tát mạnh vào mặt tôi. Nó hoang đàng bỏ đi, tiêu phí hết tài sản với bọn đĩ điếm, rồi trở về ngon lành, không có hình phạt nào cân xứng, thử hỏi gia phong còn giá trị gì nữa không? Nếu ông nhận nó lại như con ăn, đầy tớ, sau khi nó xin lỗi thì còn có lý và chịu đựng được. Tôi sẽ sai nó đi làm những công việc hạ tiện, bẩn thỉu, nặng nhọc, rồi dần dà cho nó chút của cải, địa vị và như vậy tôi mới hài lòng cho phép nó ở lại nhà. Không nên không phải tôi sẽ tống cổ nó ra khỏi cửa, nó đâu có quyền lợi gì nữa? Đàng này cha tôi lại hồ hởi đón tiếp nó, không một lời trách móc, hạch tội. Lại còn mở tiệc vui mừng, bê béo, rượu ngon, quần áo đẹp, nhẫn xỏ tay, giày mới xỏ chân. Ong hành xử cuồng loạn trước mặt nó! Liệu ông có mất trí khôn rồi không? Liệu ông có điên khùng không đấy?

Hơn nữa qúy vị tưởng tượng hạnh kiểm của người con lớn. Anh ta không rơì khỏi nhà, không hề trái lệnh cha, trung thành và chăm chỉ, lao động sớm tối ngoài cánh đồng, không những công việc của mình, mà còn của thằng em vắng mặt. Làm việc cực nhọc năm này qua năm khác mà cha anh không công nhận, không biểu dương, hay chí ít được một lời an ủi: “Tốt quá con à”. Hoặc một chiếc vỗ nhẹ vào lưng, tỏ lòng ưu ái cho thoả tình. Nhưng ông vắng mặt, vắng mặt để làm gì? Để ngày ngày chạy lên đồi cao trứơc ngõ, ngóng trông thằng út hư hỏng? Trời đất, còn bất công nào hơn? Qúy vị tưởng tượng ở trong hoàn cảnh của người con lớn, quý vị sẽ nghĩ sao? Quý vị có cảm thấy bất công và thương hại cho anh ta? Hắn trung thành mà bị coi rẻ. Chắc chắn phản ứng của quý vị sẽ nổi giận bất bình: Như thế là không được, hoàn toàn vô lý, chẳng ai chịu đựng nổi.

Nhiều người có quan điểm như vậy, nhất là trong giới trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm về trường đời. Họ muốn trắng là trắng, đen là đen trong vận hành công lý. Cũng không thiếu những nhân vật trưởng thành suy nghĩ như thế. Nhất là trong giới bảo thủ, cứng nhắc về lập trừơng luân lý, tôn giáo. Thí dụ các Pharisêu, thượng tế, luật sĩ và cả chúng ta nữa. Mặc dù đã được Chúa dạy bảo, đọc và nghe Lời Chúa hằng ngày. Thực ra nếu theo sát hoàn cảnh của dụ ngôn thì người con cả ám chỉ các lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ. Chúng ta cũng có vài nét Pharisêu trong nếp sống hằng ngày. Cũng như Pharisêu, luật sĩ, kinh sư, thượng tế, chúng ta chi ly tuân giữ lề luật Thiên Chúa, nhưng chỉ bề ngoài, không có tình yêu thúc đẩy bên trong.

Nhưng xin nhớ, đây là dụ ngôn Chúa trả lời các người Do Thái chỉ trích Ngài là ăn nhậu và đón tiếp phường tội lỗi: “Các người thu thuế và các người tội lỗi, đều lui tới Đức Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy những người pharisêu và các kinh sư đều thì thầm với nhau: Ong này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”. Đức Giêsu mới kể cho họ nghe dụ ngôn: Người cha có hai người con trai. Như vậy mục tiêu của Chúa không phải là công lý mà là tình thương và ơn tha thứ. Thể hiện nơi hoàn cảnh của ngừơi con thứ. Liệu hắn có còn được hạnh phúc khi tình thế trở nên tồi tệ? Tiền hết, bơ vơ nơi đất lạ. Bất cứ chuyện chi xảy ra hắn đều gánh chịu hết: rét mướt, đói khát, lầm than, khinh bỉ. Công nhận là hắn đã phạm tội, ích kỷ, vô ơn và vô trách nhiệm. Nhưng hiện tại hắn phải trả giá đắt cho những lầm lỡ đó. Chăn heo là công việc bẩn thỉu nhất đối với người Do thái, bị người ta bóc lột đến tận xương tuỷ, mà không được kêu than. Nhưng hắn phải làm nếu còn muốn sống.

Không phải là hắn không biết đến một kiểu sống khác. Chính miệng hắn đã thốt ra điều ấy: “Biết bao người làm công cho cha tôi được cơm dư gạo thừa, mà tôi đây thì lại bị chết đói”. Hắn ngộ ra mình đã làm điều lầm lỗi ghê gớm đối với gia đình, nhất là đối với người cha thân yêu, mà hắn biết rõ tấm lòng của ông. An hận, xấu hổ, tội lỗi nổi đậy trong lương tâm hắn. Hắn quyết định thoát ra khỏi cảnh hiện tại và trở về xin lỗi cha. Tuy nhiên việc trở về đâu phải dễ dàng gì, nó đòi hỏi lòng can đảm và khiêm tốn hết cỡ. Người ta đã nghi ngờ, nói gì, đồn thổi thế nào về hắn, hắn biết rõ. Chẳng phải chỉ đơn giản trở về nhà, hắn còn phải hứng chịu biết bao nhục nhã, cười chê. Nhưng có một phẩm chất lạ lùng trong lòng ăn năn hối hận của hắn. Hắn nhận ra mình đã phạm tội, không chỉ chống lại cha mà còn chống lại Đấng thiêng liêng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa, xin coi con như một đầy tớ của cha vậy”. Hắn hài lòng về vị trí đó.

Nhưng ăn năn thống hối suông chưa đủ. Ơn thánh chẳng thể mua bán với tình trạng như vậy. Đúng ra chẳng bao giờ ơn thánh có thể được đưa ra trả giá, bán buôn nơi loài người. Vì thế người cha phải bước tới và từ nét mặt của ông, người con thứ nhận ra tình yêu của cha mình. Hắn biết rằng hắn đã hành động đúng khi quyết định trở về nhà. Và mọi sự đều được thoả đáng. Đối với người cha không cần trách móc, hạch tội. Để mà làm chi, một khi đã là ơn huệ? Điều đáng coi trọng là người con đã chết mà nay sống lại, đã mất nay tìm thấy?

Ai có thể mô tả được nỗi vui của người con thứ trong bữa tiệc mừng hôm ấy? Chúng ta thường phí uổng nhiều thời gian vào việc hối hận. Chúng ta thường ưa làm nô lệ cho tình cảm tội lỗi. Chỉ có một điều thực sự ý nghĩa khi chúng ta trót dại phạm tội, đó là chạy về với Thiên Chúa từ bi nhân hậu, đang chờ đón con mình để ban ơn. Thật dễ dàng cho chúng ta nhất là những kẻ tự phong thánh thiện, đồng hoá mình với người con cả. Xin cứ cho là như vậy đi, kẻo nhiều người tự ái? Nhưng cũng xin nhớ rằng có thể xảy ra là chúng ta tuân giữ mọi giới răn, lề luật nhưng vẫn xa cách Thiên Chúa, Đấng giàu lòng yêu thương. Mặt khác, ai có thể khoe mình không phạm tội? Chẳng hề bẻ gãy giới răn Thiên Chúa? Có bao giờ chúng ta bất trung? Có bao giờ hoang phí ơn lành của Chúa? Có bao giờ đáp trả trọn vẹn ơn gọi của Ngài? Cho nên dụ ngôn chỉ dẫn chúng ta con đường trở về nhà Cha. Nó dạy bảo chúng ta phải làm chi “Tôi sẽ chỗi dậy và trở về cùng cha tôi, nói với Ngài rằng thưa cha con thật đắc tội với Trời và với cha”.

Và một khi đã nghiệm ra ơn tha thứ và xót thương của Thiên Chúa, chúng ta thay đổi trái tim và nếp sống như bài đọc 1 tuyên bố: “Hôm nay Ta cất khỏi các ngươi cái ô nhục của người Aicập”. Chúng ta dùng của ăn thức uống mới trong đất hứa Canaan. Chúng ta lắng nghe thánh Phaolô khuyên nhủ trong bài đọc 2: “Thưa anh em, phàm ai ở trong đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi, mọi sự đều do bởi Ngài, và Ngài trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải”. Có đúng là trong dụ ngôn cả hai anh em đều nhận được đề nghị hoà giải của người cha? Người cha đã thân hành ra xin người con cả bước vào nhà ăn tiệc mừng: Mọi sự của cha đều là của con. Như vậy cả hai anh em đều được biến đổi. Người em không trở lại đường cũ nữa, và người anh cả vui vẻ bước vào dự tiệc. Hai anh em làm hoà với nhau qua trung gian và sự thúc đẩy của người cha.

Dưới ánh sáng của dụ ngôn này, thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu, Thiên Chúa khởi sự hoà giải với nhân loại qua Đức Kitô. Chúng ta được đón nhận vào nhà Cha. Phúc Am không nói hai người con phản ứng ra sao trước tấm lòng của cha họ. Nhưng chúng ta biết phải làm chi trước tình yêu của Thiên Chúa. Trong bí tích rửa tội, chúng ta được giao hoà với Thiên Chúa và có đời sống mới, đời sống hoà giải. Không ai chối cải được chân lý ấy. Và thánh Phaolô truyền chúng ta phải là đại sứ của Thiên Chúa về hoà giải cho thế gian này: “Thật vậy, trong đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với mình. Ngài không chấp tội nhân loại nữa và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải”. Cho nên lời ấy phải là sứ điệp hoà giải của Thiên Chúa trong mỗi người tín hữu, nhất là linh mục, tu sĩ, hàng giáo phẩm. Chúng ta phải phản ánh thông điệp ấy cho thế gian trong tình hình cực kỳ khó khăn cay đắng như hiện nay. Những gì chúng ta làm, gương sáng chúng ta sống phải tỏ ra cho người khác điều Thiên Chúa đã làm cho chúng ta? Trong đức Kitô, cuộc sống của chúng ta phải phản ánh căn tính của mình là sứ giả của Đức Kitô. Đây là nhiệm vụ rất nặng nề. Ít khi chúng ta hoàn thành nếu không trung thành với Thiên Chúa. Giám mục Helder Camara thường nói: “Tôi luôn cầu nguyện cho người con cả trở lại”. Tai hại thay phẩm chất cứng đầu cứng cổ nơi chúng ta tồn tại mãi. Nó giết hại nhiều linh hồn kiêu căng, tự phong mình là hoàn hảo, thánh thiện, không cần hối cải, khinh khi kẻ khác, nhất là các tội nhân.

Đại sứ hay sứ giả nói và làm thay cho quốc gia mình. Họ được trao phó nhiệm vụ đại diện cho tổ quốc, các cấp lãnh đạo xứ mình nơi nước khác và chính phủ của họ. Như vậy chúng ta rất cần nhiều sứ giả đại diện cho Chúa Kitô trong tình hình thế giới hiện nay. Chúng ta cần được Thiên Chúa sai đi để hoà giải thế gian với Thiên Chúa và với nhau, chẳng phải về đàng thiêng liêng là đủ, cả về tình người và các nhu cầu khác của thế giới. Thánh Phaolô khuyên nhủ mọi tín hữu phải là nhân chứng hoà giải của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Mùa chay này, các giáo xứ đều tổ chức nhiều buổi sám hối gồm cả bí tích hoà giải. Trong ánh sáng Phúc Am hôm nay, chúng ta phải nghiêm chỉnh thực hành. Ơ ý nghĩa nào đó, chúng ta đều là người con hoang đàng. Tính chất hoang đàng luôn cố hữu trong mỗi cá nhân, cách này hay cách khác. Xin đừng kiêu căng phủ nhận. Cho nên mọi người đều cần đến ăn năn. Naaman cố chấp nói: Các con sông của Syria không tốt hơn sao? Nhưng chỉ có dòng nước của sông Jordan mới tẩy cho ông sạch bệnh phong cùi và trả lại da thịt ông tươi đẹp như đứa trẻ con. Ơn thánh của toà cáo giải còn mạnh mẽ hơn. Chúng ta hãy năng tắm gội trong dòng nước ấy để đựơc tha thứ và bình an. Chúa Giêsu nói với Phêrô: Nếu thầy không rửa chân cho anh, anh chẳng được dự phần với thầy. Bí tích rửa tội cho phép chúng ta dự phần vào sự sống của Đức Kitô. Chúng ta phải năng xưng tội để tẩy sạch linh hồn, ngõ hầu nhận lãnh sự sống của Chúa đầy đủ hơn qua Mình và Máu Thánh Ngài.

Đức Giáo Hoàng Piô XII thường ca tụng bí tích hòa giải. Ngài nói : Nó mang lại khiêm tốn, tự biết mình, lướt thắng thói xấu, tẩy sạch lương tâm, ban ơn thánh và lớn lên trong đàng thiêng liêng. Đức thánh cha quên mất một điều: Phát triển tình yêu, lòng tha thứ và ơn hoà giải với mọi người. Lời tha thứ của bí tích hoà giải không phải là cầu xin mà là “Vậy tôi tha tội cho anh, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Một lời tuyên bố thẳng thắn, cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa. Cộng đồng chấp nhận và thực hành. Do đó cộng đồng trở thành sứ giả của Thiên Chúa về vấn đề này. Cộng đồng nhân danh Thiên Chúa nói tha thứ, hoà giải với hết mọi người, mọi dân tộc, quốc gia. Dụ ngôn hôm nay còn bỏ ngỏ, chưa có kết thúc, chưa rõ sự đáp trả của hai người con. Cho nên chúng ta phải hoàn thành nó bằng câu chuyện đời mình: Làm hoà với Thiên Chúa, với anh em và trở nên sứ giả về lòng Chúa xót thương. Lúc ấy mùa chay của chúng ta mới có ý nghĩa. Amen.