Bằng Cách Nào việc Ngừa Thai đã phá đổ Tình Yêu

Trong cuốn sách “Tình Yêu và Trách Nhiệm” Karl Wojtyla - ngày nay được biết là ĐTC Gioan Phao lồ đệ II - đã chia sẻ một cách không giản dị, tại sao việc ngừa thai là việc vô luân, nhưng hơn thế nữa nó còn thật sự có thể làm đổ vỡ tình yêu của vợ chồng trong hạnh phúc lứa đôi. Ở đây, chúng ta sẽ bàn đến bốn điểm chính của đề tài này.

Sự Chấp Nhận có thể trở thành Cha Mẹ

Trước hết, Wojtyla nhấn mạnh rằng việc liên hệ tình dục để trở thành một xương thịt của hai người, cần phải đi đôi với cả tâm trí và ý muốn của việc chấp nhận việc có thể trở thành cha mẹ. Việc chăn gối tự nó không đưa đến tâm hợp ý đồng của sự thật hoà hợp trong tình yêu. Một cặp vợ chồng được phép chung đụng về xác thịt mà không có một sự thân mật cá nhân căn cứ vào một tình yêu trọn vẹn, việc tin tưởng và phó thác cho người mình yêu. Một trong những nguyên liệu cần thiết để trở nên một thân thể giữa vợ và chồng là ý nghĩa của việc xây dựng kể cả một tình yêu sâu đậm như là một ý muốn của cả hai người qua việc giao tình, “Tôi rất có thể trở thành một hiền phụ” hay “Tôi rất có thể trở thành một hiền mẫu” (t. 228).

Khi ta đến gần người phối ngẫu với một tâm hồn mở rộng cho việc có thể trở thành cha mẹ, để bày tỏ một tình yêu trọn vẹn của chính mình trong việc chấp nhận người kia trong tình yêu lứa đôi. Khi Vợ hay chồng cùng đồng tình cởi mở cho việc truyền sinh trong đời sống lứa đôi, chính là như họ đang nhìn thẳng vào mắt nhau mà nói, “Em yêu anh say đắm và muốn cùng anh bắt đầu một cuộc mạo hiểm

trong đời sống của bậc làm cha mẹ!...Em trao trọn thân xác cho anh, cho anh tất cả để chúng ta trở nên cộng sự viên trong việc tác tạo một sự sống mới triển nở qua động tác yêu thương này.”

Qua ánh sáng ấy, chúng ta có thể thấy rõ việc sẵn sàng đón nhận sự sống không những giúp làm tăng thêm nồng độ yêu thương giữa vợ chồng, mà còn là một biểu tượng cao độ trong việc quên mình cho tình yêu lứa đôi. Khi vợ chồng cùng đón nhận việc có thể trở thành cha mẹ, nó không chỉ là việc diện đối diện say đắm trong tình yêu mà còn là một việc làm thăng tiến tình yêu của nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm trong việc truyền sinh và khai mở cho một cuộc sống mới qua việc yêu thương chăn gối. Bên cạnh nhau, họ đã cùng đứng dậy để sát cánh không chỉ với nhau và cho nhau mà còn cùng nhau miệt mài cho một cuộc sống mới. Nơi đây, chúng ta thấy rõ, “tình yêu giữa vợ chồng không phải chỉ hạn hẹp trong hai người mà còn là điều thiết yếu để nới rộng đến một thế hệ mới mà việc nên một thân xác của họ sẽ có thể (tạo -) sinh ra. (t. 227).

Từ Chối Việc Làm Cha Mẹ, Từ Chối Nhau

Như Karl Wojtyla đã giải thích, nếu mục đíck của việc giao tình là chỉ để thỏa mã nhục dục, khi mà cái ý tưởng “Tôi có thể trở thành người Cha, hoặc Tôi có thể trở thành người mẹ” đã hoàn toàn bị chối từ trong tâm thức của vợ hay chồng, thì tình nghĩa vợ chồng hầu như đã chẳng còn gì nữa. Người này đã trở nên như một vật thể cho người kia lợi dụng thỏa mãn mà thôi. (t. 239).

Điều thứ hai, Wojtyla đã chỉ rõ việc ngừa thai không những là một từ chối thiên chức làm cha mẹ, nhưng cuối cùng thì thật sự họ đã từ chối người phối ngẫu. Việc ngừa thai đã ngăn cản cho hai thân xác trở nên một xương một thịt trong tình chăn gối, là một điều hiển nhiên đã cản trở tình yêu thương trọn vẹn hoà hợp hoàn toàn giữa hai người. (t. 228). Cuối cùng thì những hành vì giao tình nào mà từ chối việc tạo sinh sẽ chỉ căn cứ vào sự khoái cảm của đối tượng đem đến cho mình, mà không hề nghĩ gì đến trị giá của người mình yêu như là một con người.

Theo Wojtyla, khi mà những người phối ngẫu từ chối việc có thể trở nên cha mẹ qua việc ngừa thai bằng những phương pháp nhân tạo, đặc tính cơ bản của tình yêu chăn gối đã biến dạng một cách phũ phàng. Và đó chính là một sự đổ vỡ thật to lớn mà việc ngừa thai đã đem lại cho cuộc sống lứa đôi. Thay vì việc kết hợp thân xác nên một trong yêu thương, trong đó ít ra người này mở rộng tình thương của mình để trở nên một cộng tác viên với người kia trong việc cùng trở thành cha mẹ. Yêu thương mà ngăn ngừa thụ thai là điều đã đưa đến một chiều hướng để cả hai cùng hưởng lạc, cùng thỏa mãn dục tính với không có một mục đích nào khác. (t. 228). Thay vì dưới cái nhìn của việc cộng tác tạo dựng qua yêu thương, thì giờ đây ưu tiên của vợ chồng được coi như là người cộng tác trong việc tìm kiếm những cảm nghiệm khoái lạc.

Một thí dụ điển hình, khi mà người nam từ chối việc làm cha mẹ với vợ khi làm công tác vợ chồng; khi giao tình, anh chỉ chú trọng đến trung tâm điểm là việc tìm khóai cảm cho dục vọng của mình, mà quên đi phẩm giá nhân bản của người đàn bà phối ngẫu, tình yêu keo sơn đã trở thành hậu cảnh, khi mà người phụ nữ giờ đây đã trở thành ý nghĩa của sự thống trị về nhục dục thay vì là một người cộng sự viên trong tình nghĩa phu phụ. Hành động như vậy thật giống như anh muốn phát biểu, “Tôi chỉ muốn hưởng khoái lạc qua hành động vợ chồng mà không muốn xây dựng gia đình với em.”

Khi người đàn ông và một người đàn bà làm công việc vợ chồng, mà có một quyết định trước là không hề muốn trở thành cha hay mẹ, ý muốn của họ đã chiều theo việc chỉ tìm kiếm hoan lạc: thiên chức cộng tác trong việc truyền sinh đã biến mất trong họ, duy chỉ có việc hợp tác trong kinh nghiêm khoái cảm. Tất cả đã để mất đi khả năng và ý nghĩa của một hành động yêu thương chân chính (t. 234).

Do đó, việc rộng mở cho việc truyền sinh của động tác ái tình, chính là “một điều kiện không thể thiếu của yêu thương” (t. 236). Wojtyla giải thích thêm, “khi mà ý tưởng ‘Tôi có thể trở thành một người cha’ hay ‘Tôi có thể trở thành một người mẹ’ đã hoàn toàn bị chối từ trong tâm trí và ý muốn của chồng hay vợ, Khi nói về mục tiêu, thì không có gì còn tồn tại trong tình nghĩa vợ chồng, ngoại trừ chỉ có sự tìm kiếm và hưởng thụ khoái lạc. Người này trở nên một lợi dụng cho người kia mà thôi. (t. 239).

Tiết dục định kỳ

Thứ ba, trong khi mà hai người không được từ chối thiên chức làm cha mẹ trong lúc ân ái. Wojtyla dậy rằng, họ không cần phải tích cực về việc có con trong mọi lần giao hợp (p. 233). Những cuộc ân ái ấy là một điều tốt để xây dựng một tình nghĩa sâu đậm trong tình vợ chồng mà không phải chỉ để truyền sinh không mà thôi.

Do đó, như một vị mục tử thật sáng suốt, Wojtyla đã giải thích rõ, làm thế nào mà vợ chồng phải mở rộng tâm trí cho việc đón nhận sự sống mới trong tình chăn gối, nhưng không cần thiết khi bước vào cuộc ân ái là phải có ý định sinh con mỗi lần. Wojtyla phát biểu rằng, thật là qúa đủ khi vợ chồng cùng nói, “Trong tình chăn gối, chúng tôi đã hiểu rõ là mình sẽ có thể trở thành cha mẹ và mong cho nó trở thành sự thật.

Hơn thế nữa, hai người rất có thể phải đối diện với những trương hợp họ muốn tránh có con. Trong những trường ḥợp này, họ có thể chọn tiết độ trong ái ân, đặc biệt là trong thời kỳ mà người đàn bà có thể thụ thai dễ dàng. Wojtyla gọi đây là thời ky tiết dục.” (Ngày nay, nhiều người Công Giáo đã thực hành thời kỳ tiết dục này khi áp dụng phương pháp “Kế hoạch hóa Gia đình cách tự nhiên”). Khi chấp nhận việc không ân ái trong chu kỳ trứng rụng của phụ nữ, hai người có thể tránh việc thụ thai mà vẫn giữ được mục đích và ý nghĩa căn bản của tình yêu vợ chồng. Như điều giải thích của Wojtyla, “việc chấp nhận hạn chế và tiết độ ái ân trong thời kỳ họ không muốn có bầu nữa là điều đặc biệt và thiết yếu của đời sống hôn nhân và gia đình, người nam và người nữ đã hành động trong sự thật khi họ lo lắng cho điều thiện hảo của gia đình mình, việc trưởng thành trong trách vụ qua việc sinh sản, bảo toàn hạnh phúc và nuôi dậy con cái.



Vẫn chấp nhận sự sống

Sau cùng, khi mà việc tiết dục định kỳ là một lựa chọn thiết thực của các cặp vợ chồng Kitô hữu, Wojtyla giải thích rõ việc cho phép này “chỉ với những trường hợp thực sự đủ điều kiện” (t. 240).

Trước tiên, Wojtyla nêu lên điều quan yếu là ta phải cân nhắc qua tác phong của vợ chồng trong việc họ cộng tác cho việc truyền sinh. Thời kỳ tiết dục có thể dùng để kiểm soát việc thụ thai, chứ không thể dùng để tránh né tạo dựng gia đình. “Bởi vậy, ta không thể nói đến việc việc tiết dục như là một nhân đức khi mà hai người vợ hoặc chồng đã lợi dụng triệt để nó để từ chối việc làm cha mẹ trong mọi trường hợp. (t. 242).



Thứ hai, Wojtyla nêu rõ về điểm một gia đình tốt lành, cần phải cân nhắc thật kỹ lưỡng việc dùng phương pháp “tiết dục định kỳ”. Ngài đã chú giải rõ về việc cho trẻ nhó một đứa em là một đường lối rất quan yếu giúp cho việc giáo dục và nuôi dậy trẻ thơ, vì chính những đứa anh, hay em đã rập khuôn cho môi trường sống tập đoàn, giúp triển nở đời sống của trẻ thơ. Sự thật là, trong một câu nói đầy ý nghĩa, Wojtyla đã muốn ám chỉ đến số con lý tưởng trong một gia đình phải có là từ ba người con trở lên.

Một điều hết sức quan trọng cho con người, chính là trẻ nhõ thì không thể sống cô đơn, nhưng phải quây quần trong một xã hội tự nhiên. Thỉnh thoảng chúng ta đã được nghe nói rằng thật dễ dàng khi được nuôi dậy cùng một lúc năm ba trẻ thơ hơn là chỉ có một con, ngoài ra, hai trẻ thì chưa được gọi là cộng đồng. Chúng chỉ là những trẻ nhỏ, cần có sự hiện diện và trách vụ, hướng dẫn và nuôi dạy chúng của cha mẹ để, dưới sự dìu dắt đó, trẻ thơ sẽ tự học và lớn lên nhờ vào việc phát triển chung trong khung cảnh gia đình có nhiều anh em họp lại. (tt. 242-3).

Thực ra thì Wojtyla không muốn nói đến những gia đình có một hay hai con là họ không thể nuôi ḍay con cái nên người, nhưng ngài muốn thêm vào việc có ba con hay nhiều hơn sẽ là điều lý tưởng cho môi trường phát triển tuổi trẻ trong gia đình. Lý do nào đã khiến ngài nêu lên việc ấy?

Ngài đã giải thićh rằng, khi ta cho con trẻ người anh em với nó, ta đã dạy cho chúng cách thức sống và lớn lên sống chung với anh em trong một xã hội lành mạnh, sẽ giúp chúng học hỏi và uốn nắn chúng nên người. Wojtyla đã chỉ rõ đến số con lý tưởng trong một gia đình phải có là từ ba con trở lên.

Thoạt mới quan sát, con số này như là điều áp đặt của quyền hành, khi không có sự giải thích rộng rãi về điểm này. Dầu vậy ở một vài nơi khác, Wojtyla khi nói về tình yêu, thì ngài đã nhấn mạnh đến một chủ đề của sự “thiện hảo chung” – Làm thế nào để tình yêu đã liên kết hai người lại cùng một trọng điểm mà cả hai cùng chung cố gắng tiến đến. (Xem tt. 28-9). Đây chính là chủ đích của hôn nhân mà cả hai người đã hiệp nhất trong việc tìm kiếm hạnh phúc chung một cách sâu đậm. khi chung đụng thân xác và phục vụ con cái nếu thấy cần. Và cũng là trường hợp của chính con cái, giúp chúng có cơ hôị để cùng lớn lên trong chí hướng phục vụ lợi ích chung, anh em ruột thịt trong gia đình.



Một thí dụ điển hình, khi chúng tôi có đứa con thứ hai, thật là thích thú khi nhìn xem con cả của chúng tôi tên là Madeleine, lớn lên trong tình thương của em trai nó tên Paul, chị hai thường làm cho em nó cười và muốn đút cơm cho em. Cô bé chỉ muốn phục dịch cho em mình. Và khi Paul mỗi ngày mỗi lớn lên, chúng tôi thật sung sướng khi ngắm nhìn Paul vui chơi và rất mực yêu thương chị nó Madeleine, cả hai đã phát triển một tình cảm liên đới rất tốt. Đồng thời giống như những đứa trẻ khác, Paul and Madeleine đã thực sự có những giây phút thật đức hạnh bên nhau, và tình yêu của chúng thì

thăng tiến vững vàng trong ý nghĩa chị em.

Dầu vậy, một vài việc rất quan trọng đã thay đổi việc liên đới giữa vợ chồng chúng tôi khi đứa con thứ ba ra đời. Bất chợt, ngày giờ của Madeleine và Paul đã tràn ngập không những với việc vui đùa có nhau. Bây giờ, thì chúng đã có thêm niềm hạnh phúc khi có thêm một em bé hiện diện trong gia đình này. Vì là chị và anh, Madeleine và Paul đã bắt đầu để ý không những cho chính chúng mà cả hai đã cùng lưu tâm đến một em bé gái nữa tên Teresa. Cả hai đôi khi đã cùng hát cho em nghe, cho em bú sữa, hay cùng nhau làm cho em cười. Madeleine và Paul đã tự học để không những trở nên những người cùng chơi vui với nhau nhưng còn trở nên cộng tác viên trong việc phục dịch cho một đời sống mới lạ cho cả hai. Một em bé của chúng mới xuất hiện. Đó chính là lý do mà Wojtyla đã nhận định việc cần có ít nhất là 3 người con trong gia đình: Với ít nhất là ba người con, hai trẻ sẽ cùng làm việc để phục vụ trẻ kia, và từ đó, chúng sẽ có cơ hội để cùng chung sống và lớn lên trong yêu thương, thân tình, đức hạnh như một xã hội đã được xây dựng trong nhân bản.

Và để kết luận, Wojtyla đã nhắc nhớ ta, nếu muốn ap dụng phương pháp “Tiết dục định kỳ”, chúng ta phải cân nhắc không những cho nền tài chánh vững vàng của mình trong đời sống và sự thoải mái khi có ý định hạn chế việc thụ thai. Chúng ta phải cân nhắc việc ân ban cho có thêm anh em cho con cái và cho sự hoàn hảo của cả gia đình và xã hội nữa. Ngài cảnh cáo những bậc cha mẹ khi quyết định việc hạn chế số con cái và sự đông đúc của gia đình nếu không xét đến những tốt lành lớn khác bên ngoài, sẽ đưa đến những nguy hại lớn hơn cho gia đình và xã hội.



Cha mẹ cần phải hết sức thận trọng, khi họ muốn hạn chế việc thụ thai, họ nên nghỉ tới việc đừng làm phương hại đến gia đình mình và ngoài xã hội nói chung, chúng có những chủ đích riêng là muốn cho gia đình trở nên lớn mạnh hơn. Sự quyết tâm của vợ chồng về việc giảm thiểu số con, làm cho đời sống của họ dễ chịu hơn, điều này đã gây nên suy đồi về luân lý cho cả gia đình và xã hội nói chung.



Một lần nữa, có rất nhiều trường hợp khi hạn chế số con cái trong gia đình trong “Tiết dục định kỳ”, đây là một trách vụ thiết yếu của cha mẹ (t. 243). Tuy nhiên ý muốn trong việc hạn chế số lượng thụ thai không thể chối bỏ việc làm cha mẹ của mình. “Tiết dục định kỳ” là một phương pháp để kiểm soát việc có thai được cho phép không thể đi ngược lại với ý hướng trong việc truyền sinh.

Dầu thế, trong thời kỳ tiết dục, vợ chồng không cần phải tìm kiếm việc chẳng thụ thai với mọi giá

(p. 243). Có hai việc cần phải để ý, một bên là việc vợ chồng chỉ giao hợp trong thời kỳ mà người vợ không thể thụ tinh, nhưng vẫn luôn có ý định sẵn sàng chấp nhận việc có thể trở thành cha mẹ khi có ý muốn giao tình, kể cả việc họ không có chủ đích muốn mang thai và đang dùng phương pháp tiết dục định kỳ để chế ngự việc mang thai. Mặt khác, cộng với việc sẵn sàng đón nhận sự sống khi thi hành những động tác ái ân, họ cần phải luôn chấp nhận việc trở thành cha mẹ một cách rộng lớn và bao quát của chủ đích trong hôn nhân, kể cả cái nhìn có thêm anh em là một điều thiện hảo cho tuổi thơ, cho gia đình và cho cả xã hội nữa.

Pt. Lorenso Ngô Thế Tòng

chuyển ngữ

Note:

Xin nhấn vào link dưới đây để xem bản chính bằng Anh Ngữ

http://catholiceducation.org/articles/sexuality/se0142.htm

How Contraception Destroys Love

By EDWARD P. SRI