LÒNG ĐẠO ĐỨC TINH TUYỀN



Phần đông giáo dân Việt Nam vẫn được tiếng là đạo đức. Các bề trên trong đạo đều lấy thế làm vui và hãnh diện. Các bản tường trình về Rô-ma thường rất phấn khởi, với những con số và hình ảnh thuyết phục, chung quanh các buổi kinh lễ và rước kiệu.

Vào cuối năm ngoái (2005), các buổi lễ từ Bắc chí Nam, với sự đón tiếp nồng hậu và cung kính, dành cho Đức Hồng Y Sepe, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo, nhân chuyến viếng thăm của ngài, chắc đã làm cho ngài cảm nhận được sâu sắc, lòng đạo đức của giáo dân Việt Nam cũng như sự trọng vọng của họ đối với ngài và qua ngài đối với Đức Thánh Cha Bê-nê-đích-tô XVI. Có thể nói lòng đạo đức này cộng với sự trung thành tuyệt đối của Hàng Giáo Phẩm Việt Nam là nét đặc sắc chỉ ở Việt Nam mới có. Và có lẽ cũng chỉ ở Việt Nam người ta mới đi lễ đông như thế, vào các ngày Chúa nhật, các lễ truyền thống như Lễ Tro, lễ Lá, lễ Các Thánh, lễ Các Linh hồn và các ngày Lễ lớn về Đức Mẹ, tuy người công giáo chỉ là thiểu số chưa đầy 1/10 dân trong nước. Mong rằng tình trạng này còn kéo dài và trở nên bền vững. Nhưng không biết có được không. Mà nếu không được thì ngay từ bây giờ phải tìm cách đề phòng. Đề phòng bằng cách nào đây ? Thưa thiết tưởng bằng cách giáo dục đức tin qua giáo lý và các lời diễn nghĩa, giảng giải về Kinh thánh cũng như giáo huấn của Công Đồng Va-ti-ca-nô II và tài liệu cập nhật của Tòa thánh, cùng những thông tin cần thiết về các biến chuyển trên thế giới và ngoài xã hội.

Tất nhiên, chẳng ai muốn cho tình trạng suy sụp xẩy đến. Nhưng nhìn vào những nước đạo gốc ở Au châu như Pháp, Ý, Đức, Bỉ hiện nay, người ta phải đặt câu hỏi tại sao đạo ở những nước đó đến nông nỗi này, trong khi họ có truyền thống đạo đức, có nhiều chuyên viên về các môn thần học, Kinh thánh, tu đức, giáo ý và phương tiện sách vở đầy đủ ? Phải chăng là do nền văn minh vật chất, phong hóa thời đại và các trào lưu tư tưởng mới lạ lôi cuốn, làm cho lòng người ra khác. Chính sự đổi khác này đã làm cho người ta thờ ơ với đạo và coi đạo như một cái gì ở bên ngoài cuộc sống, không cần thiết và hạn chế tự do của con người ?

Có thể là như thế. Chúng ta cứ nhìn vào các nhà thờ nguy nga đồ sộ của họ mà suy nghĩ. Chắc hẳn thời trước, những nhà thờ đó cũng là nơi diễn ra những buổi lễ linh đình và long trọng lắm chứ ! Chẳng vậy, tại sao họ lại xây lên những nhà thờ vĩ đại như thế.

Hiện tượng bỏ đạo, lơ là với đạo hay không hành đạo là điều đã xẩy ta từ nhiều năm nay rồi ở bên các nước Au Mỹ. Mùa hè năm 2000 nhân dịp đến hành huơng khu vực Sainte Anne de Beaupré của các cha Dòng Chúa Cứu Thế ở Québec (Canada), tôi có gặp cha Camille Dubé. Cha này trước kia đã ở Việt Nam nhiều năm. Cha nói rằng cách đây bốn, năm mươi năm đạo nghĩa ổ Canada cũng sầm uất lắm, nhưng bây giờ thì không còn như thế nữa. Người ta ít đi nhà thờ, ngay cả các cháu của cha cũng vậy. Nghe cha nói và nhìn vào các nhà thờ trong thành phố Montréal, nơi tôi đã ở trong mấy tháng hè năm 2000 mà lấy làm tiếc nuối. Các nhà thờ ở Montréal san sát nhau giống như Hố nai. Có thể nói gần như mỗi phố hay vài ba phố cạnh nhau là có một nhà thờ. Nhà thờ vẫn còn nhưng sinh hoạt thì ít oi và thưa thớt sánh với các nhà thờ ở Việt Nam. Ít oi và thưa thớt thôi chứ chưa hoàn toàn biến mất. Nếu chỉ căn cứ vào hiện tượng này, người ta có thể bi quan về đạo công giáo ờ những nơi như Canada. Gần đây Hội Đồng Giám Mục Pháp đã tỏ ra rất băn khoăn lo ngại về tình hình đạo nghĩa của đồng bào mình và đặt ra câu hỏi phải làm thế nào để chấn chỉnh lại tình trạng này.

Đứng trên quan điểm loài người thì quả thật tình hình chung rất đáng lo ngại ở những nơi nói trên. Phong trào trần tục hóa, giải trừ sự thiêng thánh, duy vật, vô thần, thuyết hậu hiện đại, lối sống vô kỷ cương theo bản năng v.v…, tất cả đều như vũ bão tàn phá dữ dội đạo lý của Hội thánh. Nhưng không phải bây giờ mới như vậy mà ngay từ thời thánh Phao-lô đã tương tự như thế khiến thánh nhân phải viết : “Đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thày nọ, bởi ngứa tai muốn nghe.” (2 Tm 4,3)

Nhưng may thay lại có lời ngôn sứ Mi-kha nói về số người còn sót lại trong Ít-ra-en. Chính nhờ số sót này mà Ít-ra-en được cứu như Đức Chúa phán : ” Ta sẽ qui tụ cả nhà Gia-cóp, sẽ qui tụ số còn sót của nhà Ít-ra-en, sẽ gom chúng lại như đàn chiên trong chuồng, như đàn vật giữa đồng cỏ, khiến chúng không còn sợ ai nữa.” (Mk 2,12)

Như vậy, ở Au Mỹ hay nơi nào khác nữa trên thế giới, nhiều người bỏ đạo hoặc không hành đạo, nhưng trong Hội thánh chắc vẫn còn những người trung thành giữ đạo và sống đạo. Có thể họ là số ít hay số còn sót lại, như ở Nhật Bản từ thế kỷ XVII-XIX, ở Việt Nam thời cấm đạo, ở Nga dưới chế đô Liên Bang Xô Viết, ở Trung Quốc và Au Mỹ hiện nay.

Do đấy, cần hiểu cho đúng và đặt lại vấn đề đạo đức. Thực ra, đi đạo hày theo đạo thì phải giữ đạo, hành đạo và cố gắng làm cho mình nên người đạo đức. Nhưng thế nào là đạo đức ? Thông thường người ta vẫn hiểu đạo đức là giữ luật Chúa, đi lễ, đi nhà thờ, đọc kinh lần hạt, viếng Mình Thánh Chúa, năng lãnh nhận các bí tích, đi đàng thánh giá v.v… Những việc này xưa nay giáo dân Việt Nam vẫn làm và làm cách rất đáng khen, theo truyền thống ông cha để lại, khiến nhiều vị Giám Mục Mỹ phải ca ngợi và lấy làm ưng ý về cộng đồng giáo dân Việt Nam đang cư ngụ trên đất nước các ngài. Nhiều người đã dựa vào đấy và lấy đó làm thước đo để đánh giá lòng đạo đức. Nhưng có lẽ bấy nhiêu chưa đủ, dù đã là rất tốt. Chưa đủ vì đó mới chỉ là đạo đức ở thế tĩnh và mang tính cá nhân, mà chưa phải là đạo đức ở thế động và mang chiều kích xã hội, trong khi lòng đạo đức tinh tuyền vừa phải tĩnh và đông, vừa cá nhân mà lại vừa xã hội như thánh Gia-cô-bê dạy : “Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão. Có lòng đạo đức tinh tuyền và không tì ố trước mặt Thiên Chúa Cha là thăm viếng cô nhi quả phụ gặp bước gian truân và giữ lòng cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian.” (Gc 1, 26-27)

Đó là chuẩn mực cho lòng đạo đức tinh tuyền và không tì ố trên bình diện cá nhân và xã hội. Về cá nhân thì kiềm chế miệng lưỡi nghĩa là không vu oan giáng họa cho người ta, không nói lời gây buồn phiền chia rẽ, hay phê bình, chỉ trích, chê bai châm chọc, mỉa mai, bóng gió… rồi giữ lòng cho khỏi lây nhiễm những vết nhơ của thế gian, nghĩa là chiến đấu chống lại gương xấu dịp tội và lối sống buông thả của nhiều người chung quanh. Về xã hội thì lo thực thi bác ái, thăm viếng, giúp đỡ người cô thế cô thân như cô nhi, quả phụ, những người lâm cảnh gian truân, như bị cháy nhà, lụt lội, bão tố và nghèo khổ túng thiếu.

Những hành vi này đòi buộc con người phải phấn đấu với chính mình, bằng lòng chịu rầy rà mà đi đến với người ta, hy sinh thời giờ, tiền bạc (tùy khà năng) và công khó cho người khác. Vì vậy mới nói là lòng đạo ở thế động thay vì tĩnh. Tĩnh là ở yên một chỗ trong nhà thờ hay tại phòng mình, còn động là đi ra, đi tới, liên hệ với người khác. Lòng đạo đức này rầy rà hơn và do đấy cũng đòi hỏi nhiều hơn.

Vậy, nếu như đọc Kinh thánh và suy niệm Lời Chúa, tham dự thánh lễ, giữ mình sạch tội, thực thi bác ái cũng như kiềm chế miệng lưỡi thì đó là đạo đức, một lòng đạo đức tinh tuyền, vô tì tích theo thánh Gia-cô-bê (Gc1,26-27) và được hưởng nhiều lợi ích theo thánh Phao-lô : “Lòng đạo đức thì lợi ích mọi bề, bởi Chúa hứa sự sống hiện tại cũng như tương lai cho người có lòng đạo đức.” (1 Tm 4,8)