TỈNH THỨC GIỮA NHỮNG NGUY HIỂM LIÊN TỤC XẢY ĐẾN

1. Sống là chờ đợi. Bởi thời gian sống của đời người cũng là thời gian chờ đợi. Chờ đợi từ những điều nhỏ nhặt nhất đến những điều trực tiếp liên tới quan vận mạng vĩnh cửu của mỗi người. Có những sự chờ đợi trong mệt mỏi, có những sự chờ đợi mà lòng đầy háo hức, hy vọng…

Đời thường, ta vẫn cứ chờ đợi: chờ một cái hẹn được thực hiện, chờ một thiết bị đang sữa chữa, chờ một trận cầu. Người mẹ tần tảo nuôi con chờ một ngày con thành tài, thành nhân. Người chồng đi xa, chờ ngày hoàn thành công tác để được sum họp gia đình…

Đời sống đức tin, ta lại càng chờ đợi. Đó là sự chờ đợi những điều tốt đẹp mà đức tin mách bảo: niềm an ủi thiêng liêng khi gặp trắc trở, ơn Chúa để được thánh thiện, được hạnh phúc ngày sau trong cuộc đời bất diệt…

Sự chờ đợi nào, dù vui tươi hay mệt mỏi đều có ý nghĩa: Cho ta sống trong hy vọng. Dù niềm hy vọng ấy có khi mong manh, đó vẫn là hy vọng, vẫn cần thiết cho cuộc đời làm người. Chính nhờ hy vọng trong sự chờ đợi, ta biết làm mọi cách để gìn giữ và phát triển niềm hy vọng đó, cho nó vươn tới hiện thực. Cách riêng, đối với niềm hy vọng sống vĩnh cửu, chúng ta càng ra sức bảo vệ nó bằng cả một cuộc đời gắn bó với Chúa Kitô, sống trong Chúa Kitô và sống như Chúa Kitô.

Chúa Kitô đúc kết cách thức bảo vệ niềm hy vọng vĩnh cửu, một niềm hy vọng lớn không thể tả của đời người trong một bài học ngắn gọn và súc tích không thể tả: “Hãy tỉnh thức”.

Vì tỉnh thức luôn là chân lý cần thiết vô cùng cho những ai chờ đợi. Chờ đợi niềm hy vọng vĩnh cửu, lại càng đòi hỏi người Kitô hữu phải tỉnh thức. Tỉnh thức luôn luôn, tỉnh thức không lúc nào dừng để không rơi vào bóng tối của tội, là cách tốt nhất bảo vệ niềm hy vọng vĩnh cửu.

Hôm nay, một lần nữa, bước vào mùa Vọng, Hội Thánh lặp lại chính bài học “tỉnh thức” mà Chúa Kitô đã dạy để nhắc nhở ta bảo vệ đời vĩnh cửu của mình. Tôi nhìn thấy bài học tỉnh thức này ở nhiều khía cạnh của đời sống xã hội và tôn giáo, đời sống cá nhân và tập thể, đời sống tinh thần và vật chất, có khi phân biệt, nhưng cũng có khi đan xen vào nhau. Xin kể ra vài nguy hiểm đang đe dọa, buộc chúng ta phải sống tỉnh thức.

2. Thông tin thời sự từ khắp nơi trên thế giới liên tục cho ta biết những nguy hiểm rình rập đe dọa cả thế giới. Chẳng hạn bất ngờ có những thiên tai như động đất, bão lũ, hạn hán, lỡ đất, lỡ núi, trượt bùn… giết chết cùng một lúc, ít thì cũng là vài chục người, nhiều cũng có đến từ vài ngàn người đến vài trăm ngàn người.

Thời gian gần đây những căn bệnh lạ, cũng như chẳng còn lạ, nhưng nguy hiểm như bệnh sác, cúm gia cầm, HIV/AIDS, ung thư… cứ tiếp tục giết chết không biết bao nhiêu người. Các loại bệnh nguy hiểm ấy không có chiều hướng giảm sút, ngược lại còn có vẻ như phát triển mạnh hơn.

Những tệ nạn xã hội cũng có chiều hướng gia tăng, nếu không muốn nói là tăng mạnh như: tham ô, hối lộ, trộm cướp, ma túy, mại dâm, các loại cờ bạc, dị đoan, ngừa thai, phá thai, đồng tính luyến ái, nhất là tìm hưởng thụ trên thân xác con người. Chính tất cả những tệ nạn ấy đã khiến con người khinh thường tư cách làm vợ chồng, làm cha mẹ khi hai người đến với nhau chỉ để thỏa mãn dục tính mà không kể đến sự tổn thương của hôn nhân đúng nghĩa. Sự khinh thường ấy, kéo đến những thảm trạng kinh khủng khác như: nuôi con nuôi, ly dị, trẻ em mồ côi cha mẹ trong khi cha mẹ còn sống, trẻ em lang thang, bụi đời, lạm dụng quyền trẻ em trong các vấn đề về tính dục, lao động, chiến trường…

Những tội ác rùng rợn như: phá hủy môi trường cách vô tội vạ, khủng bố, thù hận, kỳ thị, gieo chiến tranh, buôn người, đánh bom tự sát, nổi loạn phá hoại an ninh… là những nguy hiểm vô cùng, gây mất bình an lớn không chỉ nơi cuộc sống, nơi mạng sống mà còn nơi tinh thần vì phải luôn sống trong thắp thỏm lo sợ, cảnh giác, nghi ngờ…

Óc hưởng thụ, óc bè phái, chủ nghĩa cá nhân cùng với những quan niệm về tự do sai lạc dẫn đến sự tìm cách tự giải thoát mình khỏi những ràng buộc đạo đức, chà đạp nhân phẩm của mọi người… đang lan rộng vào tâm thức con người, kể cả những kẻ có nhiệm vụ bảo vệ đạo đức. Chẳng hạn môi trường giáo dục, lẽ ra phải sống nêu gương, cũng bị lây nhiễm. Lây nhiễm đến nỗi gần như phá sản tư cách đạo đức, thậm chí phá sản nền giáo dục và cả nền đạo đức của nhiều thế hệ từ người nhân danh giáo dục, nhân danh việc truyền kiến thức đến người thụ nhận (chẳng hạn các cơ quan, các nhân vật lãnh đạo ngành giáo dục, thầy cô giáo, và học trò)…

Lương tâm người thời đại xuống cấp trầm trọng đến mức đáng lo ngại. Bởi chính sự xuống cấp của lương tâm, đã gây ra không biết bao nhiêu quan niệm về những cái bình thường trở thành không bình thường, những cái bất thường trở thành bình thường.

Chẳng hạn, chiếm đoạt của cải, bóc lột sức lao động là điều bất thường, nhưng hiện nay rất nhiều người vẫn sống ung dung nhờ sự cướp của và cướp sức ấy.

Chẳng hạn, xúc phạm thân thể của người khác không những là điều bất thường, mà còn là điều không bao giờ được phép, lại trở nên bình thường trong các nhà tù, trong những cuộc điều tra của những kẻ có thẩm quyền, thậm chí dùng những hình thức tra tấn để bức cung.

Chẳng hạn, nạn ăn hối lộ, ăn cắp của công, là điều xấu, là tai hại, làm nghiêng cán cân công lý, làm đảo ngược chân lý và làm khổ sở vô cùng cho những người nghèo, người không quyền lực…, lẽ ra bất thường, lại cứ nhan nhãn, hầu như bình thường.

Không thể kể hết những đảo ngược của những điều bình thường và bất thường. Sự đảo ngược đó đem lại một số giá trị vật chất, một số lợi nhuận cho một số người, nhưng lại là sự tàn nhẫn vì làm cho nhiều người khốn đốn, thậm chí đau khổ; làm cho cả xã hội bị tha hóa; làm băng hoại đạo đức và bôi đen nền văn hóa thời đại; làm cho niềm tin giữa người với người vốn quý giá và cần thiết bị tổn thương, nặng hơn, đã dần dà biến mất…

3. Từ những chứng minh thực tế về những nguy hiểm liên tục xảy đến, gây nên nhiều cái chết về đời sống vật chất và tinh thần, đòi chúng ta càng phải tỉnh thức hơn bao giờ hết. Đó chính là sự khôn ngoan của ta. Đó chính là sứ điệp khẩn cấp trong mùa Vọng buộc ta phải nắm lấy.

Trong khi nhắc lại bài học “Hãy tỉnh thức” của Chúa Giêsu, mùa Vọng hướng ta về sự sống vĩnh cửu, để ta biết rằng, chờ đợi để đạt tới niềm hy vọng vĩnh cửu không bao giờ là sự chờ đợi suông, nhưng luôn luôn có phần cộng tác của ta bằng thái độ tỉnh thức.

Nhất là các linh mục, hơn ai hết, luôn luôn là những nhà rao truyền bài học tỉnh thức. Chẳng những rao truyền, mà còn là những nhà rao truyền lành nghề, thuần thục. Các linh mục không chỉ dạy người ta tỉnh thức mà còn dạy hãy tỉnh thức luôn luôn. Các ngài dạy người ta cả một đời tỉnh thức.

Tóm lại các linh mục nói rất hay về bài học tỉnh thức. Các linh mục đã thuộc lòng đến nỗi như đã từng gài sẵn bộ nhớ, để cứ cần nói đến tỉnh thức, là “bộ nhớ” lập tức tuôn ra trên môi miệng…

Và hôm nay, khi mùa Vọng lại về. Như một điệp khúc muôn thuở, trên môi miệng các linh mục, đã từng dạy người ta tỉnh thức, lại càng là dịp để các ngài tiếp tục và nhấn mạnh bài học tỉnh thức này. Bởi mùa Vọng mang ý nghĩa chờ đợi, mang niềm hy vọng cánh chung. Vì thế, trong khi chờ đợi, bài học tỉnh thức phải được đề cao. Đó là việc làm đúng. Rất hợp lý.

Nhưng bài học tỉnh thức, đâu chỉ để linh mục rao truyền mà không có gì ảnh hưởng trên chính cuộc đời linh mục! Trước khi là người rao giảng tỉnh thức, các linh mục hãy là người tỉnh thức. Hơn nữa, các ngài hãy là người của sự tỉnh thức. Là người tỉnh thức, các linh mục chuẩn bị cho cuộc trình diện của mình trước mặt Chúa trong ngày rời trần gian. Là người của sự tỉnh thức, linh mục sẽ là mẫu mực, là tiêu chuẩn, là ánh sáng để anh chị em của mình nhìn vào mà học đòi bắt chước. Như vậy, là chuẩn mực về sự tỉnh thức, cùng với lời dạy của chính mình, linh mục có khả năng đưa anh chị em đến điểm cuối cùng mà sự tỉnh thức vươn tới: đó là được sống trong Chúa, sống trong tình yêu vĩnh cửu của Người.

4. Vậy, tôi thử gợi một vài việc đạo đức để chúng ta thực hành bài học tỉnh thức trong mùa Vọng nói riêng và trong sự chờ đợi niềm hy vọng vĩnh cửu suốt cuộc sống gian trần nói chung:

– Ta thành tâm nhìn nhận mình thật mong manh, yếu đuối, cuộc sống này chỉ là tạm bợ, đầy giới hạn. Từ đó ta khiêm tốn hơn, sống có nhân, có nghĩa hơn.

– Ta luôn sống trong tâm tình tạ ơn Chúa vì Người luôn tìm mọi cách, mọi biến cố, mọi hoàn cảnh, mọi người anh em xung quanh… để thức tỉnh ta, đưa ta về sống gắn bó với Người.

– Ta tin vào tình yêu của Chúa, thực tâm nhìn nhận tội lỗi của mình, xin Chúa tha thứ. Đồng thời đừng để lương tâm rơi vào sự chai cứng, tàn nhẫn, gây đau khổ cho anh chị em quanh mình.

– Một ý thức cần phải có luôn luôn, đó là ý thức rằng ta có thể chết bất cứ lúc nào. Những nguy hiểm giết hại ta có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Ý thức như thế, không phải để hoang mang, nhưng giúp ta bình tỉnh đón nhận thánh ý Chúa, đón nhận những hoàn cảnh lắm khi bất trắc, mà Chúa muốn ta phải đương đầu.

– Biết rằng, mọi nguy hiểm có thể đổ ập trên mình, ta sẽ bền vững trong đời sống cầu nguyện để được ở với Chúa, để có Chúa đồng hành trong cuộc đời với ta.

– Biết rằng, có quá nhiều những nguy hiểm bất ngờ ập đến, ta luôn luôn sống tâm tình ăn năn thống hối, luôn sống tâm tình tạ lỗi với Chúa và ý thức mình có nhiều vướng mắc với anh chị em, nhờ đó, ta có thể giữ tâm hồn thanh sạch hết sức.

– Ta cũng không quên bổn phận san sẻ những mất mát, những khổ đau của anh chị em, và tận lực tận tình giúp đỡ họ, khi họ bị những hiểm nguy đe dọa, hay những hiểm họa đó đã thực sự xảy đến gây đau thương mất mát.

Một vài gợi ý nhỏ nhặt bên trên giúp chúng ta sống tâm tình mùa Vọng, mùa Vọng của năm 2006 và mùa Vọng của cuộc đời mình đang khi tiến về vĩnh cửu, chắc chưa phải là tất cả của một đời sống đạo đức. Nhưng đó cũng là những điểm cần thiết cho sự thức tỉnh của bản thân mình.

5. Hãy tỉnh thức! Càng có nhiều đe dọa về đức tin, về đạo đức, về tinh thần, về an ninh đời sống bao nhiêu, ta càng được mời gọi hãy tỉnh thức bấy nhiêu.

Nếu chờ đợi, phải tỉnh thức, thì giữa trăm mối lo về những nguy hiểm có thể xảy đến, càng phải khiến ta ý thức hơn, khiến ta phải sống cách chắc chắn và hiệu quả hơn bài học tỉnh thức. Bởi nếu chờ đợi mà không tỉnh thức, không phải là chờ đợi. Chính vì thế mà có khi ta lại thấy chờ đợi là tỉnh thức. Tỉnh thức để chờ. Đúng hơn, muốn chờ, phải tỉnh thức.

Là linh mục, người rao giảng niềm hy vọng hạnh phúc vĩnh cửu và rao giảng cách tài tình về sự tỉnh thức nhằm giúp anh chị em mình đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu ấy, các ngài hãy nhìn vào mọi biến cố, mọi đe dọa, mọi dấu chỉ thời đại liên tục xảy đến mà đắm mình trong sự tỉnh thức liên tục, suốt đời.

Qua từng biến cố, từng sự kiện của đời sống, dù to hay nhỏ, các linh mục hãy khôn ngoan suy niệm và đọc ra trong mỗi biến cố, mỗi sự kiện, thánh ý Thiên Chúa đang nói gì với mình, đang nói gì với toàn dân Chúa, đang nói gì với cả thế giới này?

Tin rằng, mọi biến cố của đời thường dù có bất ngờ ập đến, bất ngờ đến đâu đi nữa, đối với mọi Kitô hữu nói chung, mỗi anh em linh mục nói riêng, vẫn không bao giờ là sự bất ngờ. Bởi ta đã tỉnh thức từ lâu. Bây giờ vẫn đang tỉnh thức… Ai tỉnh thức, sẽ không bao giờ có sự bất ngờ. Mà đối với người luôn tỉnh thức như thế, niềm hy vọng hạnh phúc đời đời đã nắm phần chắc trong tay.

Hãy nhớ rằng, nếu sống là chờ đợi, thì sống hướng về vĩnh cửu là một sự chờ đợi gây không ít mỏi mòn, làm nhiều người lạc lối. Để cho sự chờ đợi của ta trên đường về vĩnh cửu luôn luôn đúng, luôn luôn hợp ý Chúa, ta hãy thực hành bài học tỉnh thức suốt đời như Chúa dạy và Hội Thánh mời gọi.

VẤN TÂM

Tỉnh thức và cầu nguyện là hai chiều kích thánh thiêng bổ sung cho nhau nơi một tâm hồn biết để Chúa chiếm ngự, nơi một tâm hồn thực sự là tâm hồn Kitô hữu. Nói tỉnh thức và cầu nguyện là hai chiều kích thánh thiêng bổ sung cho nhau, là bởi:

1. Tỉnh thức giúp ta cảnh giác thói hư tật xấu, cảnh giác tội lỗi, không để những cái xấu thế trần ảnh hưởng, hoặc làm mất đi sự thánh thiện trong tâm hồn tín hữu. Nói cách khác, sống tinh thần tỉnh thức là biết ăn năn thống hối, biết dọn tâm hồn bằng một đời sống nhân đức để Chúa có thể chiếm ngự tâm hồn, và tâm hồn thuộc về Chúa hoàn toàn.

2. Cầu nguyện là phương thế tốt nhất để gắn kết phàm trần với thiêng liêng, gắn kết con người với Thiên Chúa. Vì thế, chỉ cần ta ham thích cầu nguyện, thì tự bản thân của việc cầu nguyện đã đưa ta về phía Chúa, đã là cách ta mở đường để Chúa đến chiếm ngự hồn ta. Cầu nguyện là ta đi tìm Thiên Chúa, để bắt gặp chính Người là Đấng hằng đợi chờ, tìm kiến ta. Bởi con người, cái phàm trần yếu đuối, đã có thể tìm gặp Thiên Chúa, Đấng Thánh tuyệt đối, từ ngàn xưa đã đi tìm loài người. Nhờ thế, cái phàm trần yếu đuối nơi loài người càng được thánh hóa, càng vững mạnh, càng được củng cố, càng lãnh nhận nguồn ơn tuyệt hảo là chính Chúa, sức mạnh vô cùng cho loài người.

Hiểu được sự cần thiết của việc chờ đợi niềm hy vọng cánh chung, gắn liền với tỉnh thức và cầu nguyện, tôi đã sống thế nào, đã chuẩn bị gì cho hành trang trong ngày rời trần thế của tôi?

Mùa Vọng lại về, tôi đã có những chuẩn bị cần thiết nào để sống mùa Vọng? Hay cũng như bao nhiêu mùa Vọng đi qua trong đời tôi, chẳng có một quyết tâm nào, chẳng thêm một nhân đức nào, chẳng thay đổi gì về lối sống, về não trạng, về cách làm việc… sao cho xứng với ơn Chúa?

Tôi đã thực sự noi gương sống tỉnh thức và cầu nguyện cho những anh chị em mà Chúa và Hội Thánh trao cho tôi, để gieo ý thức trong lòng họ nhằm lôi cuốn họ về phía Chúa, và đánh động lòng họ, giúp họ hoán cải đời sống chưa?

Mùa Vọng không dừng lại ở một tháng (chẳng hạn tháng 12), nhưng là cả một đời để sống mùa Vọng, sống ơn chờ đợi Chúa đến. Hơn ai hết, chúng ta, những linh mục của Chúa hãy tỉnh thức và cầu nguyện để luôn sẵn sàng trong sự chờ đợi ngày Chúa đến. Hơn bao giờ hết, giữa trăm mối nguy hiểm bất ngờ ập đến, chúng ta, những linh mục của Chúa càng phải là những tuần canh nhạy bén, trước là cho chính mình, sau là cho mọi anh chị em thuộc về mình để tất cả cùng sống mầu nhiệm mùa Vọng trong suốt cuộc đời bằng sự tỉnh thức và cầu nguyện không ngơi nghỉ.