CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG (C)
Dẫn nhập đầu lễ :
Kính thưa ông bà anh chị em,
Nếu con đuờng của “Mùa Vọng” đã khởi đầu với lời mời gọi của Phụng vụ là “Hãy vươn tâm hồn lên tới Chúa” (CNL Chúa Nhật I MV), thì chắc chắn không dừng lại ở đó để an tâm với một lối sống đạo đức chỉ loanh quanh ở nhà thờ với ca kinh và suy gẫm, với lễ lạc và nguyện cầu.
Con đường của Mùa Vọng đang dẫn chúng ta tiến bước trên một lộ trình đức tin năng động và cụ thể mà hôm nay, cả sứ ngôn Barúc lẫn Thánh Gioan Tẩy giả đều minh họa bằng những hình ảnh sống động : “Hãy dọn đường, núi cao hãy bạt xuống, lũng sâu hãy lấp đầy, đường quanh co hãy uốn thẳng ngay…”
Sửa dọn những con đường ấy chính là quyết tâm đứng lên “san bằng những kiêu căng hợm hĩnh, loại bỏ những tính hư tật xấu, đẩy lùi mọi biểu hiện ích kỷ, tham lam, là uốn nắn tâm địa và hành vi theo những kích thước của Tin Mừng, của bác ái yêu thương, của xả thân phục vụ…
Để lời mời gọi của Mùa Vọng hôm nay biến thành hiện thực, và để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh, giờ đây, chúng ta hãy thành tâm thú nhận lỗi lầm.
Giảng Lời Chúa :
Ở giữa khung trời “màu tím của Mùa Vọng”, đan xen giữa những câu ca âm vang nỗi khát vọng, đợi chờ : “Trời cao hãy đổ sương mai, mây ơi hãy mưa Đấng công chính”, đã nổi lên hình ảnh “con đường”, “dọn đường”: “Có tiếng kêu từ nơi hoang vắng mau dọn đường cho Chúa…”, “dọn đường cho Chúa đi, dọn đường cho Chúa đi”.
Có một điều chắc chắn, “con đường của Mùa Vọng” không bao giờ là con đường nhằm gợi lên một nổi u uất buồn tênh hay dẫn lối vào vô vọng bế tắc như kiểu :
“Đi về đâu hỡi em, khi trong lòng không chút nắng, giấc mơ đời xa vắng, bước chân không chờ ai đón. Một đời em mãi lang thang, lòng lạnh băng giữa đau thương”.(Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, “Đời gọi em biết bao lần”). Cũng không phải con đường nhàm chán mõi mệt bởi lẽ :
“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mõi mệt. Trên hai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. (TCS, Một cõi đi về)
Hoàn toàn không như thế. Con đường” của phụng vụ Mùa Vọng gọi mời, “con đường” mà các sứ ngôn ngày xưa như Barúc, I-sa-i-a, hay Gioan Tẩy Giả réo gọi phải sửa sang, phải dọn dẹp “đồi nỗng hãy bạt xuống, hố sâu hãy lấp đầy…” chính là con đường của đức tin, là tác động của sự sống : một lên đường để đi tới, một mở ra để đón nhận, một đổi đời để gặp gỡ.
1. Một mở ra để đón nhận :
Trên 500 năm trước khi Chúa Giáng Trần, xứ Palestin liên tiếp trãi qua những tháng ngày khổ nhục : hết Nabucođônôsô lại đến dân Canđê thi nhau giày xéo. Giêrusalem hoang tàn, từng đoàn dân cúi đầu sống kiếp lang thang lưu đày nơi”quê người đất khách”…Chính trong bối cảnh thất vọng buồn tênh đó, lời của Sứ ngôn Barúc vang lên như một Tin Mừng vĩ đại : “Hỡi Giêrusalem, hãy cởi bỏ áo tang chế khổ nhục, và mặc lấy ánh vinh quang vĩnh cửu…Vì Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao…phải lấp đầy thung lũng…để Ít-ra-en tiến bước an toàn dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa…” (BĐ 1).
Đó là câu chuyện của thế kỷ VI trước công nguyên. Trong khi đó, cũng tại vùng đất Palestina khô cằn sõi đá, vào những năm đầu Công Nguyên, Philatô, tên tổng trấn Rôma đang cai trị Ít-ra-en bằng độc tài khát máu, thì Gioan Tẩy Giả, trong vóc dáng của một “đạo sĩ rừng xanh”, một tiên tri lập dị đã lặp lại lời rao giảng của I-sa-ia :”Có tiếng người hô trong hoang mạc : hãy dọn đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi…” (TM).
Sau những lời sấm ngôn đó, chuyện gì đã xảy ra ? Trước hết, khoảng năm 539 trước công nguyên, Vua Kyro cua Ba-Tư chiếm Ba-by-lon và đã ra sắc chỉ cho phép đoàn dân Do Thái lưu đày được hồi hương, Giê-ru-sa-lem được tái thiết. Trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, quả thật đó là một “tin vui vĩ đại”, đã khơi lên trong muôn vạn cõi lòng dân Ít-ra-en một nỗi vui tràn trào, một hy vọng đầy ắp mà hôm nay chúng ta vẫn còn đọc thấy trong chính đáp vịnh ca của thánh lễ hôm nay với thánh vịnh 125 :
“Khi Chúa dẫn tù nhân Xi-on trở về
ta tưởng mình như giữa giấc mơ.
Vang vang ngoài miệng câu cười nói,
rộn rã trên môi khúc nhạc mừng.
Bước sang thời Tân ước, vào những “năm thứ 15 dưới triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô” sau những lời Gioan Tẩy giả loan báo bên bờ sông Gio-đan, đã có một “Giê-su người Na-gia-rét” xuất hiện với “quyền năng trong lời nói cũng như việc làm” : Kẻ điếc nghe, kẻ câm nói, kẻ mù thấy, kẻ què đi, người phung cùi lành sạch, kẻ bất toại đứng thẳng lên, người chết 4 ngày xác thit đang thối rửa sống lại, hàng ngàn người đói mệt được no nê chỉ với dăm chiếc bánh và vài con cá…và nhất là, toàn dân đuợc nghe một “TIN MỪNG”, “tin mừng Nước Thiên Chúa” đã đến, “Tin mừng Thiên Chúa là Cha yêu thương”, “Tin mừng về một Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta”, tin mừng về một cuộc tái sinh vào đời sống mới, tin mừng về một cuộc sống phục sinh sau cuộc đời dở dang tại thế nầy, Tin mừng về một thế giới được qui tụ thành một gia đình con cái Thiên Chúa…
Đó là câu chuyện của ngày xưa, của Kinh Thánh. Còn đối với cộng đoàn phụng vụ chúng ta giờ nầy, hôm nay, chúng ta sẽ như thế nào trước những “lời mặc khải” như thế ?
Thưa phải mở lòng ra để đón nhận. Đón nhận Đức Kitô và sứ điệp của Ngài, Tin Mừng của Ngài vào đời sống, vào cộng đoàn, vào xã hội. Bởi vì, quả thật, dấu vết của nô lệ, của lưu đày, của què quặt, của đui mù, của cùi phung, của đói khát, của một thế giới như một “Giê-ru-sa-lem hoang tàn vắng bóng Thiên Chúa”, vắng bóng những giá trị nhân bản và Tin Mừng đích thực để thay vào đó là hưởng thụ, dục lạc; một thế giới thay vì hòa bình an vui là bạo lực, khủng bố, chiến tranh; một thế giới thay vì yêu thương, huynh đệ hiệp nhất, lại là ích kỷ, hận thù, cá nhân chủ nghĩa; một thế giới thay vì được xây dựng trên nền tảng là các gia đình chung thủy, thánh thiêng, lại là các cuộc ly dị, ly thân, phá thai, suy đồi luân lý… Trong một thế giới như thế, chúng ta phải mạnh dạn “đón mời Đức Kitô đến”, mở lòng để cho Tin Mừng của Ngài, Tin Mừng Tám Mối Phúc thật với những giá trị anh hùng độc đáo : tinh thần khó nghèo, yêu thương, xây dừng hòa bình, hiền lành, trong sạch…có chỗ trong cuộc sống, trong gia đình, trong cộng đoàn và trong thế giới. Lời đầu tiên của Đức Gioan-Phaolô II khi lên ngôi Giáo Giáo hoàng, và cho đến mãi hôm nay Ngài vẫn lặp lại đó là : “Anh chị em đừng sợ…Hãy mở toang mọi cánh cửa để đón nhận Đức Kitô”. Sứ điệp Mùa Vọng hôm nay đang gọi mời ta như thế.
2. Một đổi đời để gặp gỡ :
Tuy nhiên, nếu cuộc hành trình từ lưu đầy về Giê-ru-sa-lem mới là cả một cuộc xuất hành nhiêu khê, đòi hỏi nhiều gian nan, từ bỏ, khó nhọc, phấn đấu…thì để đón nhận Đức Kitô và sứ điệp của Ngài, lại là một “cuộc xuất hành mới” cam go hơn, thử thách hơn, vất vả hơn. Vì trong cuộc lên đường để gặp gỡ Ngài không chỉ phải “bạt xuống nhưng đồi núi của kiêu căng, hợm hĩnh, của tham vọng ngông cuồng”, mà còn phải “lấp đi những hố sâu của hận thù chia rẽ, ghen ghét giận hờn, đố kỵ, cách ngăn”. Có nghĩa là để đón nhận Đức Kitô và sứ điệp Tin Mừng Nước Thiên Chúa, chúng ta phải “vác thập giá”, phải “đổi đời” (metanoia), phải sửa dọn con đường thích hợp. Chúng ta cần sửa dọn “con đường tâm hồn” ta, “con đường cuộc sống” ta. Chúng ta cần sửa dọn những con đường đến với anh em, những con đường là các tương quan người với người trong gia đình, trong cộng đoàn, trong môi trường xã hội quanh ta…
Nói tới chuyện “dọn dường, sửa đường”, tôi chợt nhớ tới một câu chuyện về “cái hang cùa hai vị ẩn sĩ” :
Tại một vùng núi nọ, người ta truyền tụng cho nhau câu chuyện nầy : Ngày xưa, có hai thầy dòng quyết tâm nên thánh bằng cách chọn con đường ẩn tu. Để thực hiện việc nầy, cả hai thầy lên núi, tìm hai hang động cách xa nhau làm chỗ dung thân để qua hết cuộc đời trong thinh lặng và kết hợp với Chúa. Để cuộc sống ẩn tu đạt kết quả cao, và để khỏi bận tâm, chia trí về những "sự thế gian", cả hai quyết định, hang ai nấy ở, mỗi người một không gian riêng, một thế giới riêng, không liên hệ, không giao tiếp với nhau và với mọi người… Rồi năm tháng qua đi. Cả hai chết lúc nào không ai biết. Hai hang động trở thành hoang phế. Thời gian sau đó, có hai tên cướp bị săn đuổi, đã thay tên, đổi họ, lần mò trốn lên núi nầy để ẩn danh tìm chút bình an cho cuộc sống thừa. Gặp được hai cái hang hoang lạnh của người xưa, cả hai nẩy sinh sáng kiến : chọn nơi đây làm chốn dừng chân để sám hối và làm lại cuộc đời. Thế là cả hai dọn sạch hang cũ và bắt đầu cuộc sống mới của những người "ẩn tu bất đắc dĩ." Chỉ khác với hai thầy dòng trước một điều là cả hai quyết định làm một con đường nối liền hai hang để thường xuyên qua lại, thăm viếng, giúp đỡ, ủi an …Dần dà, dọc theo con đường nối hai hang đã mọc đầy hoa, xung quanh hang động cảnh trí phô đầy sức sống và vẻ đẹp. Hai tên cướp năm nào giờ đây đã trở thành hai vị ẩn tu hiền lành, thánh thiện, đến nổi hương thơm thánh đức lan toả khắp vùng khiến nhiều người cất công lên núi để xin "Hai Thầy" cầu nguyện và hưóng dẫn đạo đức…Và rồi, hai "thầy tướng cướp ẩn tu" đó qua đời. Vì đời sống thánh thiện và vì có những phép lạ xảy ra cho một số người lên núi cầu xin, nên dân chúng vùng đó "tự động" phong thánh cho hai "thầy cướp ẩn tu" nầy…
Kết luận :
Trên cuộc hành trình Mùa Vọng vừa mới bắt đầu, Lời Chúa hôm nay như một lời vẫy gọi thân thương quen thuộc trong nhịp sống đức tin của Dân Chúa : Đổi mới cuộc sống, đổi mới tâm hồn, khai thông mọi con đường để đón nhận Đức Kitô và gặp gỡ anh chị em đồng loại. Chính sự đổi mới nầy, sửa dọn con đường tâm hồn nầy, chúng ta sẽ tìm được một nghị lực mới để lên đường tiến về phía trước, và mới gặp gỡ được Đấng là “Đường, Sự Thật, Sự sống”, để qua Ngài, chúng ta thiết lập những con đường đến với tha nhân trong nghĩa tình huynh đệ, trong bác ái yêu thương.
Giuse Trương đình Hiền
Những con đường của người kitô hữu
Dẫn nhập đầu lễ :
Kính thưa ông bà anh chị em,
Nếu con đuờng của “Mùa Vọng” đã khởi đầu với lời mời gọi của Phụng vụ là “Hãy vươn tâm hồn lên tới Chúa” (CNL Chúa Nhật I MV), thì chắc chắn không dừng lại ở đó để an tâm với một lối sống đạo đức chỉ loanh quanh ở nhà thờ với ca kinh và suy gẫm, với lễ lạc và nguyện cầu.
Sửa dọn những con đường ấy chính là quyết tâm đứng lên “san bằng những kiêu căng hợm hĩnh, loại bỏ những tính hư tật xấu, đẩy lùi mọi biểu hiện ích kỷ, tham lam, là uốn nắn tâm địa và hành vi theo những kích thước của Tin Mừng, của bác ái yêu thương, của xả thân phục vụ…
Để lời mời gọi của Mùa Vọng hôm nay biến thành hiện thực, và để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh, giờ đây, chúng ta hãy thành tâm thú nhận lỗi lầm.
Giảng Lời Chúa :
Ở giữa khung trời “màu tím của Mùa Vọng”, đan xen giữa những câu ca âm vang nỗi khát vọng, đợi chờ : “Trời cao hãy đổ sương mai, mây ơi hãy mưa Đấng công chính”, đã nổi lên hình ảnh “con đường”, “dọn đường”: “Có tiếng kêu từ nơi hoang vắng mau dọn đường cho Chúa…”, “dọn đường cho Chúa đi, dọn đường cho Chúa đi”.
Có một điều chắc chắn, “con đường của Mùa Vọng” không bao giờ là con đường nhằm gợi lên một nổi u uất buồn tênh hay dẫn lối vào vô vọng bế tắc như kiểu :
“Đi về đâu hỡi em, khi trong lòng không chút nắng, giấc mơ đời xa vắng, bước chân không chờ ai đón. Một đời em mãi lang thang, lòng lạnh băng giữa đau thương”.(Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, “Đời gọi em biết bao lần”). Cũng không phải con đường nhàm chán mõi mệt bởi lẽ :
“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mõi mệt. Trên hai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. (TCS, Một cõi đi về)
Hoàn toàn không như thế. Con đường” của phụng vụ Mùa Vọng gọi mời, “con đường” mà các sứ ngôn ngày xưa như Barúc, I-sa-i-a, hay Gioan Tẩy Giả réo gọi phải sửa sang, phải dọn dẹp “đồi nỗng hãy bạt xuống, hố sâu hãy lấp đầy…” chính là con đường của đức tin, là tác động của sự sống : một lên đường để đi tới, một mở ra để đón nhận, một đổi đời để gặp gỡ.
1. Một mở ra để đón nhận :
Trên 500 năm trước khi Chúa Giáng Trần, xứ Palestin liên tiếp trãi qua những tháng ngày khổ nhục : hết Nabucođônôsô lại đến dân Canđê thi nhau giày xéo. Giêrusalem hoang tàn, từng đoàn dân cúi đầu sống kiếp lang thang lưu đày nơi”quê người đất khách”…Chính trong bối cảnh thất vọng buồn tênh đó, lời của Sứ ngôn Barúc vang lên như một Tin Mừng vĩ đại : “Hỡi Giêrusalem, hãy cởi bỏ áo tang chế khổ nhục, và mặc lấy ánh vinh quang vĩnh cửu…Vì Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao…phải lấp đầy thung lũng…để Ít-ra-en tiến bước an toàn dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa…” (BĐ 1).
Đó là câu chuyện của thế kỷ VI trước công nguyên. Trong khi đó, cũng tại vùng đất Palestina khô cằn sõi đá, vào những năm đầu Công Nguyên, Philatô, tên tổng trấn Rôma đang cai trị Ít-ra-en bằng độc tài khát máu, thì Gioan Tẩy Giả, trong vóc dáng của một “đạo sĩ rừng xanh”, một tiên tri lập dị đã lặp lại lời rao giảng của I-sa-ia :”Có tiếng người hô trong hoang mạc : hãy dọn đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi…” (TM).
Sau những lời sấm ngôn đó, chuyện gì đã xảy ra ? Trước hết, khoảng năm 539 trước công nguyên, Vua Kyro cua Ba-Tư chiếm Ba-by-lon và đã ra sắc chỉ cho phép đoàn dân Do Thái lưu đày được hồi hương, Giê-ru-sa-lem được tái thiết. Trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, quả thật đó là một “tin vui vĩ đại”, đã khơi lên trong muôn vạn cõi lòng dân Ít-ra-en một nỗi vui tràn trào, một hy vọng đầy ắp mà hôm nay chúng ta vẫn còn đọc thấy trong chính đáp vịnh ca của thánh lễ hôm nay với thánh vịnh 125 :
“Khi Chúa dẫn tù nhân Xi-on trở về
ta tưởng mình như giữa giấc mơ.
Vang vang ngoài miệng câu cười nói,
rộn rã trên môi khúc nhạc mừng.
Bước sang thời Tân ước, vào những “năm thứ 15 dưới triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô” sau những lời Gioan Tẩy giả loan báo bên bờ sông Gio-đan, đã có một “Giê-su người Na-gia-rét” xuất hiện với “quyền năng trong lời nói cũng như việc làm” : Kẻ điếc nghe, kẻ câm nói, kẻ mù thấy, kẻ què đi, người phung cùi lành sạch, kẻ bất toại đứng thẳng lên, người chết 4 ngày xác thit đang thối rửa sống lại, hàng ngàn người đói mệt được no nê chỉ với dăm chiếc bánh và vài con cá…và nhất là, toàn dân đuợc nghe một “TIN MỪNG”, “tin mừng Nước Thiên Chúa” đã đến, “Tin mừng Thiên Chúa là Cha yêu thương”, “Tin mừng về một Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta”, tin mừng về một cuộc tái sinh vào đời sống mới, tin mừng về một cuộc sống phục sinh sau cuộc đời dở dang tại thế nầy, Tin mừng về một thế giới được qui tụ thành một gia đình con cái Thiên Chúa…
Đó là câu chuyện của ngày xưa, của Kinh Thánh. Còn đối với cộng đoàn phụng vụ chúng ta giờ nầy, hôm nay, chúng ta sẽ như thế nào trước những “lời mặc khải” như thế ?
Thưa phải mở lòng ra để đón nhận. Đón nhận Đức Kitô và sứ điệp của Ngài, Tin Mừng của Ngài vào đời sống, vào cộng đoàn, vào xã hội. Bởi vì, quả thật, dấu vết của nô lệ, của lưu đày, của què quặt, của đui mù, của cùi phung, của đói khát, của một thế giới như một “Giê-ru-sa-lem hoang tàn vắng bóng Thiên Chúa”, vắng bóng những giá trị nhân bản và Tin Mừng đích thực để thay vào đó là hưởng thụ, dục lạc; một thế giới thay vì hòa bình an vui là bạo lực, khủng bố, chiến tranh; một thế giới thay vì yêu thương, huynh đệ hiệp nhất, lại là ích kỷ, hận thù, cá nhân chủ nghĩa; một thế giới thay vì được xây dựng trên nền tảng là các gia đình chung thủy, thánh thiêng, lại là các cuộc ly dị, ly thân, phá thai, suy đồi luân lý… Trong một thế giới như thế, chúng ta phải mạnh dạn “đón mời Đức Kitô đến”, mở lòng để cho Tin Mừng của Ngài, Tin Mừng Tám Mối Phúc thật với những giá trị anh hùng độc đáo : tinh thần khó nghèo, yêu thương, xây dừng hòa bình, hiền lành, trong sạch…có chỗ trong cuộc sống, trong gia đình, trong cộng đoàn và trong thế giới. Lời đầu tiên của Đức Gioan-Phaolô II khi lên ngôi Giáo Giáo hoàng, và cho đến mãi hôm nay Ngài vẫn lặp lại đó là : “Anh chị em đừng sợ…Hãy mở toang mọi cánh cửa để đón nhận Đức Kitô”. Sứ điệp Mùa Vọng hôm nay đang gọi mời ta như thế.
2. Một đổi đời để gặp gỡ :
Tuy nhiên, nếu cuộc hành trình từ lưu đầy về Giê-ru-sa-lem mới là cả một cuộc xuất hành nhiêu khê, đòi hỏi nhiều gian nan, từ bỏ, khó nhọc, phấn đấu…thì để đón nhận Đức Kitô và sứ điệp của Ngài, lại là một “cuộc xuất hành mới” cam go hơn, thử thách hơn, vất vả hơn. Vì trong cuộc lên đường để gặp gỡ Ngài không chỉ phải “bạt xuống nhưng đồi núi của kiêu căng, hợm hĩnh, của tham vọng ngông cuồng”, mà còn phải “lấp đi những hố sâu của hận thù chia rẽ, ghen ghét giận hờn, đố kỵ, cách ngăn”. Có nghĩa là để đón nhận Đức Kitô và sứ điệp Tin Mừng Nước Thiên Chúa, chúng ta phải “vác thập giá”, phải “đổi đời” (metanoia), phải sửa dọn con đường thích hợp. Chúng ta cần sửa dọn “con đường tâm hồn” ta, “con đường cuộc sống” ta. Chúng ta cần sửa dọn những con đường đến với anh em, những con đường là các tương quan người với người trong gia đình, trong cộng đoàn, trong môi trường xã hội quanh ta…
Nói tới chuyện “dọn dường, sửa đường”, tôi chợt nhớ tới một câu chuyện về “cái hang cùa hai vị ẩn sĩ” :
Tại một vùng núi nọ, người ta truyền tụng cho nhau câu chuyện nầy : Ngày xưa, có hai thầy dòng quyết tâm nên thánh bằng cách chọn con đường ẩn tu. Để thực hiện việc nầy, cả hai thầy lên núi, tìm hai hang động cách xa nhau làm chỗ dung thân để qua hết cuộc đời trong thinh lặng và kết hợp với Chúa. Để cuộc sống ẩn tu đạt kết quả cao, và để khỏi bận tâm, chia trí về những "sự thế gian", cả hai quyết định, hang ai nấy ở, mỗi người một không gian riêng, một thế giới riêng, không liên hệ, không giao tiếp với nhau và với mọi người… Rồi năm tháng qua đi. Cả hai chết lúc nào không ai biết. Hai hang động trở thành hoang phế. Thời gian sau đó, có hai tên cướp bị săn đuổi, đã thay tên, đổi họ, lần mò trốn lên núi nầy để ẩn danh tìm chút bình an cho cuộc sống thừa. Gặp được hai cái hang hoang lạnh của người xưa, cả hai nẩy sinh sáng kiến : chọn nơi đây làm chốn dừng chân để sám hối và làm lại cuộc đời. Thế là cả hai dọn sạch hang cũ và bắt đầu cuộc sống mới của những người "ẩn tu bất đắc dĩ." Chỉ khác với hai thầy dòng trước một điều là cả hai quyết định làm một con đường nối liền hai hang để thường xuyên qua lại, thăm viếng, giúp đỡ, ủi an …Dần dà, dọc theo con đường nối hai hang đã mọc đầy hoa, xung quanh hang động cảnh trí phô đầy sức sống và vẻ đẹp. Hai tên cướp năm nào giờ đây đã trở thành hai vị ẩn tu hiền lành, thánh thiện, đến nổi hương thơm thánh đức lan toả khắp vùng khiến nhiều người cất công lên núi để xin "Hai Thầy" cầu nguyện và hưóng dẫn đạo đức…Và rồi, hai "thầy tướng cướp ẩn tu" đó qua đời. Vì đời sống thánh thiện và vì có những phép lạ xảy ra cho một số người lên núi cầu xin, nên dân chúng vùng đó "tự động" phong thánh cho hai "thầy cướp ẩn tu" nầy…
Kết luận :
Trên cuộc hành trình Mùa Vọng vừa mới bắt đầu, Lời Chúa hôm nay như một lời vẫy gọi thân thương quen thuộc trong nhịp sống đức tin của Dân Chúa : Đổi mới cuộc sống, đổi mới tâm hồn, khai thông mọi con đường để đón nhận Đức Kitô và gặp gỡ anh chị em đồng loại. Chính sự đổi mới nầy, sửa dọn con đường tâm hồn nầy, chúng ta sẽ tìm được một nghị lực mới để lên đường tiến về phía trước, và mới gặp gỡ được Đấng là “Đường, Sự Thật, Sự sống”, để qua Ngài, chúng ta thiết lập những con đường đến với tha nhân trong nghĩa tình huynh đệ, trong bác ái yêu thương.
Giuse Trương đình Hiền