Thư Mục Vụ Mùa Vọng 2006
TÔI ĐẶT HY VỌNG VÀO CHÚA
Kính gởi các linh mục, tu sĩ, chủng sinh,
Và toàn thể anh chị em giáo dân giáo phận Mỹ Tho.
Anh chị em thân mến,
Năm 2006 vừa qua, thế giới đã trải qua nhiều biến động đau thương như trận chiến đẩm máu ở Liban, cuộc nội chiến sắc tộc và tôn giáo ở Sudan, chiến tranh đầy hận thù ở Irak và tại Thánh địa Israel-Palestine; nhiều thiên tai dữ dội, mà gần nhất là cơn bão Durian ở Phi Luật Tân. Ở Việt Nam chúng ta, miền Duyên hải Trung phần đã gánh chịu những trận bão làm thiệt hại nhiều tài sản và nhân mạng. Một ít người, dựa vào những sự kiện như vậy để đưa ra những lý luận vẩn vơ về ngày tận thế.
Tôi muốn anh chị em có những suy nghĩ sâu xa và đạo đức hơn. Hãy cố gắng đọc những dấu chỉ của thời đại dưới ánh sáng Mạc khải của Lời Chúa trong Mùa Vọng. Theo như tôi, sự kiện đáng lưu ý nhất và đáng là bài học cho chúng ta trong Mùa Vọng năm nay là chuyến đi Thổ Nhỉ Kỳ của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI.
Tôi muốn dành trọn thư mục vụ này để nói về gương nhân đức trông cậy của ngài. Trông cậy là một nhân đức đặc biệt của Mùa Vọng, khá quen thuộc và dễ hiểu đối với mọi người có đạo. Tôi nghĩ rằng phần lớn anh chi em đều trông cậy vào Chúa, nhưng vẫn chưa đủ, và vì thế nhiều người chưa được bình an và vui sống.
Trong ngôn ngữ ngày nay, người ta dùng từ hy vọng nhiều hơn là chữ trông cậy. Tôi cũng dùng từ ngữ đó để diễn tả tâm tình quan trọng nhất mà tôi muốn gợi lên cho anh chị em năm nay là “chúng ta đặt hy vọng vào Chúa”.
Anh chị em thân mến, nếu được phép suy đoán tâm tình đạo đức trong lòng Đức Thánh Cha, suốt những ngày chuẩn bị chuyến đi mục vụ đại kết của ngài, tôi xin được đọc trong trái tim của ngài tâm tình được diễn tả qua câu thánh ca Việt nam quen thuộc với chúng ta: Tôi đặt hy vọng vào Chúa, tôi tin vững vàng Lời Chúa đã hứa.
Ý nghĩa sâu xa nhất của Mùa Vọng chính là để khơi dậy, nuôi dưỡng niềm hy vọng kitô giáo trước bao nhiêu sóng gió của cuộc đời, thách đố của thời đại, bóng tối của lịch sử, trước những sự dữ lan tràn và các âm mưu của thần dữ.
Lời của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng Chúa Nhật I Mùa Vọng chứa đựng những hình ảnh thật sống động: “Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu” (Lc 21, 25-26).
Mới trong những tháng vừa qua, đã xảy ra những cuộc biểu tình khắp nơi trong các nước Hồi giáo. Các lãnh đạo chính trị và tôn giáo tại các nước đó đã nói lên những lời phê phán chỉ trích gắt gao nhằm vào một đoạn trích dẫn của Đức Thánh Cha trong bài diễn văn của ngài tại Đại học Regensburg ở nước Đức; đoạn trích mà ngài dùng để làm nổi bật ý tưởng là không nên dựa vào lý do tôn giáo để mà bạo động, trái lại hãy bình tĩnh mà sử dụng lý trí thì mới có thể tiến hành được những cuộc đối thoại rất cần thiết trên mọi bình diện.
Có lẽ vì trong môi trường Đại học, nên Đức Thánh Cha chỉ nghĩ đến tư cách của một giáo sư đang nói chuyện với những con người trí thức. Một số báo chí đã đưa câu trích dẫn ấy ra khỏi văn mạch bài diễn văn và đã tạo ra nhiều ngộ nhận. Trước những ngộ nhận quá khủng khiếp ấy, Đức Thánh Cha đã tỏ ra hối tiếc, vì không ngờ mình đã làm mất lòng thế giới Hồi giáo, nhưng ngài vẫn rất bình tĩnh, vì một dạ tin tưởng vào Chúa, đặt niềm hy vọng vào Chúa.
Không có một sự hiểu lầm nào mà không giải toả được, dù nó trầm trọng đến mấy, nhờ ánh sáng và tình yêu của Chúa và nhờ thiện chí của con người. Đức thánh Cha tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, nên ngài cũng tin tưởng vào con người. Ngài tin tưởng vào các anh em Hồi giáo, những người có cùng tổ phụ Abraham với chúng ta, những người tin tưởng vào Thượng Đế, dù niềm tin của họ còn những khác biệt cơ bản với chúng ta.
Đã có nhiều người nghĩ rằng Đức Thánh Cha sẽ huỷ bỏ chuyến đi Thổ Nhỉ Kỳ, vì quá nguy hiểm cho tính mạng và uy tín của ngài, sợ có thể gây thêm một làn sóng phản đối mới còn lớn hơn trước. Là một con người rất khiêm tốn và dịu dàng, Đức Thánh cha vẫn thực hiện Lời của Chúa là đứng thẳng và ngẩng đầu lên (Lc 21, 27); ngài thật giống như thánh Stêphanô, trước sự chống đối của người Do Thái, chăm chú nhìn vào Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây.
Dựa trên những bài tường thuật về chuyến đi của ngài, chúng ta chứng kiến những sự lạ lùng chưa từng thấy. Thiên Chúa đã biến đổi ác cảm thành cảm tình dào dạt dành cho Đức Thánh Cha, từ giới chính trị gia, đến giới trí thức Hồi giáo, và cả giới lãnh đạo tôn giáo. Đức Thánh Cha đã minh chứng một sự can đảm phi thường, sự can đảm của Tình yêu mà ngài rao giảng trong thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu”.
Anh em Hồi Giáo tin Thiên Chúa, chúng ta cũng tin chỉ có một Thiên Chúa, mà Thiên Chúa đó là Tình Yêu, nên Đức Thánh Cha muốn nói với anh em Hồi giáo về Tình yêu của Thiên Chúa. Và ngài đã yêu các anh em ấy, quý trọng các anh em ấy bằng Tình yêu của Thiên Chúa. Các anh em Hồi giáo đã nhận ra sự thành thật của ngài.
Khi tiễn đưa Đức Thánh Cha ra phi trường để trở về Roma, viên Thị Trưởng thành phố Istanbul đã mời Đức Thánh Cha trở lại Istanbul khi có cơ hội, Đức Thánh đã trả lời cách rất chân thành và đơn sơ: “Tôi già rồi, tôi không biết Chúa còn cho tôi bao nhiêu thời gian. Chúng ta trao phó mọi sự trong tay Ngài”.
Bài học mà Đức Thánh Cha dạy cho chúng ta là một bài học tình yêu như lời thánh Phaolô trong thư 1Tx: “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết, cũng như tình thương của chúng tôi đối với anh em vậy” (1 Tx 3, 12).
Anh chị em thân mến, trong thân phận lữ thứ trần gian, mọi người trong giáo phận chúng ta hãy yêu thương nhau và yêu thương những người ngoài kitô giáo trên đất nước chúng ta nhiều hơn nữa. Làm sao để mọi người hiểu rằng tình yêu của người kitô hữu là tình yêu thành thật không man trá. Những điều ác và xấu, không thể bảo là tốt được, nhưng tình yêu của chúng ta thông phần vào Tình yêu của Thiên Chúa, có thể rút từ những sự dữ người khác làm cho mình những điều tốt lành thánh thiện. Thời gian lữ thứ là thời mà tình yêu còn có thể biến đổi con người, cá nhân cũng như tập thể, biến đổi xã hội và đất nước.
Một bài học khác của Mùa Vọng là bài học kiên trì như Lời Chúa đòi hỏi: “Ai kiên nhẫn đến cùng thì sẽ được cứu thoát”. Thánh Phaolô cũng dạy chúng ta: “Chúa sẽ cho anh em được bền tâm vững chí, được trở nên thánh thiện, không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giê-su, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người” (1Tx 3, 13).
Đức Thánh Cha làm gương cho chúng ta về sự kiên trì trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng, trong việc loan báo Tình yêu và Chân lý; ngài can đảm và kiên nhẫn bảo vệ chân lý cho đến cùng, dù bị nhiều người coi là bảo thủ. Thực ra, qua thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu”, ai cũng phải công nhận rằng ngài là một con người rất mạnh dạn, không ngại đảm nhận và gọi đúng tên những gì cần phải đề cập.
Bài học sau cùng và quan trọng nhất, đó là bài học tỉnh thức và cầu nguyện như Lời Chúa dạy cho ta trong Mùa Vọng: “Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người" (Lc 21, 36).
Đức Thánh Cha Bênêđictô của chúng ta quả là một người canh đêm tỉnh táo, sáng suốt và can đảm. Ngài lưu ý Giáo hội và cả thế giới những hiểm nguy của bóng tối mà nhiều người hôm nay lầm tưởng là ánh sáng, điển hình là những chủ nghĩa độc tài mới đang thống trị thế giới như chủ nghĩa duy tương đối, chủ nghĩa duy thế tục. Chân lý bị đe doạ biến mất trong một thế giới thuần chủ quan: người ta hành động theo điều mình suy nghĩ và ước muốn một cách chủ quan.
Đức Thánh Cha còn là một con người cầu nguyện: cả giáo triều Roma, cả Giáo hội hoàn vũ cầu nguyện với ngài và cho ngài trước chuyến đi Thổ Nhĩ Kỳ. Lời cầu nguyện đã biến đổi chuyến đi mục vụ đầy hiểm nguy của ngài trở thành một chuyến đi bình an và thanh thản, như lời ngài nói trước khi rời bỏ phi trường Istanbul.
Các Giáo hội Chính Thống giáo Byzantin ở Constantinople và Arménien ở Istanbul đã rất vui vẻ vì đã được Giáo chủ Giáo hội Roma đến thăm, biểu lộ sự hiệp thông và ước muốn hợp nhất. Giáo hội Byzantin, Arménien và Roma cùng chia sẻ với nhau một niềm hy vọng vào Lời Chúa hứa: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga 12, 32). Cả ba đều muốn đáp ứng lời cầu nguyện hợp nhất của Chúa Giêsu: “để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17, 21).
Giáo hội Công giáo, một thiểu số rất nhỏ là chỉ có 30.000 người cũng được an ủi, vì được Đức Thánh Cha viếng thăm. Ngài đã cùng với giáo dân cầu nguyện cho vị linh mục mới bị sát hại vào khoảng đầu năm.
Anh chị em thân mến, qua việc đọc các dấu chỉ thời đại bằng cái nhìn Đức Tin sâu sắc như trên, tôi tha thiết kêu gọi anh chị em sống Mùa Vọng 2006 với niềm Hy Vọng mãnh liệt, và ở bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống, hãy để cho “Thiên Chúa là Tình Yêu” ngự trị trên nỗi yếu hèn của bản thân chúng ta. Tôi tin tưởng và hy vọng nơi tình thương của anh chị em và nguyện ước mỗi chúng ta có thể vui mừng cất tiếng hoà ca với các Thiên Thần trong đêm Giáng Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm !”
Mỹ Tho, ngày 4-12-2006
Giám Mục Giáo Phận Mỹ Tho
+ Phaolô BÙI VĂN ĐỌC
TÔI ĐẶT HY VỌNG VÀO CHÚA
Kính gởi các linh mục, tu sĩ, chủng sinh,
Và toàn thể anh chị em giáo dân giáo phận Mỹ Tho.
Anh chị em thân mến,
Năm 2006 vừa qua, thế giới đã trải qua nhiều biến động đau thương như trận chiến đẩm máu ở Liban, cuộc nội chiến sắc tộc và tôn giáo ở Sudan, chiến tranh đầy hận thù ở Irak và tại Thánh địa Israel-Palestine; nhiều thiên tai dữ dội, mà gần nhất là cơn bão Durian ở Phi Luật Tân. Ở Việt Nam chúng ta, miền Duyên hải Trung phần đã gánh chịu những trận bão làm thiệt hại nhiều tài sản và nhân mạng. Một ít người, dựa vào những sự kiện như vậy để đưa ra những lý luận vẩn vơ về ngày tận thế.
Tôi muốn anh chị em có những suy nghĩ sâu xa và đạo đức hơn. Hãy cố gắng đọc những dấu chỉ của thời đại dưới ánh sáng Mạc khải của Lời Chúa trong Mùa Vọng. Theo như tôi, sự kiện đáng lưu ý nhất và đáng là bài học cho chúng ta trong Mùa Vọng năm nay là chuyến đi Thổ Nhỉ Kỳ của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI.
Tôi muốn dành trọn thư mục vụ này để nói về gương nhân đức trông cậy của ngài. Trông cậy là một nhân đức đặc biệt của Mùa Vọng, khá quen thuộc và dễ hiểu đối với mọi người có đạo. Tôi nghĩ rằng phần lớn anh chi em đều trông cậy vào Chúa, nhưng vẫn chưa đủ, và vì thế nhiều người chưa được bình an và vui sống.
Trong ngôn ngữ ngày nay, người ta dùng từ hy vọng nhiều hơn là chữ trông cậy. Tôi cũng dùng từ ngữ đó để diễn tả tâm tình quan trọng nhất mà tôi muốn gợi lên cho anh chị em năm nay là “chúng ta đặt hy vọng vào Chúa”.
Anh chị em thân mến, nếu được phép suy đoán tâm tình đạo đức trong lòng Đức Thánh Cha, suốt những ngày chuẩn bị chuyến đi mục vụ đại kết của ngài, tôi xin được đọc trong trái tim của ngài tâm tình được diễn tả qua câu thánh ca Việt nam quen thuộc với chúng ta: Tôi đặt hy vọng vào Chúa, tôi tin vững vàng Lời Chúa đã hứa.
Ý nghĩa sâu xa nhất của Mùa Vọng chính là để khơi dậy, nuôi dưỡng niềm hy vọng kitô giáo trước bao nhiêu sóng gió của cuộc đời, thách đố của thời đại, bóng tối của lịch sử, trước những sự dữ lan tràn và các âm mưu của thần dữ.
Lời của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng Chúa Nhật I Mùa Vọng chứa đựng những hình ảnh thật sống động: “Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu” (Lc 21, 25-26).
Mới trong những tháng vừa qua, đã xảy ra những cuộc biểu tình khắp nơi trong các nước Hồi giáo. Các lãnh đạo chính trị và tôn giáo tại các nước đó đã nói lên những lời phê phán chỉ trích gắt gao nhằm vào một đoạn trích dẫn của Đức Thánh Cha trong bài diễn văn của ngài tại Đại học Regensburg ở nước Đức; đoạn trích mà ngài dùng để làm nổi bật ý tưởng là không nên dựa vào lý do tôn giáo để mà bạo động, trái lại hãy bình tĩnh mà sử dụng lý trí thì mới có thể tiến hành được những cuộc đối thoại rất cần thiết trên mọi bình diện.
Có lẽ vì trong môi trường Đại học, nên Đức Thánh Cha chỉ nghĩ đến tư cách của một giáo sư đang nói chuyện với những con người trí thức. Một số báo chí đã đưa câu trích dẫn ấy ra khỏi văn mạch bài diễn văn và đã tạo ra nhiều ngộ nhận. Trước những ngộ nhận quá khủng khiếp ấy, Đức Thánh Cha đã tỏ ra hối tiếc, vì không ngờ mình đã làm mất lòng thế giới Hồi giáo, nhưng ngài vẫn rất bình tĩnh, vì một dạ tin tưởng vào Chúa, đặt niềm hy vọng vào Chúa.
Không có một sự hiểu lầm nào mà không giải toả được, dù nó trầm trọng đến mấy, nhờ ánh sáng và tình yêu của Chúa và nhờ thiện chí của con người. Đức thánh Cha tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, nên ngài cũng tin tưởng vào con người. Ngài tin tưởng vào các anh em Hồi giáo, những người có cùng tổ phụ Abraham với chúng ta, những người tin tưởng vào Thượng Đế, dù niềm tin của họ còn những khác biệt cơ bản với chúng ta.
Đã có nhiều người nghĩ rằng Đức Thánh Cha sẽ huỷ bỏ chuyến đi Thổ Nhỉ Kỳ, vì quá nguy hiểm cho tính mạng và uy tín của ngài, sợ có thể gây thêm một làn sóng phản đối mới còn lớn hơn trước. Là một con người rất khiêm tốn và dịu dàng, Đức Thánh cha vẫn thực hiện Lời của Chúa là đứng thẳng và ngẩng đầu lên (Lc 21, 27); ngài thật giống như thánh Stêphanô, trước sự chống đối của người Do Thái, chăm chú nhìn vào Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây.
Dựa trên những bài tường thuật về chuyến đi của ngài, chúng ta chứng kiến những sự lạ lùng chưa từng thấy. Thiên Chúa đã biến đổi ác cảm thành cảm tình dào dạt dành cho Đức Thánh Cha, từ giới chính trị gia, đến giới trí thức Hồi giáo, và cả giới lãnh đạo tôn giáo. Đức Thánh Cha đã minh chứng một sự can đảm phi thường, sự can đảm của Tình yêu mà ngài rao giảng trong thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu”.
Anh em Hồi Giáo tin Thiên Chúa, chúng ta cũng tin chỉ có một Thiên Chúa, mà Thiên Chúa đó là Tình Yêu, nên Đức Thánh Cha muốn nói với anh em Hồi giáo về Tình yêu của Thiên Chúa. Và ngài đã yêu các anh em ấy, quý trọng các anh em ấy bằng Tình yêu của Thiên Chúa. Các anh em Hồi giáo đã nhận ra sự thành thật của ngài.
Khi tiễn đưa Đức Thánh Cha ra phi trường để trở về Roma, viên Thị Trưởng thành phố Istanbul đã mời Đức Thánh Cha trở lại Istanbul khi có cơ hội, Đức Thánh đã trả lời cách rất chân thành và đơn sơ: “Tôi già rồi, tôi không biết Chúa còn cho tôi bao nhiêu thời gian. Chúng ta trao phó mọi sự trong tay Ngài”.
Bài học mà Đức Thánh Cha dạy cho chúng ta là một bài học tình yêu như lời thánh Phaolô trong thư 1Tx: “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết, cũng như tình thương của chúng tôi đối với anh em vậy” (1 Tx 3, 12).
Anh chị em thân mến, trong thân phận lữ thứ trần gian, mọi người trong giáo phận chúng ta hãy yêu thương nhau và yêu thương những người ngoài kitô giáo trên đất nước chúng ta nhiều hơn nữa. Làm sao để mọi người hiểu rằng tình yêu của người kitô hữu là tình yêu thành thật không man trá. Những điều ác và xấu, không thể bảo là tốt được, nhưng tình yêu của chúng ta thông phần vào Tình yêu của Thiên Chúa, có thể rút từ những sự dữ người khác làm cho mình những điều tốt lành thánh thiện. Thời gian lữ thứ là thời mà tình yêu còn có thể biến đổi con người, cá nhân cũng như tập thể, biến đổi xã hội và đất nước.
Một bài học khác của Mùa Vọng là bài học kiên trì như Lời Chúa đòi hỏi: “Ai kiên nhẫn đến cùng thì sẽ được cứu thoát”. Thánh Phaolô cũng dạy chúng ta: “Chúa sẽ cho anh em được bền tâm vững chí, được trở nên thánh thiện, không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giê-su, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người” (1Tx 3, 13).
Đức Thánh Cha làm gương cho chúng ta về sự kiên trì trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng, trong việc loan báo Tình yêu và Chân lý; ngài can đảm và kiên nhẫn bảo vệ chân lý cho đến cùng, dù bị nhiều người coi là bảo thủ. Thực ra, qua thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu”, ai cũng phải công nhận rằng ngài là một con người rất mạnh dạn, không ngại đảm nhận và gọi đúng tên những gì cần phải đề cập.
Bài học sau cùng và quan trọng nhất, đó là bài học tỉnh thức và cầu nguyện như Lời Chúa dạy cho ta trong Mùa Vọng: “Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người" (Lc 21, 36).
Đức Thánh Cha Bênêđictô của chúng ta quả là một người canh đêm tỉnh táo, sáng suốt và can đảm. Ngài lưu ý Giáo hội và cả thế giới những hiểm nguy của bóng tối mà nhiều người hôm nay lầm tưởng là ánh sáng, điển hình là những chủ nghĩa độc tài mới đang thống trị thế giới như chủ nghĩa duy tương đối, chủ nghĩa duy thế tục. Chân lý bị đe doạ biến mất trong một thế giới thuần chủ quan: người ta hành động theo điều mình suy nghĩ và ước muốn một cách chủ quan.
Đức Thánh Cha còn là một con người cầu nguyện: cả giáo triều Roma, cả Giáo hội hoàn vũ cầu nguyện với ngài và cho ngài trước chuyến đi Thổ Nhĩ Kỳ. Lời cầu nguyện đã biến đổi chuyến đi mục vụ đầy hiểm nguy của ngài trở thành một chuyến đi bình an và thanh thản, như lời ngài nói trước khi rời bỏ phi trường Istanbul.
Các Giáo hội Chính Thống giáo Byzantin ở Constantinople và Arménien ở Istanbul đã rất vui vẻ vì đã được Giáo chủ Giáo hội Roma đến thăm, biểu lộ sự hiệp thông và ước muốn hợp nhất. Giáo hội Byzantin, Arménien và Roma cùng chia sẻ với nhau một niềm hy vọng vào Lời Chúa hứa: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga 12, 32). Cả ba đều muốn đáp ứng lời cầu nguyện hợp nhất của Chúa Giêsu: “để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17, 21).
Giáo hội Công giáo, một thiểu số rất nhỏ là chỉ có 30.000 người cũng được an ủi, vì được Đức Thánh Cha viếng thăm. Ngài đã cùng với giáo dân cầu nguyện cho vị linh mục mới bị sát hại vào khoảng đầu năm.
Anh chị em thân mến, qua việc đọc các dấu chỉ thời đại bằng cái nhìn Đức Tin sâu sắc như trên, tôi tha thiết kêu gọi anh chị em sống Mùa Vọng 2006 với niềm Hy Vọng mãnh liệt, và ở bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống, hãy để cho “Thiên Chúa là Tình Yêu” ngự trị trên nỗi yếu hèn của bản thân chúng ta. Tôi tin tưởng và hy vọng nơi tình thương của anh chị em và nguyện ước mỗi chúng ta có thể vui mừng cất tiếng hoà ca với các Thiên Thần trong đêm Giáng Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm !”
Mỹ Tho, ngày 4-12-2006
Giám Mục Giáo Phận Mỹ Tho
+ Phaolô BÙI VĂN ĐỌC