NGHĨ VỀ MỘT GIÁNG SINH ĐÃ QUA



Có lẽ không có đứa trẻ nào lại không háo hức mỗi dịp Giáng sinh về. Trẻ con ở những nước tân tiến trông chờ Giáng sinh để được nhận quà tặng. Hầu hết trẻ con ở Mỹ coi việc nhận được quà vào dịp Giáng sinh là việc đương nhiên, không thể thiếu. Nhưng ở những nước nghèo như Việt Nam thì không phải đứa trẻ nào cũng nhận được quà tặng vào dịp Giáng sinh. Tuy vậy chúng vẫn mong đợi Giáng sinh đến để được sống trong không khí tưng bừng của ngày hội, được diện quần áo đẹp, được đến nhà thờ chiêm ngưỡng hang đá Giáng sinh với tượng chúa Hài đồng, Đức Mẹ, thánh Giuse cùng với bò lừa được trưng bày bên máng cỏ.

Hồi còn nhỏ tôi chưa biết gì về huyền thoại ông già Noel lại sống ở nhà quê, nhà nghèo cũng chẳng có quần áo đẹp để chưng diện nhưng mỗi dịp Giáng sinh về tôi cũng háo hức lắm. Ngay từ những ngày trước Giáng sinh tôi đã tìm đến xem những nơi người lớn chuẩn bị cho ngày lễ như làm cổng chào, làm đèn ngôi sao, làm hang đá hay kết hoa giăng đèn trong nhà thờ. Cũng có khi tôi bắt chước người lớn tự làm cho mình một hang đá nhỏ nhưng chỉ là hang đá trống mà thôi. Là con nhà nghèo tôi làm gì có tiền mua tượng Giáng sinh để bỏ vào trong hang đá dù đó là niềm mơ ước.

Khi lớn lên, hòa nhập với nếp sống nơi thành thị, vào mỗi dịp Giáng sinh, tôi cũng bắt chước người ta gửi thiệp cho người thân và bạn bè. Khi đã có gia đình và ở riêng tôi thích trang hoàng cho căn nhà của mình vào mỗi dịp Giáng sinh như treo đèn và làm cây thông Noel ở phòng khách. Cây thông có khi là cây thông tươi mua từ Đà Lạt hoặc cây thông giả được trang hoàng bằng những dây đèn chớp nháy và dây kim tuyến. Cây thông được đặt ở giữa phòng khách có treo tòn ten những tấm thiệp với những lời chúc tốt đẹp tôi nhận được từ người thân hay bạn bè. Chiếc đèn ngôi sao với bóng điện thật sáng ở bên trong được treo trên cao soi sáng cả xóm, làm nổi bật căn nhà của một người có đạo ở trong một khu xóm ít người có đạo. Tôi nghĩ đó cũng là một việc làm để vinh danh Chúa. Có năm cao hứng vợ chồng tôi còn làm bánh nướng đem biếu mấy nhà ở kế bên như muốn chia sẻ với họ niềm vui Giáng sinh.

Khi có con cái, vào mỗi dịp Giáng sinh tôi đều mua hoặc tự làm cho chúng một hang đá nhỏ có tượng Giáng sinh ở bên trong. Tôi hăng say làm việc này như để bù lại niềm mơ ước lúc còn nhỏ mà tôi không sao thực hiện được. Các con tôi thích lắm. Chúng hãnh diện khi dẫn bạn đến xem hang đá.

Sau khi đã chuẩn bị cho căn nhà có cái không khí Giáng sinh, đến tối 24, lẫn trong đoàn người đông đảo, tôi chở vợ con đi một vòng qua các nhà thờ quanh thành phố để ngắm nhìn những công trình trang hoàng thật công phu và lộng lẫy trước khi đến nhà thờ giáo xứ để dự lễ nửa đêm. Sau thánh lễ, theo thông lệ, tôi phải đưa vợ con đến nhà ông bà nhạc ăn “rề-vây-ông” rồi mới về nhà, không khi nào được phá lệ.

Những sinh hoạt của gia đình tôi vào mỗi dịp Giáng sinh cứ diễn đi diễn lại như vậy từ năm này qua năm khác. Năm nào cũng bắt đầu và kết thúc giống nhau không có gì khác mãi cho đến lễ Giáng sinh năm1975.

Sau biến cố đổi đời, chính quyền miền Nam sụp đổ, tôi chia tay với vợ con. Trong lúc vợ con tôi trở về Nha Trang thì tôi ở lại Sài gòn để trình diện đi “học tập cải tạo”. Thế rồi vào một đêm khuya khoắt, từ điểm tập trung đầu tiên là trường Đại học Kiến trúc Sài gòn, tôi và đoàn người cùng cảnh ngộ được chuyển đến một trại tập trung khác ở Suối Máu thuộc Tam Hiệp, Biên Hòa. Từ ngày tới trại này cuộc sống bị tách biệt hẳn với bên ngoài. Người sống trong trại chỉ biết những gì bên trong hàng rào kẽm gai ngoài ra không hề hay biết đến những gì đang xẩy ra ở bên ngoài. Trong thời gian ở đây mỗi sáng sớm tôi đều nghe văng vẳng tiếng chuông và đoán biết ở đâu đó không xa có một ngôi nhà thờ Công giáo. Biết có một ngôi nhà thờ ở không xa nhưng đến đó thì không thể vì tôi không được phép bước ra khỏi nơi đang bị cầm giữ.

Tâm trạng của tôi lúc đó cũng gần giống như tâm trạng của ĐHY Nguyễn Văn Thuận khi ngài bị giam giữ tại Nha Trang. Nghe tiếng chuông nhà thờ từ nhà giam, ngài nghĩ đến đoàn chiên mà ngài có bổn phận phải chăn dắt nhưng lại không thể đến với họ, Ngài nói sự xa lìa giáo dân làm cho tim ngài tan nát. Còn tôi thì tiếng chuông nghe được từ nơi bị giam giữ như bảo tôi rằng từ nay cuộc sống êm đềm với gia đình không còn nữa. Có thể tôi sẽ chẳng bao giờ còn được gặp lại vợ con nữa.

Mùa Giáng sinh năm 1975 đến với tôi trong cảnh cá chậu chim lồng khiến cho càng gần đến ngày lễ Giáng sinh tôi càng bồn chồn, không yên. Nằm ở trong trại không một tin tức từ bên ngoài, tôi không biết vợ con tôi hiện đang sống ra sao. Đây là lần đầu tiên tôi phải sống xa cách gia đình. Tôi như đứt ruột khi nghĩ tới những đứa con thơ dại. Giáng sinh này tôi không có mặt ở nhà để chuẩn bị cho chúng một hang đá nhỏ như tôi vẫn thường làm và cũng không còn được cùng vợ con vui hưởng không khí Giáng sinh như những năm trước.

Đêm 24 với bao nhiêu điều trăn trở khiến tôi trằn trọc không sao ngủ được. Tôi đã thức gần như suốt đêm cho đến khi nghe tiếng chuông quen thuộc vang lên và biết được trời đã gần sáng. Tôi bước ra ngoài hướng về nơi tiếng chuông phát ra để hình dung những gì đang diễn ra ở đó. Có lẽ giờ này cửa nhà thờ đang mở rộng với đèn nến sáng trưng để đón giáo dân đến dự thánh lễ kỷ niệm Chúa Giáng sinh lần thứ 1975 trong lúc tôi không thể đến nhà thờ. Thật không thể nào ngờ trong đời tôi lại có một lần đón Giáng sinh trong cảnh ngộ như thế này. Một lễ Giáng sinh buồn tẻ, không hoa, đèn, không hang đá, không lời chúc tụng, không “rề-vây-ông” và cả không thánh lễ.Tôi nhắm mắt thầm thĩ cầu nguyện xin Chúa cho tôi quên đi những lo lắng, buồn phiền đang đè nặng lên cuộc sống hiện tại để tâm hồn được lắng đọng hầu hợp ý với cộng đoàn dân Chúa dâng thánh lễ thiêng liêng mừng ngày Chúa Giáng sinh.

Trong giây lát tôi bị thu hút bởi tiếng hát phát ra từ một loa phóng thanh có lẽ được đặt trên ngọn tháp cao của ngôi nhà thờ. Tiếng hát lúc rõ lúc không tùy theo làn gió mang theo tiếng hát thổi mạnh hay yếu về phía tôi đang đứng. Tuy vậy tôi cũng nhận ra được bài hát đó là bài “Đêm Thánh Vô Cùng” một bản nhạc Giáng sinh nổi tiếng mà không có người Công giáo nào không biết đến. Gặp được lúc gió thổi mạnh tôi nghe rất rõ hai câu trong bài hát do những giọng nữ cất cao:

“Ai ham sống trong lạc thú

Nhớ rằng Chúa đang đền bù”.

Bài hát này tôi đã nghe và đã hát biết bao nhiêu lần trong đời nhưng lần này tôi mới thấm thía ý nghĩa của từng chữ, từng câu. Lời hát vừa như một lời cảnh cáo vừa như mời gọi tôi hãy giục lòng sám hối, một nghi thức mà linh mục cũng như giáo dân bắt buộc phải làm mỗi khi bắt đầu cử hành thánh lễ. Tôi cúi đầu làm dấu thánh giá rồi đọc kinh “Cáo mình”. Tôi nhận ra rằng chưa bao giờ tôi đọc kinh này sốt sắng với tâm tình thống hối ăn năn như lần này. Phải chăng trong những hoàn cảnh không được thuận lợi người ta dễ gần gũi với Chúa hơn? Và phải chăng để đón Chúa, không phải chỉ bằng hình thức bên ngoài mà phải bằng chính con tim.

(Đầu Mùa Vọng 2006)