KHI CỬ HÀNH THÁNH LỄ MỘT MÌNH
Hỏi: Tôi mới nói chuyện với một số anh em linh mục của tôi về sự cử hành một Thánh Lễ riêng không có chú giúp lễ và không có cộng đồng, chỉ một mình linh mục. Xem ra không có thống nhất việc này phải làm sao, và điều duy nhất chúng ta có thể gặp được trong Qui Chế Tổng Quát Sách Lễ Roma (GIRM) là một ít hàng trong Số 254. Số đó nói, “Nếu không có lý do chính đáng và hợp lý, không được cử hành Thánh Lễ mà không có người giúp hay ít ra là một tín hữu. Trong trường hợp này, bỏ các lời chào, lời nhấ¨n nhủ và phép lành cuối lễ.” Tôi biết câu hỏi này thật sự phần đông dân chúng không quan tâm, nhưng tôi tưởng nhiều linh mục (ít ra những linh mục tôi đã nói chuyện với) muốn có một số chỉ dẫn về vấn đề này.- D.C., Sioux Falls, South Dakota
Giải đáp của Cha Edward McNamara, giáo sư phụng vụ tại đại học Regina Apostolorum: Người biên thư cho chúng tôi cũng đã trình bày một kế hoạch về điều anh tin sẽ bị bỏ trong trường hợp này. Tôi muốn sử dụng kế hoạch đó mặc dầu thay đổi vài chi tiết.
Mặc dầu điều này có thể xem ra là một điểm không rõ ràng đúng hơn, không gì trong phụng vụ là mờ nghĩa đến nỗi các nhà chuyên phụng vụ không thể gặp những điểm bất đồng—và điều này không có luật trừ. Do đó một số điều tôi nói đúng là ý kiến cá nhân của tôi dựa trên điều tôi tưởng là một sự giải thích đầy đủ về luật.
Phương diện khó nhất để giải thích liên quan tới điều được bao gòm dưới từ Latinh “Monitions.-lệnh cảnh cáo.” Từ này được dịch ra tiếng Anh như “những nhận xét dẫn nhập hay là giải thích” có thể gây nên một sự giải thích rất rộng.
Những ngôn ngữ khác thường thích giữ từ kỹ thuật “monitions,” từ này có thể hạn chế hơn. Đàng khác, không phải chữ đỏ Latin gốc cũng không phải những dịch thuật thật sự là điều hữu ích trong sự giải quyết của chúng tôi. Theo như tôi biết không có sự giải thích chính thức từ Tòa Thánh.
Trước khi đi vào chi tiết tôi muốn lưu ý rằng một số linh mục tưởng rằng hình thức Thánh Lễ này không có giáo dân tham dự thì bây giờ bị cấm. Không phải như vậy. Trên thật tế, giáo luật hiện hành, khi đòi hỏi một nguyên nhân chính đáng để cử hành một mình, và không còn đòi một nguyên nhân trầm trọng như bộ giáo luật 1917 đã đòi, bây giờ đã làm dễ dàng hơn việc cử hành một Thánh Lễ như thế, cho dầu Thánh lễ ấy vẫn luôn được coi như là một luật trừ và phải tránh khi có thể.
Dù sao đi nữa, nhiều linh mục trong một số dịp phải đối mặt sự lựa chọn cử hành một mình, hay là không cử hành. Cả giáo luật và luật ân sủng khuyên cử hành Thánh lễ như là việc tốt hơn phải làm.
Kiểu mẫu cơ bản phải theo sẽ là nghi thức Thánh Lễ với một thừa tác viên hiện diện mà thôi, bỏ bất cứ cái gì liên hệ với người thừa tác viên này cũng như những cử điệu quay về phía thừa tác viên để chào.
Do đó khi một linh mục cử hành một mình, ngài làm như sau:
--Sau khi hôn bàn thờ ngài đọc ca nhập lễ và làm dấu thánh giá.
--Ngài bỏ lời chào ở đầu Thánh Lễ (“Dominus vobiscum”- Chúa ở cùng anh chị em”} và lời mời sám hối lúc bắt đầu (“Fratres, agnoscamus…Anh chị em, chúng ta hãy nhìn nhận”}. Phần còn lại của nghi thức sám hối như thường lệ.
--Ngài đọc lời mời đọc những lời nguyện (”Oremus”}, vì những lời mời này không hẳn là những lời mời hướng về phía dân chúng, nhưng là những lời mời trong đó ngài cũng được bao hàm. Cũng một tiêu chuẩn phải tuân theo cho sự dẫn nhập vào kinh Lạy Cha không được bỏ.
--Linh mục bao gòm việc dẫn nhập vào các bài đọc và bài Tin Mừng (Lestio sancti…Bài trích sách”} nhưng bỏ lời chào dân chúng khi đọc Tin Mừng (Dominus vobiscum”). Ngài đọc câu kết cho các bài đọc và bài Tin Mừng {“Verbum Domini- Đó là lời Chúa”} Những điều này cũng có ích cho ngài và không hẵn là những lời chào dân chúng.
--Khi dâng những lễ phẩm, ngài đọc những kinh dâng bánh và rượu nhưng bỏ câu đáp “Blessed be God-Chúc tụng Thiên Chúa—“ Ngài cũng bỏ “Orate, fratres –anh chị em hãy cầu nguyện” ) cùng với câu đáp “Xin Chúa nhận…”
--Không như những “Dominus vobiscum” khác, tôi tin rằng cụm từ Dominus vobiscum làm thành phần nghi thức đầu tiên của cuộc đối thoại tiền tụng, nên phải được nói luôn. Những qui tắc thì rõ là Kinh Thánh Thể phải luôn luôn được đọc nguyên vẹn và giũ hình thức số nhiều cả khi linh mục cử hành một mình. Vì sự đối thoại này không phân ly khỏi Kinh Thánh Thể nên phải dược đọc luôn.
Ung hộ cho giải thích này về đặc tính riêng biệt của cụm từ “Dominus vobiscum”, là sự kiện dầu khi thánh lễ thường được cử hành xây về hướng đông, chữ đỏ không xin linh mục quay về phía dân chúng lúc này như xảy ra trong hầu hết các trường hợp khác, nhưng nên nhìn thánh giá bàn thờ.
--Mặc dầu Kinh Thánh Tthể phải được đọc nguyên vẹn, lời tung hô kính nhớ (“Đây là mầu nhiệm đức tin”} không phải là thành phần kinh. Do đó bỏ lời dẫn nhập cả lời tung hô. Chữ đỏ này rõ ràng được á©n định trong một số hội dòng cho việc đồng tế khi chỉ có các linh mục hiện diện trong Thánh lễ.
--Bỏ sự ban bình an (“Bính an của Chúa hằng…”)
--Lúc nâng lên bánh thánh thì dễ mà lẫn lộn. Trên thực tế chúng ta có hai kinh đặt bên nhau.
Ở đây, phải theo qui tắc số 268 GIRM: “Nếu người giúp không rước lễ, [hay là không có người giúp lễ] thi sau khi quì gối xong, ngài cầm bánh thánh và quay mặt về bàn thơ, đọc thầm ‘Lạy Chúa con chẳng đáng’ và ‘Xin Mình Thánh Chúa kitô gin giữ’, rồi rước Mình Thánh Chúa Kitô. Đoạn ngài cầm lấy chén và đọc thầm, ‘Xin máu thánh Chúa kitô gìn giữ’ và rước lấy máu Thánh.”
Sau khi Rước Lễ linh mục đọc ca Hiệp Lễ trước khi chùi các bình thánh.
--Sau một lúc thinh lặng cám ơn linh mục đọc “Chúng ta hãy cầu nguyện” và đọc kinh sau khi Rước Lễ.
--Bỏ phép lành sau cùng và câu “Ite missa est-lễ xong”. Thánh Lễ kết thúc với câu “Nhờ Đức Kitô Chúa chúng ta. Amen” của kinh kết, sau đó hôn bàn thờ hay là bái bàn thờ hay là bái gối trước nhà tạm, theo trường hợp, truơc khi rút lui.
Những cử chỉ này được xem như là những hình thức đủ để kết thúc. Không cần thêm những cử điệu khác không tiên liệu trong sách nghi thức như làm dấu thánh giá.
Dĩ nhiên, điều này không loại trừ chút nào lời khuyên là, liền sau Thánh Lễ, linh mục dành riêng một số thời gian tạ ơn cá nhân vì ân sủng và đặc ân được cử hành Hy Lễ Thánh.
Giải đáp tiếp về: Sách Chỉ 1570 của Đức Pius V
Một số độc giả viết thư để chứng thực những bài giải thích của chúng tôi (Oct.31) về hiệu lực pháp lý sắc chỉ “Quo Primum” của Đức Thánh Giáo Hoàng Pius V.
Một người biên thư Cincinnati đã viết: “Huấn thị in trong Sách lễ Roma 1570 có lợi cho những kẻ in làm báo. Như vậy là để bảo đảm rằng mọi sự phải được in cho chính xác như Giáo Hội muốn không có những lỗi lầm nghiêm trọng, cố ý hay cách khác.”
Thật vậy, hơn hết, phần cuối của văn kiện chứa đựng một số câu diễn đạt về sự tuyệt thông và cách riêng liên quan những người in ở ngoài tầm thẩm quyền dân sự của Đức Giáo Hoàng. Những kẻ ở duới thẩm quyền của ngài bị hơn hết phạt tiền và mất phép in.
Phần trước của sắc chỉ qui chiếu về những người in cũng như qui chiếu về “ mọi thượng phụ, giám đốc và tất cả những người khác thuộc bất cứ phẩm giá nào trong Giáo Hội, có khi là các Hồng Y của Thánh Giáo Hội Roma hay là những vị có bất cứ cấp bậc nào hay là có thành tích xuất sắc,” những kẻ từ nay bắt buộc phải theo sách lễ mới và cấm thay đổi bất cứ sự gì.
Điều đáng ghi nhận là sắc chỉ không chỗ nào nhắc tới bất cứ quyền lực trói buộc nào trên hành động giáo hoàng tương lai.
Một người biên thư khác viết từ Trung Đông cho biết trường hợp song song của văn kiện 1568 “Quod a vobis” giới thiệu sách breviary (giờ kinh) Roma mới hai năm trước sách lễ mới. Văn kiện chứa đựng nhiều kiểu nói tương tự như “Quo Primum” liên quan, ví dụ, sức mạnh vĩnh viển của luật, sự bắt buộc sử dụng trong mọi nơi, và triệt để cấm thêm hay bỏ điều gì.
Độc giả chúng tôi lại giải thích: “Như cha chắc biết rõ, Thánh Pius X đã triệt để sắp xếp lại sách Thánh Vịnh Roma cũ và thay đổi một ít bài đọc cho một ít ngày, và cung cấp những bài đọc ngắn hơn, giữa những thay đổi khác trong năm 1913. Hơn nữa ngài cấm sử dụng Sách Thánh Vịnh cũ. Điều này chứng tỏ ngài không bị ràn buộc bởi những mệnh lệnh phát hành trong ‘Quod Primum’ và bởi vì những mệnh lệnh này giống như những mệnh lệnh của ‘Quo Primum,’ những mệnh này cũng không bắt buộc.
“Tôi đã gặp việc sử dụng ‘Quod a Nobis/ có hiệu nghiệm hơn bởi vì những người ủng hộ ‘Quo Primum’ lập luận rằng nó chỉ hạn chế cho phần Ordinary-phần Chung (hoặc là tất cả hay là từ phần Dâng Lễ cho tới bài Tin Mừng cuối), hay là hạn chế cho phần Temporale –theo Mùa mà thôi (mặc dầu sự rõ ràng trong các thông điệp như ‘Grande Munus’ ngược lại). Vì sách Thánh Vịnh là phần cơ bản nhất của sách kinh, không có công bố nào như vậy liên quan với ‘Quod a Nobis.’“
Các độc giả có thể gởi những câu hỏi tới liturgy@zenit.org. Xin đặt tiếng “Liturgy” trong phần chủ đề (subject). Trong thư xin đề: Họ và Tên, thành phố, tiểu bang và Quốc gia.