ĐỨC GIÊSU CẦU NGUYỆN CHO SỰ HIỆP NHẤT

(Gioan 17,11-19 – CN VII PS - B; Các Thánh TĐVN)

1.- Ngữ cảnh

a) Tính xác thực của ch.17

Hai diễn từ cáo biệt của Đức Giêsu kết thúc bằng lời cầu nguyện long trọng duy nhất này. Chúng ta có cảm tưởng một khi đã khẳng định: “Thầy đã thắng thế gian” (16,33), Đức Giêsu đã bước qua ngưỡng cửa của thế giới vĩnh cửu. Vậy phải đọc lời cầu nguyện này như một Bài Tiền Tụng Phụng vụ, y như thể Đức Giêsu đã long trọng đọc hoặc hát lên vào ngay lúc Người đi vào trong vinh quang của Người. Tác giả cho Đức Giêsu nói vừa y như thể Người còn đang còn ở trong thế gian (17,13.19), vừa y như thể Người đã rời khỏi thế gian (17,4.11.12.18). Trong tâm trí của tác giả, Chúa Con vừa trở về cung lòng Chúa Cha vừa hát bài hoan ca này (1,18; 13,1-3).

Như thế, không thể cho rằng lời cầu nguyện này là một thánh ca đã được đọc trong phòng Tiệc Ly. Và cũng không thể cho rằng tác giả Gioan hoặc một vị thầy nào trong Giáo Hội tiên khởi đã sáng tác ra lời cầu nguyện này rối gán cho Đức Giêsu. Do cấu trúc cũng như do những yếu tố căn bản nhất của nó, lời cầu nguyện này được liên kết với biến cố lịch sử là Bữa Tiệc Ly, chẳng hạn : có những qui chiếu về “Giờ”, có những điểm gặp gỡ với diễn từ về Bánh trường sinh (ch.6), vị trí ranh giới giữa cuộc sống trong thế gian và cuộc sống bên Chúa Cha, mối bận tâm đến những người còn ở trong thế gian, lời gợi đến sự phản bội (17,12), đến sứ mạng của các môn đệ, đến sự từ bỏ cho đến chết. Tác giả Gioan đã ghi nhận những cử chỉ, những lời nói của Đức Giêsu hôm ấy, để rồi cung cấp cho chúng ý nghĩa trọn vẹn và đúng đắn dưới ánh sáng của Thánh Thần.

So với các TMNL và các Thư Phaolô, chúng ta biết là vào buổi chiều cuối cùng ấy, Đức Giêsu đã đưa vào nghi thức những thay đổi để mang lại cho cuộc cử hành lễ Vượt Qua năm ấy một ý nghĩa hoàn toàn mới. Chỉ có điều là chúng ta không nắm được đầy đủ các thay đổi này. Có lẽ bởi vì trong thực tế, các tông đồ khó có thể ghi nhớ được chi tiết những thay đổi ấy được đưa vào bộc phát dọc theo Phụng vụ Tiệc Ly.

b) Tên của lời cầu nguyện này

Tác giả phái Cải cách là David Chytraeus (1531-1600) đã đặt cho lời cầu nguyện này một tên : lời kinh tư tế (la prière sacerdotale); tên này đã được truyền thống giữ lại.

Các nhà chú giải hiện đại thích gọi là: lời cầu nguyện thánh hiến hoặc lời nguyện truyền chức, tấn phong, bởi vì theo các vị ấy, trong lời cầu nguyện này, Đức Kitô đã tự hiến mình làm lễ vật dâng lên Chúa Cha và đã thánh hiến các môn đệ cho sứ mạng sau này. Trong thực tế, mặc dù việc hiến dâng mạng sống của Người là nền tảng của toàn diễn từ, nó lại chỉ được nhắc đến một lần mà thôi (17,19); việc thánh hóa các môn đệ cũng vậy (17,17-19).

Có những tác giả cho rằng chủ đề của bài là sự hiệp nhất; nhưng trong thực tế, dù quan trọng, sự hiệp nhất chỉ được nói đến trong ba câu (cc. 11.21-22).

Vậy nên giữ lấy kiểu gọi truyền thống. Trong tư cách là Thượng tế duy nhất (Dt 5,1), nghĩa là đại diện toàn thể nhân loại có đức tin hiện tại và tương lai, Đức Giêsu quay trở về với Cha Người và cầu nguyện với Cha cho những kẻ mà Người đại diện. Vào dịp làm hành vi tư tế này, Người quay nhìn lại công việc đã làm (cc. 1-8), Người cầu nguyện cho những kẻ đã được giao phó cho Người, cầu nguyện cho nhóm nòng cốt đầu tiên (cc. 9-19) cũng như cho những thế hệ sẽ đến (cc. 20-23), để một ngày kia, tất cả được sum họp với Người trong vinh quang tương lai (cc. 24-26).

c) Bố cục tổng quát

17,1-11a : Đức Giêsu cầu nguyện cho chính mình và các môn đệ;

17,11b-19 : cầu nguyện cho hiệp nhất;

17,20-26 : cầu nguyện cho Giáo Hội mọi thời.

2.- Bố cục

Phần cầu nguyện 17,11b-19 gồm ba phần, là ba mục tiêu:

1) Gìn giữ các môn đệ trong đức tin (17,11b-13);

2) Che chở họ khỏi lây nhiễm thế giới gian tà (17,14-16);

3) Được thánh hiến trong chân lý (17,17-19).

3.- Vài điểm chú giải

- (Lạy Cha chí) thánh (11b): Khái niệm “thánh” trong Cựu Ước hàm chứa một khía cạnh tiêu cực, đó là tách biệt khỏi tất cả những gì là phàm tục, và một khía cạnh tích cực, đó là dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa. Được coi như một phẩm tinh của Thiên Chúa, danh hiệu này có thể coi là tương ứng với điều chúng ta gọi là “sự siêu việt của Thiên Chúa”. Đấng Toàn Năng thì ở bên trên thế giới được tạo thành. Sự dữ không thể đụng chạm gì được tới Ngài. Ngài ở trong một ánh sáng không bao giờ tàn lụi (x. Is 6,3). Ý tưởng về sự thánh thiện của Thiên Chúa là một ý tưởng căn bản trong đạo Do-thái: các lời cầu nguyện của người Do-thái thường dùng danh hiệu này (x. Tv 71,22; 2 Mcb 14,36; Lc 1,49).

- xin gìn giữ họ trong danh Cha (11): Danh (onoma) Cha là toàn thể mạc khải về Thiên Chúa nơi Đức Kitô, mạc khải qua đó Đức Giêsu đã bày tỏ về tình yêu của Cha, được coi như một không gian mà Thiên Chúa tạo ra cho các môn đệ.

“Gìn giữ” (têreo, to preserve, keep) ở đây không có nghĩa là bảo toàn, nhưng là củng cố bằng cách để cho gặp thử thách. Nếu Chúa Cha có “gìn giữ” các môn đệ trong ánh sáng thánh thiện của Ngài, là bằng cách đẩy họ vào cuộc chiến đấu, bằng cách đưa họ ra trước sự thù nghịch của thế gian. Như thế là “gìn giữ trong thử thách”. Không bao giờ TM IV muốn nói rằng các môn đệ chỉ việc ở thụ động dưới tác động của Thiên Chúa. Chương 15 cũng đã dùng động từ “têreo” theo nghĩa này: c. 10 nói rằng các môn đệ phải “giữ” các điều răn của Đức Giêsu (nghĩa là lệnh truyền yêu thương; x. 15,12) và nhờ đó, họ ở lại trong tình yêu của Người. Điều này cũng có ý nghĩa tương tự công thức: “Chúa Cha gìn giữ họ”. Đối với các môn đệ, được gìn giữ có nghĩa là nhận từ Chúa Cha sức mạnh để ở lại trong Đức Giêsu.

- không một ai trong họ phải hư mất (12): Trong câu này, Đức Giêsu nói trước, ở thì quá khứ, y như thể Người đã sống trọn tấn bi kịch Thương Khó.

- đứa con hư hỏng (12): Huios tês apôleias (“son of perdition, one destined to be lost”, Zerw&Grov; “con người hư đốn”, NTT). Apôleia, “sự tàn phá, diệt vong; perdition, destruction, utter ruin; hell. Trong Tân Ước, apôleia thường có nghĩa là sự đọa đày hỏa ngục (x. Mt 7,13; Kh 17,8). Vậy “con của sự diệt vong” là một kiểu diễn tả sê-mít, có nghĩa là một kẻ liên hệ mật thiết với, thuộc về vương quốc có sự đọa đày hỏa ngục và cuối cùng sẽ bị tiêu diệt: rất có thể công thức này được TM Ga Hy-lạp dùng để dịch cụm từ Híp-ri ben shahat. Shahat (thối rữa, hư hoại; corruption) có thể có liên hệ với sheol và đồng nhĩa với ‘awel (sự gian ác; wickedness) là một từ được khuynh hướng đối nguyên Qumrân sử dụng để gọi vương quốc đối lập với sự thiện. Công thức “con của sự diệt vong” được dùng lại trong 2 Tx 2,3 để mô tả Phản Kitô sẽ đến trước Ngày Quang Lâm. Điều đáng chú ý là trong cánh chung học Gioan, “con của sự diệt vong” đã xuất hiện ngay trong thời gian Đức Giêsu hoạt động công khai, trước khi Người trở về cùng Chúa Cha. Trong TM IV, đây là một qui chiếu về Giuđa được mô tả như là một dụng cụ của Satan. Trong 6,70, Giuđa được mô tả như là quỉ; còn trong 13,2.27.30, ta được biết rằng Satan đã nhập vào lòng Giuđa và hắn đã đi ra mà vào trong vương quốc bóng tối để phản bội Đức Giêsu.

- để ứng nghiệm lời Kinh Thánh (12): Có thể cho rằng Đức Giêsu (hoặc Gioan) đang nghĩ tới một đoạn Kinh Thánh nào đó. Dĩ nhiên, các ki-tô hữu đầu tiên đã nhanh chóng đi tìm trong Cựu Ước những đoạn khả dĩ giải thích sự phản bội của Giuđa, bởi vì các bài tường trình về sự sa ngã của Giuđa đã dành một chỗ rất lớn cho bối cảnh Cựu Ước. Cv 1,16-20 cho rằng Thánh Thần đã nói trước về Giuđa và đã minh nhiên trích Tv 69,26 và 109,8. Mt 27,3-10 mặc nhiên trích một nguyên tắc pháp lý cấm sử dụng tiền bạc vấy máu cho nhà Chúa (x. Đnl 23,19), rồi minh nhiên trích, tuy có phần tự do, Dcr 11,12-13 đề cập đến ba mươi đồng bạc, có lẽ tổng hợp với một đoạn của sách Giêrêmia (32,6-15?). Một điểm duy nhất khiến chúng ta có thể biết được đoạn văn mà Gioan đang nghĩ tới, đó là Ga 13,18, khi mô tả việc phản bội của Giuđa, đã minh nhiên trích Tv 41,10. Nếu chi câu cuối cùng của Ga 17,12 với lời qui chiếu về “Kinh Thánh”, là một câu văn xuôi thêm vào để giải thích cho ch.17 bằng thể thơ, thì có thể cho rằng người thêm hẳn đã nghĩ tới 13,18.

- Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần (15): Từ ponêros, “ác thần”, có thể hiểu như một danh từ trừu tượng, là “sự dữ, sự ác”; nhưng do loại suy với 1 Ga 2,13-14; 3,12 và 5,18-19, từ này có lẽ nhắm đến “quỉ”. “Ác Thần” là Ông Hoàng của thế gian này (1 Ga 5,19//Mt 6,13; x. 1 Ga 2,13-14: lời Đức Giêsu xin ở đây đã được chấp nhận).

- Lời Cha là sự thật (17): Đây là một kiểu nói sê-mít có nghĩa là: “Lời Cha là chân thật”. Vì không có một tính từ để diễn tả từ “thật” (true) trong tiếng Híp-ri và A-ram, người ta đã dùng danh từ ’emeth, “sự thật, chân lý” (x. l V 17,24).

- Con xin thánh hiến chính mình con cho họ (19): Trong Cựu Ước, cả người lẫn thú vật có thể được thánh hiến: các ngôn sứ (x. Gr 1,5; Hc 49,7) và tư tế (Xh 40,13; Lv 8,30; 2 Sb 5,11). Các ví dụ về thánh hiến ngôn sứ và tư tế đó là một bối cảnh thích hợp cho Ga 10,36: “tôi là người Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian”. Nhưng để giải thích Ga 17,19, thì phải dùng tới ví dụ về thánh hiến các lễ hy sinh (x. Đnl 15,19).

Trong lời Đức Giêsu nói, có một thứ chơi chữ về cách dùng động từ hagiazô (ở đây consecrate = immolate). Hagiazô phỏng theo động từ A-ram qaddesh, có nghĩa là “để riêng ra cho Thiên Chúa”, bằng cách tách lìa khỏi tất cả những gì không phải là Thiên Chúa, nghĩa là khỏi thế gian.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Gìn giữ các môn đệ trong đức tin (11b-13)

Đức Giêsu bắt đầu thưa với Thiên Chúa: “Lạy Cha [chí] thánh”. Ngay tại chỗ này, nếu Đức Giêsu nại tới sự thánh thiện của Chúa Cha là vì Người sắp cầu nguyện cho các môn đệ được thánh hóa, để họ thoát khỏi tầm ảnh hưởng của thế gian (c. 17). Các lời thỉnh cầu Đức Giêsu dâng lên Chúa Cha chỉ có một nội dung duy nhất: xin Chúa Cha làm sao để các môn đệ gắn bó với Ngài mãi mãi. Đức Giêsu gọi Chúa Cha là “Cha [chí] thánh”, Thiên Chúa chí thánh, vô song, cao cả hơn tất cả mọi thọ tạo, hoàn-toàn-khác, hoàn toàn tách khỏi “thế gian”, Đấng toàn năng, Ngài chính là Cha. Đứng trước “thế gian” ấy và những cao vọng của nó, Ngài là vì Thiên Chúa chân thật duy nhất (c. 3). Ngài là “ánh sáng” (1 Ga 1,5), còn “thế gian” là “bóng tối”. Ngài là tình yêu (x. 1 Ga 4,8.16), còn “thế gian” thì ở dưới quyền thống trị của sự thù ghét và của “Ông Hoàng” của nó. Các môn đệ là tù nhân của “thế gian” này: Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi “thế gian” này và giữ họ bên Ngài. Nhưng họ vẫn còn ở “trong thế gian”, và “thế gian” đang tìm cách nắm bắt họ để lại kéo họ về với nó.

Lời thỉnh cầu đầu tiên của Người là “xin gìn giữ họ trong danh Cha!” (c. 11b). Các môn đệ đã biết danh Thiên Chúa nhờ trung gian Đức Giêsu (x. c. 6) và đã gắn bó với Chúa Cha nhờ trung gian là đức tin, cũng như Thiên Chúa đã làm cho họ nhận biết Ngài nhờ trung gian Đức Giêsu. Danh là mạc khải về Chúa Cha, là không gian ChúaCha dùng Đức Giêsu để tạo ra cho các môn đệ. Họ không tự mình vào đấy được, nhưng được “lôi kéo” vào đấy sau khi họ đã được tuyển chọn; do đó họ cũng không thể tự mình ở lại đó. Chúa Cha giữ họ ở đấy. Như thế, công thức “xin gìn giữ họ trong danh Cha” không những có nghĩa là: “xin gìn giữ họ trong không gian mà mạc khải tạo ra”, mà còn có nghĩa là: “xin gìn giữ họ bằng sức mạnh thần linh nhờ đó mạc khải nắm được họ”, nghĩa là, cuối cùng, bằng sức mạnh Chúa Thánh Thần. Như thế, lời cầu xin này đáp lại lời hứa ban “một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (14,16-17). Chúa Cha chí thánh phải gìn giữ họ, để cho họ được liên kết với Ngài theo cùng một cách thức mà Chúa Cha và Chúa Con được liên kết với nhau. Mục tiêu của việc Thiên Chúa “gìn giữ” các môn đệ, là để họ được hiệp nhất: đây là đề tài của phần iii của ch. 17. Tuy đến c. 26 mới xuất hiện minh nhiên, từ ngữ nòng cốt là “tình yêu” đã hướng dẫn cả phần iii này để soi sáng sự hiệp nhất của các môn đệ với nhau. Để có thể hiệp nhất trong tình yêu huynh đệ, các môn đệ cần được Thiên Chúa “gìn giữ” và họ phải nỗ lực để “ở lại” trong không gian của mạc khải. Quả thật, không gian này có đặc điểm là tình yêu; vậy, nó đối lập lại với không gian của hận thù, là “thế gian”. Trong TM IV, tình yêu huynh đệ có vị trí quan trọng: kết quả của hoạt động tông đồ cũng như việc tôn vinh Chúa Cha và Chúa Con tùy thuộc tình yêu huynh đệ này. Do đó, các môn đệ cần sống sự hiệp nhất trong tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con: “để họ nên một như chúng ta”. Tình yêu của Chúa Cha đang “gìn giữ” họ, muốn khơi lên một sự hiệp nhất vượt quá khả năng loài người, nên chỉ có thể từ Thiên Chúa mà đến. Vì thế: “để họ cũng ở trong chúng ta; như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (c. 21).

Cho đến bây giờ chính Đức Giêsu đã giữ họ trong sự hiệp nhất đó và Người đã thành công, ngoại trừ với Giuđa, kẻ đã từ khước sống gắn bó với Người. Đức Giêsu cầu nguyện vì muốn đảm bảo cho các môn đệ được hưởng trọn niềm vui, một niềm vui phát xuất từ đời sống hiệp nhất của Người với Chúa Cha. Như thế, sự thông hiệp của các môn đệ vào niềm vui của Đức Giêsu giả thiết là các ông cũng sống hiệp nhất với Chúa Cha.

* Che chở họ khỏi lây nhiễm thế giới gian tà (14-16)

Lời tiếp theo của Đức Giêsu mô tả hoàn cảnh hiện nay của các môn đệ: Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian (14). Đây là hai không gian đối lập rõ ràng: công thức “không thuộc về thế gian” giả thiết điều đối lập “thuộc về thế gian” (x. c. 16). Có thể nói đoạn 15,19-20 diễn rõ ý cho công thức này. Thế gian ghét các môn đệ bởi vì họ không thuộc về thế gian, bởi vì họ là khác, cũng như Đức Giêsu là khác. “Thuộc về thế gian” là được đặt để trong vương quốc bóng tối, chấp nhận luật của vương quốc ấy là ích kỷ và hận thù, sống và hành động theo luật ấy. Các môn đệ không thuộc về thế gian bởi vì Đức Giêsu đã kéo họ ra khỏi đó; kể từ nay, “không gian” trong đó họ sống cũng như sức mạnh làm cho họ sống và hành động không đến “từ thế gian”, không “thuộc về thế gian”. Họ “được sinh ra do bởi Thiên Chúa” (1,13), nhờ hành động của Đức Giêsu và đức tin của họ. Có thể nói họ đã được nhận một xuất xứ khác. Họ là khác, không những nhờ cuộc tái sinh đồng hóa họ với Đức Giêsu, mà còn bởi vì họ thông dự vào công việc của Người khi loan báo Lời Chúa trong thế gian: Đức Giêsu đã ban lời Chúa Cha cho họ vừa để ban cho họ sự hiểu biết và sự sống, vừa để họ truyền đạt sự hiểu biết và sự sống ấy cho kẻ khác (x. 15,20). Họ tiếp tục công việc của Đức Giêsu nên bị thế gian ghét bỏ, như chính Người đã bị ghét bỏ, bởi vì họ hoàn toàn ở về phía Người, trong không gian thánh thiện của mạc khải. Mục tiêu của lời cầu nguyện của Đức Giêsu là giữ họ ở trong tình trạng “tách biệt” như thế.

Các môn đệ sẽ bị ghét bỏ vì họ đã nhận sứ điệp của Đức Giêsu liên hệ đến Chúa Cha và vì họ đã trung thành với Người. Do đó, Đức Giêsu thêm vào lời thỉnh nguyện đầu: “Xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần!” (c. 15). Ác thần là thủ lãnh thế gian này (12,31; 14,30; 16,11), đang hành động qua sự thù ghét của thế gian và có mụ tiêu duy nhất là tách biệt Thiên Chúa và loài người. Người ước muốn Chúa Cha củng cố các môn đệ, để họ không phải rơi vào ảnh hưởng của ác thần (x. Mt 6,13).

* Được thánh hiến trong chân lý (17-19)

Lời thỉnh cầu thứ hai là “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ!” (c. 17). Sự thật đã đến thế gian cùng với Đức Giêsu. Người đã mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa, Đấng cho đến nay ẩn mình, là Chúa Cha (x. 1,17-18). “Thánh hiến” có nghĩa là ký thác và ban cho Thiên Chúa, Đấng thánh, làm sở hữu. Còn về sứ mạng của các môn đệ (c. 18), Đức Giêsu xin Chúa Cha liên kết họ chặt chẽ với Người, để khi đã được neo chắc vào Người, họ có thể hoàn tất được nhiệm vụ của họ. Thế rồi Đức Giêsu nhắc lại những gì Người làm, đặc biệt là với cuộc ra đi, là để họ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Khi hiến ban chính mạng sống, Người ký thác hoàn toàn bản thân cho Chúa Cha và chu toàn được nhiệm vụ đã đảm nhận là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (1,29). Như thế, Người kéo họ ra khỏi vùng của tội lỗi và của thế gian, Người làm cho họ “được thánh hiến”, Người thực hiện sự hiệp nhất trọn vẹn của họ với Chúa Cha, là Thiên Chúa chí thánh.

Đức Giêsu ám chỉ đến điều này bằng câu nói “Con xin thánh hiến chính mình con cho họ” (c. 19). Đối với Đức Giêsu, hành vi “thánh hiến”, để riêng ra này, chính là cái chết của Người, là sự tách lìa về thể lý và trọn vẹn khỏi thế gian; đối với các môn đệ, hành vi này là sự tách lìa về luân lý khỏi thế gian nhằm phục vụ sự thật. Trong mức độ sự thánh hiến cho Thiên Chúa đòi hỏi cả bản thân con người dấn thân vào cùng với hoạt động của mình, nó bao hàm cái chết được coi như hành vi dâng mình trọn vẹn. Phương diện hy tế này ở đây được nêu bật bởi hình ảnh thập giá đã gần kề và bởi công thức “vì (cho) họ, hyper autôn” (trong Tin Mừng, công thức này gợi đến cái chết: 10,11; 11,51; 15,13; x. cả Rm 8,32. So sánh giọng long trọng của câu này với 10,17-18). Đức Giêsu diễn tả ý muốn tự do dâng hiến mạng sống (10,18; 5,13) để các môn đệ được thánh hiến.

Nếu việc Đức Giêsu tự thánh hiến có quan hệ với việc thánh hiến và sai phái các tông đồ, việc sai phái này không xảy ra trước khi Đức Giêsu chết và sống lại (20,21). Và nếu việc thánh hiến các môn đệ trong sự thật hàm ý có hoạt động của Chúa Thánh Thần, Thần Khí này chỉ được ban sau khi Đức Giêsu chết và sống lại (20,22). Như thế, khi Đức Giêsu nói đến việc tự thánh hiến, chúng ta hiểu Người vừa là Ngôi Lời nhập thể được Chúa Cha thánh hiến, vừa là vị tư tế dâng hiến chính bản thân mình như lễ hy sinh cho những người mà Chúa Cha đã ban cho Người. Như thế, cuối cùng việc thánh hiến các môn đệ dựa trên lễ hy sinh thập giá và việc Chúa Kitô hiển vinh ban Thánh Thần; sự thánh hiến này là ân ban Thánh Thần làm cho các môn đệ có khả năng thi hành sứ mạng của các ông.

+ Kết luận

Lời cầu nguyện tư tế ở ch. 17 diễn ra trong một bầu khí tương tự bầu khí của Thư Do thái trong đó Đức Giêsu được giới thiệu là thượng tế chuyển cầu cho loài người, tự hiến dâng như lễ vật hy sinh (Dt 9,12-14//Ga 17,19. Xem thêm Dt 2,10-11; 10,10).

Toàn lời cầu nguyện cho tới c. 19 nêu bật tình trạng đối lập giữa hai “không gian” thiêng liêng này: một bên là “thế gian”, vùng bóng tối, và bên kia là nơi thánh có ánh sáng của Thiên Chúa, nơi này hoàn toàn tách biệt với nơi kia. Chính Thiên Chúa cho biết Ngài là Đấng tạo nên không gian trong đó con người có thể ở lại và phải ở lại để hoàn tất công việc của Đức Giêsu. Nếu họ cứ ở về phía Thiên Chúa, tách khỏi bóng tối, Đức Giêsu sẽ tiếp tục được tôn vinh nơi họ. Vây cần phải cầu xin Chúa Cha gìn giữ họ.

Đức Giêsu không bỏ rơi các môn đệ Người. Cuối cùng, Người cầu nguyện cho họ và ký thác họ cho Chúa Cha. Chúa Cha chính là Thiên Chúa chí thánh, ở bên trên tất cả mọi thế lực, nhân lành với tình yêu bao la đối với ai được giao phó cho Ngài. Mặc dù có tất cả các giáo huấn nhận được từ Đức Giêsu, các môn đệ vẫn rất có thể cứ băn khoăn cho chính mình và bất an. Nay họ phải thấy rằng họ đã có một suối nguồn đáng tin cậy, đó là Đức Giêsu đã cầu nguyện cho họ và họ được sống an toàn trong tay Chúa Cha.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Có những người đã hoảng hốt khi thấy các ki-tô hữu hay chính mình gặp gian khổ vì muốn sống trung thành với niềm tin, cứ y như thể, mình sống tốt lành nhưv ậy, thì mọi người (thế gian) phải quí mến trân trọng mình. Nhưng hôm nay Đức Giêsu nói: “Con đã ban lời của Cha cho họ, và thế gian đã thù ghét họ” (c. 14). Người cho biết “thế gian” là như thế: tình yêu, sự tốt lành, sự thánh thiện, sự công bình, v.v., chẳng những đã không đưa đến sự trân trọng quí mến mà còn gây ra sự thù ghét. Chính vì thế, thánh Gioan đã khẳng định: “Anh em đừng ngạc nhiên nếu thế gian ghét anh em” (1 Ga 3,13). Nếu “thế gian” ghét các môn đệ của Đức Giêsu, chỉ là vì nó không thể chịu được chuyện gì khác nó, nó muốn được người khác hoan hô nhưng nếu có những người sống công chính, thánh thiện, thì nó sẽ bị trách cứ do chính đời sống họ, do chính tình yêu của họ. Nó không thể chấp nhận sự thiện.

2. Dù sao, chúng ta cũng nên tự hỏi: những khó khăn chúng ta đang gặp phải là do chúng ta đang trung thành sống như những môn đệ của Đức Giêsu, những người “đang ở trong danh Cha”, hay chỉ vì chúng ta đang bị cuốn hút vào trong cùng một cuộc tranh đấu với cùng những vũ khí như thế gian, nhưng chúng ta lại không khéo sử dụng các vũ khí đó như thế gian? Muốn có tiêu chuẩn để lượng định, chúng ta có thể xét lại vài điểm như: chúng ta có chấp nhận bi thiệt thòi vì đời sống đức tin chăng? Chúng ta có thật sự yêu thương và tha thứ cho những người thù ghét và tìm cách hãm hại chúng ta chăng ?

3. Cần phải thực tập một thứ biện phân liên tục để nhận ra nơi chúng ta có điều gì thuộc về Kitô giáo và điều gì không thuộc về Kitô giáo. Việc biện phân này không dễ, nên cần có ánh sáng của Thiên Chúa cũng như sự giúp đỡ của người đồng hành. Công việc này rất hệ trọng đối với vận mệnh thế giới, bởi vì “thế gian” bách hại các kẻ không thuộc về nó, nhưng “thế gian” cần những kẻ đó để nó những tiêu chí mà điều chỉnh hướng đi. “Thế gian” bách hại những kẻ thực sự thuộc về Đức Kitô, y như thể để xác định được những con người chân chính có thể đưa lại ơn cứu độ cho “thế gian”.

Lm. Phanxicô Vũ Phan Long