Góp ý kiến về văn bản “HOẠT ĐỘNG CỦA LINH MỤC CHÍNH XỨ THEO CÁCH DIỄN TẢ CỦA GIÁO LUẬT”
Văn bản nầy đề cập tới vấn đề lớn của mọi địa phận:
- Tương quan giữa Đức Giám mục địa phận với Linh mục chánh xứ
- Quyền của Đức Giám mục địa phận và quyền Linh mục chánh xứ.
1/ Công đồng Vatican II nói về Đức Giám mục và Linh mục
Văn bản nầy viết: ”Vị linh mục chính xứ không đơn giản là một “đại diện”, “phụ tá”, hay “người được Đức Giám mục uỷ quyền”. Một vài đoạn văn của Công đồng gọi linh mục chính xứ là phụ tá, đại diện của Giám mục, nhưng các đoạn văn nầy đều dùng cách nói “như là”(quomadmodum).
Xin đọc nguyên văn của Công đồng Vatican II liên can tới cách nói “như là”:
Hiến chế Lumen gentium, số 28:”Presbyteri, ordinis Episcopalis providi cooperatores eiusque adiutorium et organum, ad Populo Dei inserviendum vocati, unum presbyterium cum suo Episcopo constiununt, diversis quidem officis mancipatum. In singulis localibus fidelium congregationibus Episcopum, quocum fidenti et magno animo consociantur, quodammodo praesentem reddunt eiusque munera et sollicitudinem pro parte suscipiunt et cura cotidiana exercent”(Các Linh mục là các cộng sự viên khôn ngoan, là phụ tá và là dụng cụ của hàng Giám mục, các linh mục được kêu gọi để phục vụ Dân Thiên chúa. Các ngài hợp với Đức Giám mục mình tạo thành linh mục đoàn duy nhất với nhiều chức vụ khác nhau. Trong cộng đoàn tín hữu địa phương, linh mục một cách nào đó (quodammodo, d’ une certaine facon, như là) là hiện thân của Đức Giám mục mà các linh mục hằng liên kết với lòng tin tưởng và quảng đại, lãnh nhận phần vụ cùng chia sẻ nỗi lo lắng của Giám mục và hằng ngày ân cần thi hành chức vụ ấy)(xem bản dịch của Giáo hoàng học viện Đà lạt).
Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis số 5: “Hinc Presbyteri a Deo, ministrante Episcopo, consecrantur, ut, participes Sacerdotii Christi speciali ratione effecti, Presbyteri diversis rationibus cum Episcopo hierarchice colliguntur et sic eum singulis fidelium congregationibus quodammodo praesentem reddunt”(Vậy, qua tay Đức Giám mục, các linh mục được Thiên Chúa thánh hiến để khi tham đự đặc biệt vào chức vụ của Chúa Kytô … Các linh mục liên kết trong phẩm trật thánh với vị Giám mục vì những lý do khác nhau; và như thế các ngài nói lên được phần nào (quodammodo, en quelque sorte) sự có mặt của Giám mục trong mỗi cộng đoàn tín hữu).
Tóm lại, đọc các bản văn trên, chúng tôi có thể kết luận:
- Công đồng nói linh mục là (chứ không nói là “như là”) cộng tác viên của Đức Giám Mục. Cộng tác viên với tư cách là “cánh tay phải (organum)”, là một trợ thủ đắc lực (adiutorium) của Đức Giám mục địa phận.
- Qua linh mục chánh xứ, người tín hữu thấy được một cách nào đó sự hiện diện của Đức Giám mục địa phận khi linh mục chánh xứ cử hành các Bí tích,hướng dẫn cộng đoàn.(mối ưu tư của Giáo hội là giáo dân thấy được Đức Giám mục của mình một phần nào nơi con người linh mục chánh xứ đang cử hành các mầu nhiệm thánh và khi ngài hướng dẫn Dân Chúa).
2/ Giáo luật quy định quyền của Đức Giám mục địa phận và của linh mục chánh xứ
Văn bản nầy viết: “Quyền hạn của linh mục chính xứ là quyền thông thường và riêng biệt (ordinaria et propria) nghĩa là ngài đương nhiên nhận lãnh quyền hạn nầy khi nhận chức vụ chính xứ. Vì là quyền thông thường và riêng biệt, linh mục chính xứ có thể uỷ quyền cho người khác.”
Khoản I điều 515 quy định: Paroecia est certa communitas christifidelium in Ecclesia Particulari stabiliter constituta, cuius cura pastoralis, sub auctoritate Episcopi dioecesani, committitur parocho, qua proprio eiusdem pastori.(Giáo xứ (họ đạo) là cộng đoàn tín hữu đã được thiết lập cách bền vững trong một Giáo hội riêng (địa phận) va được trao cho linh mục chánh xứ coi sóc như là (eiusdem) mục tử riêng (chủ chăn riêng) của giáo xứ dưới quyền của Đức Giám mục địa phận (Đức Cha chính).
Điều 519 quy định: Parochus est pastor proprius paroeciae sibi commissae, cura pastorali communitatis sibi concreditae fungens sub autoritate Epicopi dioecesani, cuius in partem ministerii Christi vocatus est ut pro eadem communitate munera exsequatur docendi, sanctificandi et regendi, cooperantibus etiam aliis presbyteris vel diaconis atque operam conferentibus christifidelibus laicis, ad normam iuris.(Linh mục chánh xứ là mục tử riêng (chủ chăn riêng) của giáo xứ đã được trao cho ngài để ngài lo chu toàn chăm sóc mục vụ cho cộng đoàn đó dưới quyền Đức Giám mục địa phận mà ngài được gọi thông phần với Đức Giám mục trong tác vụ của Chúa Kytô thực hiện các nhiệm vụ: giáo huấn, thánh hóa, cai quản cộng đoàn với sự cộng tác của các linh mục hay phó tế và với sự trợ lực của các tin hữu chiếu theo luật).
Xin đọc thêm sắc lệnh Christus Dominus số 30: Praecipua autem ratione Episcopi cooperatores sunt parochi, quibus, tamquam pastoribus propriis, animarum cura committitur in determinata dioecesis parte sub illius auctoritate (Vì lý do đặc biệt, các linh mục chánh xứ là những cộng tác viên của Giám mục: các ngài được uỷ quyền việc chăm sóc các linh hồn như là những (tamquam) mục tử riêng (chủ chăn riêng) trong một khu vực nhất định.thuộc giáo phận dưới quyền Giám mục).
Giáo luật quy định những quyền thông thường và riêng biệt cho linh mục chánh xứ:
- Quyền rao giảng Lời Chúa,
- Rửa tội, Thêm sức (cho người nguy tử), Xức dầu bệnh nhân, Ban Của Ăn đàng,và ban phép Tòa thánh cho bệnh nhân đó, Chứng hôn và cử hành lễ Hôn phối. Cử hành lễ an táng. Làm phép giếng rửa tội trong mùa Phục sinh. Chủ sự rước kiệu ngoài Nhà thờ và ban phép lành trọng thể ngoài Nhà thờ. Cử hành các Thánh lễ trọng thể các ngày Chúa nhật và các lễ buộc (điều 530). Quyền giải tội (điều 968,1).
Nhận giáo xứ đúng luật, linh mục chánh xứ đương nhiên được những quyền nầy, gọi là thường quyền và trực tiếp (he is the ordinary and immediate pastor who feeds his sheep in the Name of Lord) vì Giáo luật đã cho như vậy để ngài thi hành các nhiệm vụ: giáo huấn, thánh hoá, hướng dẫn dân Chúa (munera docendi, sanctificandi, et regendi, the duties of theaching, sanctifying, and governing) và có thể ủy quyền, nhưng phải thi hành những nhiệm vụ đó dưới quyền Đức Giám mục địa phận (sub auctorite Episcopi dioecesani, điều 515,1, điều 519). Tuy nhiên, phải nhớ lúc ủy quyền: không thể uỷ quyền giải tội cho linh mục không (chưa) có quyền giải tội.
Quay lại với thuật ngữ “mục tử riêng”, phải khẳng định linh mục chánh xứ là “mục tử riêng của giáo xứ”(pastor proprius paroeciae) dưới quyền Đức Giám mục địa phận (sub auctoritate Episcopi dioecesani).
Thuật ngữ “pastor proprius“phải hiểu như thế nào ?
Chúng ta đọc khoản 2 điều 461 để tham khảo: Si Episcopus plurium dioecesium curam habet, aut unius curam habet uti Episcopus proprius, alterius vero uti Administrator, unam synodum dioecesanam ex omnibus dioecesibus sibi commissis convocare potest (Nếu Đức Giám mục coi sóc nhiều địa phận, mà một địa phận với tư cách là Giám mục riêng,còn các địa phận khác ngài coi sóc với tư cách là Giám quản thì ngài có thể triệu tập công đồng địa phận gồm mọi địa phận thuộc quyền mình).
Điều 370: Prealatura territorialis aut abbatia territorialis est certa populi Dei portio territorialiter quidem circumscripta, cius cura, specilia ob adiuncta, committitur alicui Praelato aut Abbati, qui eam, ad instar Episcopi dioecesani, tamquam proprius eius pastor regat (Giám hạt hoặc Tu viện hạt là một phần dân Thiên Chúa được giới hạn trong một phần đất mà vì những hoàn cảnh riêng nên đã được trao cho một Giám chức hoặc Tu viện trưởng chăm sóc với tư cách là mục tử riêng (chủ chăn riêng,) như Giám mục địa phận).
Vậy, thuật ngữ mục tử riêng (pastor proprius) là thuật ngữ chung để chỉ Đấng đó được trao cho coi sóc dân Thiên Chúa trên một miền đất với quyền là “chủ”theo Giáo luật, có thể là phần biệt hạt, một giáo xứ với quyền hành khác nhau theo Giáo luật.
3/ Thuật ngữ MỤC TỬ (pastor)
Văn bản nầy viết: “Trong Giáo hội La-tinh, chỉ có hai vị “được gọi là “mục tử riêng”: vị Giám mục địa phận và linh mục chính xứ (không tính trường hợp củả vị Giám mục Roma). La mục tử riêng của cộng đoàn tín hữu, linh mục chính xứ được trao quyền hạn rất rộng trong Hội thánh; trong phạm vi giáo xứ, ngài có đủ năng quyền để thi hành các nhiệm vụ của mình.”
Đoạn văn nầy có thể gây hiểu lầm: linh mục chánh xứ chỉ thua Đức Giám mục địa phận một chút xíu thôi vì cả hai đều là “mục tử riêng”của cộng đoàn tín hữu. Ngoài ra, đoạn văn nầy còn để vị Giám mục Roma (tức là Đức Giáo hoàng) ra một nơi.
Theo thiện ý, khi nói đến phẩm trật Giáo hội, chúng ta phải bắt đầu nói tới Đức Giáo hoàng trước hết, rồi mới nói tới Đức Giám mục địa phận, rồi mới tới linh mục chánh xứ:
Điều 330 bộ Giáo luật qui định: Sicut, statuente Domino, sanctus Petrus et ceteri Apostoli unum Collegium constituunt, pari ratione Romanus Pontifex, successor Petri, et Episcopi, successores Apostolum, inter se coniunguntur.(Do Thánh Ý Chúa, thánh Phêrô và các Tông dồ khác tạo thành một đoàn đội. Cũng như vậy, Giáo hoàng Roma kế vị thánh Phêrô và các Giám mục kế vị các Tông đồ hiệp nhất với nhau).
Điều 331 quy định: Ecclesiae Romanae Episcopus, in quo permenet munus a Domino singulariter Petro, primo Apostolorum, concessum et successoribus eius transmittendum, Collegii Episcoporum est caput, Vicarius Christi atque universae Ecclesiae his in terris Pastor; qui ideo vi muneris sui suprema, plena, immediata et universali in Ecclesia gaudet ordinaria potestate, quam semper libere exercere valet. (Giám mục Giáo hội Roma, là người nắm giữ chức vụ Chúa đã trao phó cho một mình Phêrô, vị Thủ lãnh các Tông đồ, và chức vụ ấy được truyền lại cho Đấng kế vị, là đầu đoàn đội các Giám mục, là Đại diện Chúa Kytô, và là mục tử (chủ chăn) của Giáo hội hoàn cầu ở dưới đất nầy, vì vậy, do chức vụ, ngài có thường quyền tối cao, toàn diện, trực tiếp và phổ quát trong Giáo hội và ngài luôn luôn thi hành quyền nầy một cách tự do).
Điều 375,1 qui định: Episcopi, qui ex divina institutione in Apostolorum locum succedunt per Spiritum Sanctum qui datus est eis, in Ecclesia Pastores constituuntur, ut sint et ipsi doctrinae magistri, sacri cultus sacerdotes et gubernationis ministri.(các Giám mục được thiết lập để kế vị các Tông đồ nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng mà các ngài đã lãnh nhận, các ngài được đặt làm mục tử (chủ chăn) trong Giáo hội, để chính các ngài trở nên thầy dạy đạo lý, trở nên linh mục của việc phụng tự thánh và trở nên thừa tác viên của việc cai trị).
Điều 391,1 qui định: Episcopi dioecesani est Ecclesiam particularem sibi commissam cum Potestate legislativa, executiva et iudiciali regere, ad normam iuris. (Đức Giám mục địa phận quản trị địa phận mình với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp).
Điều 393 quy định: In omnibus negotiis iuridicis dioecesis, Episcopus dioecesanus eisdem personam gerit. (Trong mọi công việc pháp lý của địa phận, Đức Giám mục địa phận đứng thay mặt địa phận).
Điều 520,1 qui định: Persona iuridica ne sit porochus.(linh mục chánh xứ không phải là Pháp nhân).
Điều 532 quy định: In omnibus negotiis iuridicia parochus personam gerit paroeciae, ad normam iuris; curet ut bona paroeciae administrentur ad cann. 1281-1288. (trong mọi vấn đề pháp lý,linh mục chánh xứ đại diện giáo xứ, và ngài phải liệu đe tài sản giáo xứ được quản trị theo các điều 1281-1288).
Tóm lại, Giáo luật đã nói rõ quyền bính của các cấp trong Giáo hội, ở đây nói tới:
- Đức Giám mục Roma (Đức Giáo hoàng) là Mục tử của Giáo hội hoàn cầu (Pastor Universae Ecclesiae), quyền của Ngài là thường quyền, tối cao, toàn diện, trực tiếp và phổ quát trên toàn the Giáo hội (Ngài không cần quyền uỷ, năng quyền…).
- Đức Giám mục địa phận (Giáo hội địa phương) là mục tử của các linh mục (pastor Presbyterii, xem điều 369), là mục tử trong Giáo hội (pastor in Ecclesia, xem điều 375) vì Giám mục kế vị các thánh Tông đồ (xem điều 330), đương nhiên quyền của Giám mục là quyền của các thánh Tông đồ. Để tạo nên sự hiệp nhất, thống nhất, chính Đức giáo hoàng hạn chế quyền của các Đức Giám mục, (xem điều 381,1).(Chưa thấy điều nào trong bộ Giáo luật nói Giám mục địa phận là mục tử riêng).
Ngoài ra, Giáo luật còn dùng thuật ngữ “sacri pastores”(les Pasteurs sacrés, các mục tử Thánh), là các mục tử đại diện Thiên Chúa, Thầy dạy Đức tin để chỉ Đức Giáo hoàng và các Giám mục (xem điều 212), ta có thể dùng thuật ngữ nầy để phân biệt với mục tử riêng của giáo xứ.
- Linh mục chánh xứ là mục tử riêng của giáo xứ (pastor proprius paroeciae) được gọi thông phần với Đức Giám mục địa phận thi hành tác vụ của Chúa Kytô: giáo huấn, thánh hóa, cai quản (munera docendi, sanctificandi et regendi) dưới quyền của Đức Giám mục địa phận (sub auctoritate Episcopi dioecesani) (xem điều 519).
4/ Văn bản nầy viết: “Vị linh mục chính xứ là mục tử riêng của giáo xứ… để thi hành cho cộng đoàn ấy các nhiệm vu giảng dạy, thánh hoá và cai quản. Linh mục chính xứ được giao nhiệm vụ như vị “Giám mục địa phận”để là thầy dạy đạo lý, tư tế phụng vụ thánh và thừa tác viên quản trị. “
Để có thể đưa đến kết luận trên, tác gỉa đa khôn khéo hướng dẫn người đọc đi từng bước:
- Sử dụng thuật ngữ “như là”(quomadmodum ??) để ít nhất là làm nhẹ đi vai trò cộng tác viên, sự thuộc quyền của linh mục chính xứ đối với Đức Giám mục địa phận.
- Dùng thuật ngữ “mục tử riêng”để cho biết Đức Giám mục địa phận là mục tử riêng và Linh mục chính xứ là mục tử riêng.
- Nhiệm vụ của Giám mục địa phận là giáo huấn, thánh hoá và quản trị thì nhiệm của linh mục chính xứ cũng là giáo huấn, thánh hoá và quản trị.
Vậy thì linh mục chính xứ là Giám mục địa phận tại xứ đó.
Từ trước tới nay, tất cả các linh mục đều vâng lời Đức Giám mục địa phận ở mức độ anh hùng nhưng cũng có ít vị lạm dụng quyền “chánh xứ”để làm khổ giáo dân. Người anh, con ông cậu ruột của kẻ nầy, vì phê bình cách xây dựng giáo xứ, cách lập trại của vị linh mục chánh xứ và bị linh mục chánh xứ ra vạ “dứt phép thông công”trước giáo dân trong ngày Chúa nhật, rồi sau sáu tháng lại từ toà giảng, ngài tha vạ cho anh nầy. Kẻ viết bài nầy nói chuyện với anh, anh bảo: “Anh nói trước mặt Cha sở, trước mặt nhiều người để xây dựng giáo xứ, xậy dựng trại cho hợp lý, anh không có tội. Ngài ra vạ cho anh rồi lại tha, chẳng ăn thua gì đến anh”. Dì ruột của kẻ nầy là cô ruột của anh nói: “Cháu nói có lý. Ở quê hương, cháu đã đấu tranh đến nỗi một anh công an ấy, ai cũng sợ, phải bị hạ tầng công tác, bây giờ vào đây, cháu lại đụng đến Cha sở. Chưa kịp lập trại, cháu đã trồng một bụi tre giữa sân trước nhà, có quá đáng không?”.
Bây giờ, tác giả của văn bản nầy dùng mấy thuật ngữ “mục tử, mục tử riêng, quyền hành thông thường và trực tiếp”, không lường được gây hỏa mù, sợ đưa đến lẫn lộn quyền của Đức Giám mục địa phận và quyền của linh mục chánh xứ ? Lạm quyền có xảy ra nhiều hơn không ?