KITÔ HỮU, CHÚNG TA ĐƯỢC MỜI NÊN THÁNH



Tháng 11, đối với tín hữu Công giáo, mang nhiều ý nghĩa:

  • - ngày 1 là lễ Các Thánh Nam Nữ, người Công giáo hướng nhìn các Thánh để nhớ đến ơn gọi nên thánh của mình.
  • - ngày 2 là lễ cầu cho các Tín Hữu đã qua đời cũng như suốt tháng 11, người Công giáo thăm viếng mộ phần của những người thân yêu để cầu nguyện cho họ và cũng để nhắc nhớ đến thân phận cát bụi của mình.
  • - ngày 24, lễ Thánh Anrê Dũng Lạc và các Bạn Tử Đạo, Bổn Mạng Giáo Hội Việt-Nam để kính nhớ đến Tiền Nhân anh dũng của chúng ta, những người Việt Công giáo và nguyện noi gương Chư Thánh vác Thánh Giá theo chân Thầy Chí Thánh, Đức Kitô, Chúa chúng ta.
Nhưng giữa ơn gọi nên thánh và thân phận cát bụi, con người cùng phải sống và đồng hành với nhau trên đường lữ thứ trần gian. Chúng ta cần phải làm sao để có những mối tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa, với tha nhân và với cuộc đời hầu làm nên vẻ đẹp cuộc đời như các thánh. Hãy thử nhìn vào cuộc đời của một vài “vị thánh” để tìm chút ánh sáng hướng soi cuộc đời của chúng ta.

I. SỰ THÁNH THIỆN TRONG GIÁO HỘI.

Trong Chương V Hiến chế ‘Ánh sáng muôn dân’ (Lumen Gentium) có tựa đề « Lời Kêu Gọi Mọi Người Nên Thánh Trong Giáo Hội », các Nghị Phụ tham dự Công Đồng Vaticanô II xác tín Giáo Hội có tính cách thánh thiện, bất khả khuyết. Thực vậy, Chúa Kitô Con Thiên Chúa, Đấng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, được ca tụng là "Đấng thánh duy nhất", đã yêu dấu Giáo Hội như hiền thê mình và đã hiến thân để thánh hóa Giáo Hội (x. Eph 5,25-26). Vì thế, tất cả mọi người trong Giáo Hội đều được kêu gọi nên Thánh, như lời Thánh Tông Đồ dạy: "Vì Thiên Chúa muốn anh em được thánh hóa" (1Th 4,3; x. Eph 1,4); sự thánh thiện này của Giáo Hội luôn được biểu lộ và phải được biểu lộ qua những hoa trái ân sủng mà Thánh Thần đã kết sinh nơi các tín hữu; sự thánh thiện ấy được diễn tả dưới nhiều hình thức nơi tất cả những ai đang cố đạt tới Đức Ái trọn hảo trong bậc sống của mình trong khi xây dựng kẻ khác. Đặc biệt hơn, sự thánh thiện đó tỏ lộ trong việc thực hành các lời khuyên, quen gọi là lời khuyên của Phúc Âm. Nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy, nhiều Kitô hữu thực hành các lời khuyên ấy với tư cách cá nhân hoặc trong những lối sống hay bậc sống đã được Giáo Hội công nhận; việc thực hành đó mang lại và phải mang lại cho thế giới một bằng chứng và một mẫu gương rạng ngời về sự thánh thiện của Giáo Hội.

1. Nên Thánh là tham dư vào đời sống thần linh của Thiên Chúa.

Từ gần 2000 năm nay, Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thế làm người để chết trên thập tự giá để cứu chuộc chúng ta. Vì yêu thương, Đức Kitô tự ý đến với con người, gần gũi họ và ngỏ lời với họ, để họ có thể gặp gỡ, nhận biết và yêu mến Người, trở nên con cái Thiên Chúa mà được sống đời đời. "Sự sống đời đời đó là nhận biết Cha. Thiên Chúa duy nhất và chân thật và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giêsu Kitô" (Ga 17,3). Tuy nhiên, để việc cứu chuộc được thực hiện, Thiên Chúa cần sự cộng tác của từng người chúng ta. Trong một cơ hội nào đó, chúng ta bắt đầu nhận biết "Thiên Chúa ẩn mình" (Is 45,15), rồi tìm hiểu nhiều hơn Đạo Công giáo qua việc học biết Giáo Lý và, sau cùng, hoàn toàn tự do đáp lời tham gia tiến trình cứu chuộc khi lãnh nhận phép Thánh Tẩy, bí tích Đức Tin, để thực sự trở nên Kitô-hữu, con cái Thiên Chúa và được thông phần vào bản tính Ngài, và do đó, thực sự đã trở nên thánh, tức vào nước Thiên đàng.

Như vậy, mặc khải là hành động yêu thương của Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người, để con người tự ý đón nhận và hiệp thông với Thiên Chúa, mà được cứu độ. Sự thánh thiện này là ơn Thiên Chúa ban cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô theo ý định : “Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là qui tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô.” (Ep 1,10) Vì thế, Chúa Giêsu là tác giả, là Đấng hoàn thành sự thánh thiện trong Hội Thánh (LG 40). Chính Người đã lấy máu thánh mà chuộc tội cho chúng ta và ban Thánh Thần cho chúng ta.



2. Mọi người được kêu gọi sống thánh thiện.

Chúa Giêsu, Thầy dạy và Mẫu mực của mọi sự trọn lành, đã giảng dạy cho chúng ta, bất luận ở hoàn cảnh nào, một đời sống thánh thiện mà chính Người vừa là Đấng ban phát vừa là Đấng hoàn tất: "Vậy các con hãy trở nên trọn lành như Cha các con ở trên trời" (Mt 5,48). Bởi vậy, Người đã sai Thánh Thần đến với mọi người, để từ bên trong Ngài thôi thúc họ yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn cùng hết sức họ (x. Mc 12,30), và yêu thương nhau như Chúa Kitô yêu thương họ (x. Gio 13,34; 15,12). Được Thiên Chúa kêu gọi và được công chính hóa trong Chúa Giêsu, không phải vì công lao riêng, nhưng vì ý định và ân phúc của Ngài, các Kitô-hữu được thông phần vào bản tính Ngài, và do đó, thực sự đã trở nên thánh. Cho nên với ơn Chúa họ phải luôn gìn giữ và hoàn thành trong đời sống sự thánh thiện mà họ đã lãnh nhận, sống "xứng đáng như những vị thánh" (Eph 5,3). Nhưng vì chúng ta ai cũng có nhiều lầm lỗi (x. Giac 3,2), nên chúng ta luôn cần đến lòng nhân từ của Thiên Chúa và hằng ngày phải cầu nguyện "xin Chúa tha nợ chúng tôi" (Mt 6,12).

Vì thế, tất cả các Kitô-hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của Đức Ái. Ngay trong xã hội trần thế sự thánh thiện này cũng giúp người ta sống nhân đạo hơn. Để đạt được sự trọn lành đó, tín hữu phải xử dụng những sức lực mà Chúa Kitô đã ban nhiều ít tùy ý Người để trở nên giống Người khi theo vết chân Người, và khi thực hành thánh ý Chúa Cha trong tất cả mọi sự, họ sẽ hết lòng tìm vinh danh Chúa và phục vụ tha nhân. Như thế, sự thánh thiện của Dân Thiên Chúa sẽ sinh hoa trái dồi dào, như lịch sử Giáo Hội đã từng minh chứng rõ ràng qua đời sống của bao vị thánh.

3. Nhiều hình thức thực hành sự thánh thiện duy nhất.

Chúng ta được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn, nghe theo tiếng gọi của Chúa Cha, thờ phượng Ngài trong tinh thần và chân lý, noi gương Chúa Kitô nghèo khó, khiêm nhường và vác thập giá để xứng đáng dự phần vào vinh quang của Người; tất cả những người ấy đều theo đuổi cùng một sự thánh thiện tuy lối sống và nhiệm vụ của họ có khác nhau, cho nên mỗi người, tùy theo ân sủng và nhiệm vụ mình, phải nhất quyết tiến bước bằng con đường Đức Tin sống động, Đức Tin khơi động Đức Cậy và hoạt động nhờ Đức Ái.

Có nhiều cách thực hành các lời khuyên trong Phúc Âm và những lời khuyên đó không phải chỉ dành cho giáo sĩ, tu sĩ. Nhưng, người giáo dân cũng được chỉ định cho những cách thế riêng để nên thánh. Vợ chồng, người góa, người độc thân, người lao động, người đau ốm, tất cả đều có thể nên thánh theo hoàn cảnh và bậc sống của riêng mình. Do đó, Giáo Hội được trau dồi bằng những vẻ đẹp muôn mầu muôn sắc. Mẫu mực thánh thiện chỉ có một, nhưng cách ‘họa lại’ mẫu mực ấy thì ‘thiên hình vạn trạng’.

4. Đường lối và phương tiện nên thánh.

"Thiên Chúa là tình yêu, ai sống trong tình yêu là sống trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa sống trong người ấy" (1Gio 4,16), Thiên Chúa đã đổ tràn Đức Ái Ngài trong tâm hồn chúng ta, nhờ Chúa Thánh Thần Ngài đã ban cho chúng ta (x. Rm 5,5); cho nên ơn huệ thứ nhất và cần thiết nhất là bác ái. Đức Ái làm cho chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha nhân vì Ngài. Nhưng để đức ái, tựa hạt giống tốt, lớn lên trong tâm hồn và kết sinh hoa trái, mỗi một tín hữu phải sẵn lòng lo lắng nghe Lời Chúa, và với ơn Ngài thực hành thánh ý Ngài; phải năng lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, năng tham dự vào các nghi lễ phụng vụ, chuyên cần cầu nguyện, từ bỏ mình, nhiệt thành phục vụ anh em và chuyên cần luyện tập các nhân đức. Thực thế, Đức Ái là mối dây liên kết của sự trọn lành, là sự viên mãn của lề luật (x. Col 3,14; Rm 13,10), nên đức ái chi phối mọi phương thế nên thánh, làm cho chúng hình thành và đạt được cùng đích. Vì thế, đức ái đối với Thiên Chúa và tha nhân là dấu chỉ người môn đệ chân chính của Chúa Kitô.

Việc noi theo và làm chứng Đức Ái cùng sự khiêm hạ của Chúa Kitô cần được các Kitô-hữu thực hiện không ngừng; nên Giáo Hội là Mẹ chúng ta vui mừng khi thấy trong lòng mình có nhiều con cái nam nữ muốn theo sát gương Đấng Cứu Thế. Vì thế, mọi Kitô hữu đều được kêu mời và có bổn phận nên thánh và nên trọn lành theo bậc sống mình.

II. CÁC THÁNH CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

1. Hiển Thánh và Chân Phước.

Đó là những Kitô–hữu đã có một đời sống noi gương Thầy Chí Thánh, Đức Kitô, đã được Giáo Hội điều tra qua các nhân chứng hay các phép lạ mà, nhờ sự can thiệp của các Vị đó, Thiên Chúa đã ban cho tha nhân.

Chúa nhựt ngày 15.10.2006, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã chủ sự lễ Phong Thánh cho bốn Chân Phước lên bậc Hiển Thánh : Đức cha Rafael Guizar Valencia (1878-1938), Giám mục Veracruz (Mexique); Linh mục Filippo Smaldone (1848-1923) thuộc Giáo phận Lecce (Ý), sáng lập dòng các nữ tu Salesienne Thánh tâm phục vụ các bệnh nhân câm điếc; Nữ tu Rosa Venerini (1656-1728), người Ý, sáng lập một dòng nữ giáo viên và Nữ tu Théodore Guérin (1798-1856), người Pháp nhưng hoạt động tại Hoa kỳ.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên phong 1327 Chân Phước và 477 Thánh, trong đó có những Vị sống cùng thời đại với chúng ta. Con số đó thật xa so với 827 Chân Phước và 296 Thánh được tôn phong từ năm 1588 khi Đức Giáo Hoàng Sixte-Quint thành lập Thánh Bộ Nghi Lễ, nay đã đổi tên : Thánh Bộ Phong Thánh. Việt-Nam hiện có 117 Thánh và 1 Chân Phước Tử Đạo.

Với chừng ấy số Chân Phước và Thánh, trong gần 2000 năm qua, thì kết quả của Chương trình Thiên Chúa cứu chuộc nhân loại thật là quá ít.

Xin đừng bi quan. Cùng nhau, chúng ta hãy mở Sách Lễ ngày mừng Lễ Các Thánh Nam Nữ, Thánh Gioan viết trong sách Khải huyền: ’tôi đã thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên’.

Đoạn Sách Thánh nầy xác nhận số người lên Thiên đàng là hằng hằng lớp lớp. Chính vì thế Giáo Hội đã dành ngày 01 tháng 11 hằng năm để Kính Trọng thể tất cả các Thánh Nam Nữ của Giáo hội Công Giáo. Trong đó, cần kể đến các tiền nhân trong các Gíáo xứ trong nước và các Cộng đoàn hải ngoại, ông bà trong gia đình chúng ta đã được Chúa gọi về Nhà Cha.

2. Vài gương Hiển Thánh và Chân Phước.

- Gương kiên nhẫn của Thánh nữ Monica đáng muôn đời soi chung, được mừng kính hằng năm vào ngày 27 tháng 8. Được hấp thụ giáo huấn đạo đức Công giáo, Monica sớm trở thành cô gái ngoan hiền, sốt sắng, yêu cầu nguyện và hãm mình. Năm 22 tuổi, Monica vâng lời cha mẹ kết hôn với Patricius, một người ngoại đạo dòng dõi quý phái, nhưng tính tình lại ngang tàng độc ác. Tuổi chàng gấp đôi nàng! Với tính hiền lành và kiên nhẫn, bà đã biến cuộc hôn nhân "khập khễnh" thành êm đềm.

Bà có người con trai tên Augustinô nhiều tính hư tật xấu, trộm ăn cắp, rồi tiến dần đến say mê lạc thú, ham mê danh vọng, đến nỗi theo bè rối Manikê chống lại Đức Tin Công Giáo. Còn gì xé nát con tim hơn khi bà thấy đứa con cưng của mình ngày càng tiến sâu trên đường tội lỗi! Nước mắt thương đau đã chảy quá nhiều! Nhưng đầy niềm cậy trông nơi Tình Thương Thiên Chúa, Monica gia tăng việc lành và hy sinh hãm mình để cầu nguyện cho chồng cho con.

Hai mươi năm cầu nguyện, nhịn nhục và làm gương sáng cho chồng nay đã đơm hoa kết trái. Patricius khuất phục ơn Chúa, xin học đạo và lãnh nhận Thánh Tẩy và chết lành thánh. Bà ngàn lần tạ ơn Thiên Chúa về đặc ân đó.

Tuy nhiên, nước mắt bà mẹ đáng thương vẫn càng chảy nhiều hơn để níu kéo tình thương Chúa hoán cải tấm lòng chai đá Augustinô.

Augustino đi Rôma dậy học và, nhờ những bài giảng của Đức Cha Ambrôsio, Giám Mục Milan, dần dà khám phá những chân lý Đức Tin Công Giáo.

Trong khi đó, bà mẹ kiên nhẫn và đáng thương của Augustinô liều nguy hiểm, vượt biển tới Milan để chứng kiến Augustinô trở lại với Chúa Được Đức Cha Ambrôsiô giúp đỡ, Augustinô dần dà thấu hiểu Giáo Lý Công Giáo. Cuối cùng, Augustinô cùng một số bạn hữu cúi đầu trước giếng rửa tội lãnh nhận Thánh Tẩy. Sau đó, Augustinô trở thành Trở về lại quê hương nơi miền Bắc Phi Châu, Augustinô được đề cử làm Giám Mục Hippo (Bắc Phi Châu). Qua đời năm 430, Augustinô cũng đã được phong Thánh (Lễ ngày 28.08).

- Thánh nữ Inê (Anê) Lê Thị Thành (Bà Thánh Đê) sinh năm 1781 tại Thanh Hóa, Miền Trung Việt Nam. Bà lập gia đình năm 17 tuổi, sanh được 2 người con trai và 4 người con gái. Bà rất can đảm trong việc che chở các giáo sĩ trong lúc các vị đi trốn quân của triều đình. Một lần bà bị bắt quả tang đang cho một linh mục Việt Nam trốn trong nhà nên bị bắt và bị tống ngục. Bà bị bắt phải bỏ đạo, nhưng bà nhất định giữ vững đức tin dù bị tra tấn rất dã man. Bà chết trong tù vào ngày 12-7-1841 lúc 60 tuổi. Bà được Đức GH Piô X phong Chân Phước ngày 2-5-1909 và được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong hiển thánh ngày 19-6-1988.

- Thánh José Maria Escriva Balaguer, một vị Thánh của thời đại chúng ta đã sáng lập OPUS DEI (Công Việc của Chúa). Opus Dei tạo cơ hội để những sáng kiến khác nhau của các đoàn viên đều được tôn trọng, khuyến khích để nhằm đi tới một mục đích chung: Niềm an vui và lạc quan trong đời sống. Nhờ đó, Kitô-hữu đủ sức bình thản vượt qua những nghịch cảnh hằng ngày để làm cho con đường tiến đến sự Thánh Thiện trở nên dễ yêu thương : kính Chúa và yêu Người trong an vui. Ngày 06.10.2002, Đức Gioan Phaolô II tôn phong Hiển Thánh cho Chân phước Escriva de Balaguer.

Thánh José Maria Escriva de Balaguer được mệnh danh là vị ‘Thánh của công việc hằng ngày’. Tước hiệu nầy gợi ý cho mỗi người trong chúng ta suy nghĩ đến Lời Mời Gọi Nên Thánh.

- Toàn bộ cuộc đời và công trình của Chân Phước Têrêxa Calcutta là một chứng từ cho niềm vui trong yêu thương, cho sự cao cả và phẩm giá của mỗi một con người, cho giá trị của từng việc nhỏ nhất được thực thi với đức tin và tình yêu, và trên hết, cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Mẹ Têrêxa Calcutta đã đến Việt-Nam 3 lần (09/1991, 11/1993 và 12/1995). Nhờ Ơn Chúa, khi Mẹ dến Việt-Nam năm 1993, Dòng chính thức mang tên Thừa Sai Bác Ái Đức Kitô.

- Trong bài Thương khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Marcô, ngày Chúa nhật Lễ Lá (năm B), chúng ta đọc thấy : Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục Người rằng : « Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa ». Đối lại, tên kia mắng nó rằng : « Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao. Phần chúng ta, như thế nầy là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta đã làm, còn ông nầy, ông có làm gì xấu đâu ? ». Và anh ta thưa Chúa Giêsu rằng : « Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi ». Chúa Giêsu đáp: « Quả thật, Ta bảo ngươi : ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta ».

Đức Chúa Giêsu đã phong Thánh cho anh ta.

III. MỘT GƯƠNG SỐNG NÊN THÁNH.

1. Đức Vâng Lời.

Ngày 23.04.1975, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận, Giám mục Giáo phận Nha trang được Đức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm làm Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sàigòn với quyền kế vị.

Đức cha quyết định đi vào Sàigòn, noi gương Đức Kitô đã phải đi Giêrusalem, dù Cha đã biết những gì mình sẽ phải gặp tại đó như Cha viết trong ‘NĂM CHIẾC BÁNH VÀ HAI CON CÁ’ :

« Giờ đây, tôi phải đi vào Sàigòn lập tức, theo lệnh Đức Phaolô VI bồ nhiệm…Đêm ấy 07.05.1975, khi tôi ghi âm những lời tạm biệt Giáo phận Nha trang, tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc thổn thức trong tám năm ở Nha Trang - vì thương nhớ. Nhưng tâm hồn tôi rất bình an, vì tôi vâng lời Đức Thánh Cha.

Tiếp đến là gian khổ, thử thách tại Sàigòn… »

2. Chọn Thiên Chúa chứ không phải là công việc Thiên Chúa



Nhân dịp giảng tĩnh tâm cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Giáo Triều Rôma Năm Thánh 2000, trong Bài Suy Niệm thứ 5, dưới tiểu đề ‘Nền tảng đời sống Kitô‘, Đức Cha đã nói :

“Trong 9 năm biệt giam cơ cực, có lúc tôi bị giam trong một xà lim không có cửa sổ. Có khi đèn điện bật sáng từ ngày này qua ngày nọ. Có lúc lại ở trong bóng tối từ tuần này qua tuần khác. Tôi cảm thấy bị ngộp vì nóng bức và hơi ẩm. Tôi sắp bị điên lên. Lúc bấy giờ tôi là một giám mục trẻ, với 8 năm kinh nghiệm mục vụ. Tôi không thể ngủ nổi. Tôi bị dằn vặt bởi ý nghĩ phải bỏ giáo phận, phải bỏ dở những công việc của Chúa. Tôi cảm thấy một sự phẩn uất nổi lên trong tôi.

Một đêm kia, từ trong thâm tâm có một tiếng nói với tôi : ‘Tại sao con day dứt như thế ? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và các công việc của Chúa. Tất cả những gì ngươi đã làm và muốn tiếp tục làm, như các cuộc viếng thăm mục vụ, đào tạo chủng sinh, tu sĩ nam nữ, giáo dân, giới trẻ, xây trường học, các cư xá sinh viên, cứ điểm truyền giáo… đều là việc rất tốt và đúng là công việc của Thiên Chúa chứ không phải là Thiên Chúa. Nếu Chúa muốn con rời bỏ tất cả những việc đó. Hãy bỏ ngay, và hãy tín thác nơi Ngài. Thiên Chúa sẽ giao việc của con cho người khác có khả năng hơn con. Con đã chọn Chúa, chứ không phải công việc của Chúa !‘

Ánh sáng ấy đã đem lại cho tôi niềm an bình mới làm thay đổi hoàn toàn cách suy tư của tôi và đã giúp tôi vượt thắng những khoảnh khắc hầu như không thể chịu nổi về phương diện thể lý. Từ đó, một sự an lành tràn ngập tâm hồn tôi và lưu lại trong tôi suốt 13 năm tù đày. Tôi cảm thấy sự yếu đuối của con người mình, nhưng tôi luôn nhắc lại điều đã quyết định khi phải đối diện với nghịch cảnh. Nhờ thế, tôi không bao giờ mất sự bình an.

Chọn Chúa, chứ không phải chọn những công việc của Chúa. Đó chính là nền tảng đời sống Kitô trong mọi thời đại. Đồng thời đó cũng là câu trả lời đích thực cho thế giới ngày nay. Và đó cũng là con đường để thực hiện những dự định của Chúa Cha đối với chúng ta, đối với Giáo Hội và nhân loại ngày nay.

3. Sự Tha Thứ.

Đức Cha cũng đã kể :

« Một ngày nọ có một người canh tù hỏi tôi :

- Ông có yêu chúng tôi không ?

- Có chứ, tôi yêu các anh.

- Nhưng mà chúng tôi đã bỏ tù Ông bao nhiêu năm, mà không xét xử, không kết án, vậy mà ông lại yêu chúng tôi à ? Đây là điều không thể được ! Có lẽ không thật đâu !

- Tôi đã ở với ông nhiều năm, như ông thấy đó, đúng không.

- Khi nào ông được tự do, ông sẽ sai bổn đạo đến đốt nhà chúng tôi và giết người thân của chúng tôi đấy chứ ?

- Không, ngay cả khi các anh có muốn giết tôi đi nữa, tôi vẫn yêu các anh.

- Mà tại sao ?

- Bởi vì Chúa Giêsu đã dậy tôi yêu thương tất cả mọi người, kể cả kẻ thù. Nếu không làm như thế tôi sẽ không xứng đáng là kitô hữu nữa.

- Thật rất là đẹp, nhưng khó hiểu quá. »

Lúc 18 giờ, giờ Vatican, ngày 16.09.2002, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận, Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình đã được Thiên Chúa gọi ra khỏi thế gian. Ngay khi hay tin này, Đức Giám Mục Giampaolo Crepaldi, Tổng Thư Ký Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, đã tuyên bố với báo chí: "Một vị Thánh vừa qua đời".

Trong Thánh lễ giỗ Đức Cố Hồng Y lần thứ tư, cử hành sáng hôm 16.09.2006, tại nhà nguyện của Hội đồng, Đức Hồng Y Renato Martino, Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình đã loan báo Đức Thánh Cha Biển Đức 16 đã chấp thuận cho Hội đồng đứng ra xúc tiến việc mở án phong chân phước cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận.