‘
VATICAN -Bài giảng Đức Benedict XVI đã giảng ngày 15.10.2006 trong lúc cử hành Thánh Thể cho bốn vị mới được phong thánh: Rafael Guizar Valencia, Philippo Smaldone, Rosa Venerini và Théodore Gurin
CỬ HÀNH THÁNH THỂ CHO VIỆC PHONG THÁNH BỐN VỊ THÁNH MỚI
Anh Chị em thân mến,
Bốn vị Thánh mới được đề nghị hôm nay cho sự cung kính của Giáo Hội phổ quát: Rafael Guizar y Valencia, Filippo Smaldone, Rose Venerini và Théodore Gurin. Danh các ngài sẽ được nhớ mãi mãi.
Đối chiếu với sự này có ý nghĩ ngay về “người thanh niên giàu có” mà bài Tin Mừng, mới vừa công bố, nhắc đến. Người thanh niên đó vẫn vô danh; nếu anh ta đáp ứng tích cực với lời mời của Chúa Giêsu, thì anh có lẽ đã trở nên môn đệ Người và có lẽ Tác Gỉa Tin Mừng đã phải ghi tên anh.
Từ sự kiện này người ta có thể nhìn ngay chủ đề Phụng Vụ Lời của Chúa Nhật này: nếu người ta đặt sự tin tưởng của mình trong của cải thế gian này, thì không thể đạt được ý nghĩa đầy đủ của sự sống và của niềm vui thật.
Nếu ngược lại, tin tưởng Lời Chúa, con người từ bỏ chính mình và của cải mình vì Nước Trời, bề ngoài xem ra mất nhiều, nhưng trên thực tế con người được tất cả.
Vị thánh chính xác là người nam này, người nữ này, kẻ đáp ứng tiếng gọi của Chúa Kitô cách vui mừng và quảng đại, bỏ mọi sự mà theo Người. Như Pherô và những Tông Đồ khác, như thánh Teresa Giêsu hôm nay nhắc chúng ta và vô số bạn hữu khác của Chúa, các vị thánh mới cũng đã thực hiện cuộc hành trình Tin Mừng đòi hỏi nhưng thỏa mãn này và đã nhận lãnh “gấp trăm lần” trong sự sống này, cùng với những thử thách và bắt bớ, và sau đó sự sống muôn đời.
Do đó, Chúa Giêsu có thể thật sự bảo đảm một cuộc sống hạnh phúc và một sự sống đời đời, nhưng bằng một con đường khác với con đường người thanh niên giàu có tưởng tượng: tức là, không nhờ một việc làm tốt, một đồ cống nạp hợp pháp, nhưng đúng hơn trong sự lựa chọn Nước Chúa như là “viên ngọc quí” người ta bán tất cả những gì mình có để mua viên ngọc ấy (x. Mt 13:45-46)
Người thanh niên giàu không có khả năng đi bước này. Bất kể anh ta là đối tượng của cái nhìn yêu thương của Chúa Giêsu (x. Mk 10:21), tâm hồn anh không có khả năng đứt mình khỏi nhiều của cải anh có.
Như vậy mới có huấn giáo cho các môn đệ: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” (Mk 10:23_
Của cải trần thế chiếm cứ và thu hút trí và lòng. Chúa Giêsu không nói chúng xấu, nhưng chúng cách ly người ta với Thiên Chúa nếu chúng không được, có thể nói, “đầu tư” cho Nước Trời, được tiêu pha, nghĩa là, được xử dụng để giúp những kẻ nghèo khó.
Hiểu được điều đó là hoa quả của sự khôn ngoan mà Bài Đọc Một nói tới. Như chúng ta được nói, sự khôn ngoan quí hơn bạc hay vàng, và tốt hơn, mag lại sức khoẻ và đầy ánh sáng, “vì vẻ rực rỡ của đức khôn ngoan chẵng bao gờ tàn lụi “(Wis 7:10).
Dĩ nhiên, sự khôn ngoan này không thể qui về chiều kích lý trí mà thôi. Nó còn nhiều hơn nữa; đó là sư “Khôn Ngoan của tâm hồn”,như được gọi trong Thánh Vịnh 89. Đó là một ân huệ từ cao (x. Jas 3:17), từ Thiên Chúa, và có được là nhơ cầu nguyện (x. Wis 7:7).
Trên thực tế, nó không ở xa con người, nó đã đến gần tâm hồn con người (x. Dt 30-14), hình thành trong luật Khế Ước Đầu Tiên giữa Thiên Chúa và dân Israel qua ông Moisen.
Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa chứa đựng trong 10 Giới Răn. Đó là lý do Chúa Giêsu khẳng định trong sách Tin Mừng rằng muốn “vào sự sống đời đời” thì cần phải giữ các Giới Răn (x. Mk 10:19). Cần, nhưng không đủ!
Trên thực tế, như thánh Phaol nói, sự cứu độ không đến từ luật, nhưng từ An Sủng. Và Thánh Gioan nhắc rằng luật thì Moisen ban cho, đang khi An Sủng và Chân Lý đến qua trung gian Chúa Giêsu Kitô (x. Ga 1:17).
Muốn được cứu độ người ta phải cởi mở trong đức tin với ân sủng Chúa Kitô, Đấng, dầu sao, khi được hỏi, đặt một điều kiện bắt buộc: “Hãy đến, theo tôi” ( Mk 10:21)
Các thánh đã có lòng khiêm tốn và can đảm trả lời “vâng”, và các ngài đã từ bỏ tất cả để nên bạn hữu của Người.
Bốn vị Thánh mới chúng ta tôn kính đặc biệt hôm nay đã làm như vậy. Trong các ngài chúng ta gặp kinh nghiệm của Pherô được cập nhật hóa: “Thầy coi, phần chúng con,” chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy( Mk 10:28). Kho tàng của các ngài ở trên trời: đó là Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng chúng ta đã nghe giúp chúng ta hiểu gương mặt của Thánh Rafael Guizar y Valencia, Giám Mục thành Vera Cruz trong Quốc Gia Mexican đáng yêu, như là một tấm gương của kẻ đã bỏ mọi sự mà “theo Chúa Giêsu”.
Vị Thánh này trung thành với Lời Chúa, “ sống động và năng động”, thấm nhập chiều sâu tinh thần (x. Heb 4:12). Bắt chước Chúa Kitô nghèo nàn, ngài đã từ bỏ của cải của ngài và không bao giờ nhận lấy những ân huệ của các người quyền quí, hay đúng hơn, ngài trả lại cho họ ngay. Đó là lý do ngài đã nhận lãnh “gấp trăm” và nhờ vậy mà giúp đỡ kẻ nghèo, dầu giữa những cơn “bắt bớ” liên lỉ (x. Mk 10:30).
Lòng bác ái của ngài, sống tới mức anh hùng, làm cho ngài có tên, “Giám Mục kẻ nghèo”. Trong thừa tác vụ linh mục và sau đó giám mục của ngài, ngài là kẻ giảng không biết mỏi mệt những tuần đại phúc bình dân, môt phương thế thích hợp nhất lúc đó để phúc âm hoá dân chúng, bằng cách sử dụng “cuốn Giáo Lý Giáo lý Kitô hữu” của riêng ngài.
Vì việc đào tạo các linh mục là một trong những ưu tiên của ngài, ngài mở lại chủng viện, mà ngài coi như “con ngươi mắt ngài”, và do đó ngài thường nói: “Một Giám mục có thể không cần mũ, gậy và cả nhà thờ chánh tòa, nhưng ngài không thể thiếu chủng viện, bởi vì tương lai của Giáo Phận ngài tùy thuộc vào đó.
Với ý thức sâu xa này về tình phụ tử linh mục, ngài đối mặt những sự bắt bớ và những sự lưu đày mới, nhưng ngài luôn bảo đảm sự đào tạo các sinh viên.
Gương Thánh Rafael Guizar y Valencia là một tiếng gọi các Giám Mục và các linh mục anh em của ngài phải coi là cơ bản trong những chương trình mục vụ, ngoài tinh thần khó nghèo và việc rao giảng tin mừng, việc cổ võ những ơn gọi linh mục và tu sĩ, và sự đào tạo họ theo ước muốn của Chúa Giêsu!
Thánh Filippo Smaldone, người con Nam Italy, biết phải làm thấm nhuần cách nào trong đời sống của ngài những nhân đức cao hơn đặc điểm của quê hương ngài.
Là một linh mục với một tâm hồn cao cả luôn luôn được nuôi dưỡng trong sự cầu nguyện và chầu Thánh Thể, ngài là hơn hết một chứng nhân và đầy tớ đức bác ái, một nhân đức ngài tỏ bày một cách siêu vời qua sự phục vụ kẻ nghèo, cách riêng những kẻ điếc-câm, mà ngài đã hiến mình hoàn toàn cho họ.
Công việc ngài đã bắt đầu, phát triển nhờ Hội Dòng các Nữ Tu Salesian các Thánh Tâm do ngài thiết lập và lan rộng tới những phần khác nhau nước Italy và thế giới.
Thánh Filippo Smaldone thấy hình ảnh Thiên Chúa phản chiếu trong những kẻ điếc-câm, và người quen lập lại rằng, đúng như chúng ta sấp mình trước Bí Tích thánh, nên chúng ta phải quì gối trước một kẻ điếc-câm
Từ gương của ngài chúng ta tiếp nhận lời mời coi trọng tình yêu không bao giờ có thể phân chia đối với Thánh Thể và tình yêu đối với người thân cận. Nhưng khả năng thật sự yêu anh em chỉ có thể tới từ sự gặp gỡ với Chúa trong Bí Tích Thánh Thể.
Thánh Rose Venerini là một gương khác của người môn đệ trung tín của Chúa Kitô, sẵn sàng từ bỏ mọi sự để làm theo ý muốn của Thiên Chúa. Ngài thích nói: “Tôi cảm thấy tôi bị ràn buộc với ý muốn của Chúa đến nỗi cả sự chết lẫn sự sống không quan trọng: tôi muốn sống như Người muốn và tôi muốn phục vụ Người như Người muốn, và không gì hơn” (Biografia Andreucci, p.515).
Từ đây, từ sự phó mình cho Thiên Chúa như vậy, nẩy sinh cộng việc đáng khâm phục lâu dài mà ngài đã can đảm phát triển vì lợi ích cho sự nâng cao thiêng liêng và sự giải phóng đích thực của những người nữ trẻ thời đại ngài.
Thánh Rose không bằng lòng mình với việc cung cấp cho các cô gái một sự giáo dục đầy đủ, nhưng ngài quan tâm bảo đảm sự đào tạo trọn vẹn cho họ, với những qui chiếu lành mạnh về huấn giáo giáo lý của Giáo Hội.
Kiểu mẫu tông đồ của ngài tiếp tục làm đặc tánh cho cuộc sống của Hội Dòng các Cô Giáo Nữ tu Veneriniu mà ngài đã thiết lập. Và sự phục vụ này hợp thời và quan trọng biết bao cho xã hội ngày nay, việc phục vụ đó đặt các Nữ tu trong lãnh vực giáo dục và cách riêng lãnh vực đào tạo các người nữ.
“Hãy đi, bán những gì anh có mà cho người nghèo…rồi hãy đến mà theo tôi”. Những lời này đã linh hứng vô số người Kitô hữu khắp lịch sử Giáo Hội theo Chúa Kitô trong một đời sống khó nghèo triệt để, vì tin tưởng vào Chúa Quan Phòng.
Giữa những môn đệ quảng đại này của Chúa Kitô có một người nữ trẻ quốc tịch Pháp, kẻ đã đáp ứng không dè dặt với tiếng gọi của Thầy thần linh. Mẹ Théodore Gurin đã gia nhập Hội Dòng các Nữ Tu Quan Phòng năm 1823, và ngài đã hiến mình cho việc dạy học trong các trường. Sau đó, năm 1839, ngài được các Bề trên yêu cầu sang Hiệp-Chúng-Quốc cầm đầu một cộng đồng mới tại Indiana.
Sau cuộc hành trình dài trên đất và biển, nhóm sáu Nữ Tu đã đến Saint Mary-of-the-Woods. Ở đó các nữ tu đã xây dựng một nhà nguyện đơn sơ bằng gỗ giữa rừng. Các nữ tu quì gối trước Thánh Thể và tạ ơn, xin Thiên Chúa hướng dẫn cơ sở mói này.
Với lòng tín thác cao trong Chúa Quan Phòng, Mẹ Théodore đã lướt thắng nhiều thách đố và bền đỗ trong công việc Chúa đã kêu gọi ngài làm. Lúc ngài chết năm 1856, các Nữ Tu đã điều hành các trường học và những cô nhi viện khắp Tiểu Bang Indiana.
Trong những lời nói của ngài, “Biết bao điều tốt đã được thực hiện bởi các Nữ Tu Saint Mary-of-the-Woods (tạm dịch :Các Nữ Tu Thánh Maria giữa Núi Rừng!) Biết bao điều tốt hơn họ có khả năng làm nếu họ trung thành với ơn gọi thánh của mình!”
Mẹ Théodore Gurin là một gương mặt thiêng liêng đẹp và là một kiểu mẫu đời sống Kitô hữu. Ngài đã luôn luôn cởi mở đối với những sứ mạng Giáo Hội đã phó thác cho ngài, và ngài đã gặp được sức mạnh và sự táo bạo để đặt chúng (các sứ mạng) trong thực hành nhờ Thánh Thể, nhờ sự cầu nguyện và nhờ một sự tín thác vô cùng trong Chúa Quan Phòng. Sức mạnh nội tâm của ngài thúc đẩy ngài lưu ý cách riêng tới những kẻ nghèo, và hơn hết tới trẻ con.
Anh Chị Em thân mến, chúng ta cảm tạ ơn Chúa vì ân huệ của sư thánh thiện mà ngày nay sáng chói trong Giáo Hội với vẻ đẹp đặc biệt.
Chúa Giêsu cũng mời chúng ta, như các vị Thánh này, theo Người hầu có được một gia sản trong sự sống đời đời. Mong sao chứng từ nên gương của các ngài soi sáng và an ủi cách riêng giới trẻ, ngõ hầu họ có thể để mình được thuyết phục bởi Chúa Kitô, bởi sự nhìn đầy yêu thương của Người.
Xin Đức Maria, Nữ Vương các Thánh, tăng số lượng giữa người kitô hữu, về những người nam và người nữ như thánh Rafael Guizar y Valencia, Thánh Filippo Smaldone, Thánh Rose Venerini và thánh Théodore Gurin, sẵn sàng bỏ mọi sự vì Nước Chúa, sẵn sàng biến của cải mình thành logic của ân huệ và sự phục vụ, điều duy nhất cứu chữa thế gới . Amen
KHO TÀNG DUY NHẤT CỦA CÁC THÁNH LÀ Ở TRÊN TRỜI: ĐÓ LÀ THIÊN CHÚA"
VATICAN -Bài giảng Đức Benedict XVI đã giảng ngày 15.10.2006 trong lúc cử hành Thánh Thể cho bốn vị mới được phong thánh: Rafael Guizar Valencia, Philippo Smaldone, Rosa Venerini và Théodore Gurin
CỬ HÀNH THÁNH THỂ CHO VIỆC PHONG THÁNH BỐN VỊ THÁNH MỚI
- RAFAEL GUIZAR VALENCIA (1878-1938)
- FILIPPO SMALDONE (1848-1923)
- ROSA VENERINI (1656-1728)
- THEODORE GURIN (1798-1856)
Anh Chị em thân mến,
Bốn vị Thánh mới được đề nghị hôm nay cho sự cung kính của Giáo Hội phổ quát: Rafael Guizar y Valencia, Filippo Smaldone, Rose Venerini và Théodore Gurin. Danh các ngài sẽ được nhớ mãi mãi.
Đối chiếu với sự này có ý nghĩ ngay về “người thanh niên giàu có” mà bài Tin Mừng, mới vừa công bố, nhắc đến. Người thanh niên đó vẫn vô danh; nếu anh ta đáp ứng tích cực với lời mời của Chúa Giêsu, thì anh có lẽ đã trở nên môn đệ Người và có lẽ Tác Gỉa Tin Mừng đã phải ghi tên anh.
Từ sự kiện này người ta có thể nhìn ngay chủ đề Phụng Vụ Lời của Chúa Nhật này: nếu người ta đặt sự tin tưởng của mình trong của cải thế gian này, thì không thể đạt được ý nghĩa đầy đủ của sự sống và của niềm vui thật.
Nếu ngược lại, tin tưởng Lời Chúa, con người từ bỏ chính mình và của cải mình vì Nước Trời, bề ngoài xem ra mất nhiều, nhưng trên thực tế con người được tất cả.
Vị thánh chính xác là người nam này, người nữ này, kẻ đáp ứng tiếng gọi của Chúa Kitô cách vui mừng và quảng đại, bỏ mọi sự mà theo Người. Như Pherô và những Tông Đồ khác, như thánh Teresa Giêsu hôm nay nhắc chúng ta và vô số bạn hữu khác của Chúa, các vị thánh mới cũng đã thực hiện cuộc hành trình Tin Mừng đòi hỏi nhưng thỏa mãn này và đã nhận lãnh “gấp trăm lần” trong sự sống này, cùng với những thử thách và bắt bớ, và sau đó sự sống muôn đời.
Do đó, Chúa Giêsu có thể thật sự bảo đảm một cuộc sống hạnh phúc và một sự sống đời đời, nhưng bằng một con đường khác với con đường người thanh niên giàu có tưởng tượng: tức là, không nhờ một việc làm tốt, một đồ cống nạp hợp pháp, nhưng đúng hơn trong sự lựa chọn Nước Chúa như là “viên ngọc quí” người ta bán tất cả những gì mình có để mua viên ngọc ấy (x. Mt 13:45-46)
Người thanh niên giàu không có khả năng đi bước này. Bất kể anh ta là đối tượng của cái nhìn yêu thương của Chúa Giêsu (x. Mk 10:21), tâm hồn anh không có khả năng đứt mình khỏi nhiều của cải anh có.
Như vậy mới có huấn giáo cho các môn đệ: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” (Mk 10:23_
Của cải trần thế chiếm cứ và thu hút trí và lòng. Chúa Giêsu không nói chúng xấu, nhưng chúng cách ly người ta với Thiên Chúa nếu chúng không được, có thể nói, “đầu tư” cho Nước Trời, được tiêu pha, nghĩa là, được xử dụng để giúp những kẻ nghèo khó.
Hiểu được điều đó là hoa quả của sự khôn ngoan mà Bài Đọc Một nói tới. Như chúng ta được nói, sự khôn ngoan quí hơn bạc hay vàng, và tốt hơn, mag lại sức khoẻ và đầy ánh sáng, “vì vẻ rực rỡ của đức khôn ngoan chẵng bao gờ tàn lụi “(Wis 7:10).
Dĩ nhiên, sự khôn ngoan này không thể qui về chiều kích lý trí mà thôi. Nó còn nhiều hơn nữa; đó là sư “Khôn Ngoan của tâm hồn”,như được gọi trong Thánh Vịnh 89. Đó là một ân huệ từ cao (x. Jas 3:17), từ Thiên Chúa, và có được là nhơ cầu nguyện (x. Wis 7:7).
Trên thực tế, nó không ở xa con người, nó đã đến gần tâm hồn con người (x. Dt 30-14), hình thành trong luật Khế Ước Đầu Tiên giữa Thiên Chúa và dân Israel qua ông Moisen.
Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa chứa đựng trong 10 Giới Răn. Đó là lý do Chúa Giêsu khẳng định trong sách Tin Mừng rằng muốn “vào sự sống đời đời” thì cần phải giữ các Giới Răn (x. Mk 10:19). Cần, nhưng không đủ!
Trên thực tế, như thánh Phaol nói, sự cứu độ không đến từ luật, nhưng từ An Sủng. Và Thánh Gioan nhắc rằng luật thì Moisen ban cho, đang khi An Sủng và Chân Lý đến qua trung gian Chúa Giêsu Kitô (x. Ga 1:17).
Muốn được cứu độ người ta phải cởi mở trong đức tin với ân sủng Chúa Kitô, Đấng, dầu sao, khi được hỏi, đặt một điều kiện bắt buộc: “Hãy đến, theo tôi” ( Mk 10:21)
Các thánh đã có lòng khiêm tốn và can đảm trả lời “vâng”, và các ngài đã từ bỏ tất cả để nên bạn hữu của Người.
Bốn vị Thánh mới chúng ta tôn kính đặc biệt hôm nay đã làm như vậy. Trong các ngài chúng ta gặp kinh nghiệm của Pherô được cập nhật hóa: “Thầy coi, phần chúng con,” chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy( Mk 10:28). Kho tàng của các ngài ở trên trời: đó là Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng chúng ta đã nghe giúp chúng ta hiểu gương mặt của Thánh Rafael Guizar y Valencia, Giám Mục thành Vera Cruz trong Quốc Gia Mexican đáng yêu, như là một tấm gương của kẻ đã bỏ mọi sự mà “theo Chúa Giêsu”.
Vị Thánh này trung thành với Lời Chúa, “ sống động và năng động”, thấm nhập chiều sâu tinh thần (x. Heb 4:12). Bắt chước Chúa Kitô nghèo nàn, ngài đã từ bỏ của cải của ngài và không bao giờ nhận lấy những ân huệ của các người quyền quí, hay đúng hơn, ngài trả lại cho họ ngay. Đó là lý do ngài đã nhận lãnh “gấp trăm” và nhờ vậy mà giúp đỡ kẻ nghèo, dầu giữa những cơn “bắt bớ” liên lỉ (x. Mk 10:30).
Lòng bác ái của ngài, sống tới mức anh hùng, làm cho ngài có tên, “Giám Mục kẻ nghèo”. Trong thừa tác vụ linh mục và sau đó giám mục của ngài, ngài là kẻ giảng không biết mỏi mệt những tuần đại phúc bình dân, môt phương thế thích hợp nhất lúc đó để phúc âm hoá dân chúng, bằng cách sử dụng “cuốn Giáo Lý Giáo lý Kitô hữu” của riêng ngài.
Vì việc đào tạo các linh mục là một trong những ưu tiên của ngài, ngài mở lại chủng viện, mà ngài coi như “con ngươi mắt ngài”, và do đó ngài thường nói: “Một Giám mục có thể không cần mũ, gậy và cả nhà thờ chánh tòa, nhưng ngài không thể thiếu chủng viện, bởi vì tương lai của Giáo Phận ngài tùy thuộc vào đó.
Với ý thức sâu xa này về tình phụ tử linh mục, ngài đối mặt những sự bắt bớ và những sự lưu đày mới, nhưng ngài luôn bảo đảm sự đào tạo các sinh viên.
Gương Thánh Rafael Guizar y Valencia là một tiếng gọi các Giám Mục và các linh mục anh em của ngài phải coi là cơ bản trong những chương trình mục vụ, ngoài tinh thần khó nghèo và việc rao giảng tin mừng, việc cổ võ những ơn gọi linh mục và tu sĩ, và sự đào tạo họ theo ước muốn của Chúa Giêsu!
Thánh Filippo Smaldone, người con Nam Italy, biết phải làm thấm nhuần cách nào trong đời sống của ngài những nhân đức cao hơn đặc điểm của quê hương ngài.
Là một linh mục với một tâm hồn cao cả luôn luôn được nuôi dưỡng trong sự cầu nguyện và chầu Thánh Thể, ngài là hơn hết một chứng nhân và đầy tớ đức bác ái, một nhân đức ngài tỏ bày một cách siêu vời qua sự phục vụ kẻ nghèo, cách riêng những kẻ điếc-câm, mà ngài đã hiến mình hoàn toàn cho họ.
Công việc ngài đã bắt đầu, phát triển nhờ Hội Dòng các Nữ Tu Salesian các Thánh Tâm do ngài thiết lập và lan rộng tới những phần khác nhau nước Italy và thế giới.
Thánh Filippo Smaldone thấy hình ảnh Thiên Chúa phản chiếu trong những kẻ điếc-câm, và người quen lập lại rằng, đúng như chúng ta sấp mình trước Bí Tích thánh, nên chúng ta phải quì gối trước một kẻ điếc-câm
Từ gương của ngài chúng ta tiếp nhận lời mời coi trọng tình yêu không bao giờ có thể phân chia đối với Thánh Thể và tình yêu đối với người thân cận. Nhưng khả năng thật sự yêu anh em chỉ có thể tới từ sự gặp gỡ với Chúa trong Bí Tích Thánh Thể.
Thánh Rose Venerini là một gương khác của người môn đệ trung tín của Chúa Kitô, sẵn sàng từ bỏ mọi sự để làm theo ý muốn của Thiên Chúa. Ngài thích nói: “Tôi cảm thấy tôi bị ràn buộc với ý muốn của Chúa đến nỗi cả sự chết lẫn sự sống không quan trọng: tôi muốn sống như Người muốn và tôi muốn phục vụ Người như Người muốn, và không gì hơn” (Biografia Andreucci, p.515).
Từ đây, từ sự phó mình cho Thiên Chúa như vậy, nẩy sinh cộng việc đáng khâm phục lâu dài mà ngài đã can đảm phát triển vì lợi ích cho sự nâng cao thiêng liêng và sự giải phóng đích thực của những người nữ trẻ thời đại ngài.
Thánh Rose không bằng lòng mình với việc cung cấp cho các cô gái một sự giáo dục đầy đủ, nhưng ngài quan tâm bảo đảm sự đào tạo trọn vẹn cho họ, với những qui chiếu lành mạnh về huấn giáo giáo lý của Giáo Hội.
Kiểu mẫu tông đồ của ngài tiếp tục làm đặc tánh cho cuộc sống của Hội Dòng các Cô Giáo Nữ tu Veneriniu mà ngài đã thiết lập. Và sự phục vụ này hợp thời và quan trọng biết bao cho xã hội ngày nay, việc phục vụ đó đặt các Nữ tu trong lãnh vực giáo dục và cách riêng lãnh vực đào tạo các người nữ.
“Hãy đi, bán những gì anh có mà cho người nghèo…rồi hãy đến mà theo tôi”. Những lời này đã linh hứng vô số người Kitô hữu khắp lịch sử Giáo Hội theo Chúa Kitô trong một đời sống khó nghèo triệt để, vì tin tưởng vào Chúa Quan Phòng.
Giữa những môn đệ quảng đại này của Chúa Kitô có một người nữ trẻ quốc tịch Pháp, kẻ đã đáp ứng không dè dặt với tiếng gọi của Thầy thần linh. Mẹ Théodore Gurin đã gia nhập Hội Dòng các Nữ Tu Quan Phòng năm 1823, và ngài đã hiến mình cho việc dạy học trong các trường. Sau đó, năm 1839, ngài được các Bề trên yêu cầu sang Hiệp-Chúng-Quốc cầm đầu một cộng đồng mới tại Indiana.
Sau cuộc hành trình dài trên đất và biển, nhóm sáu Nữ Tu đã đến Saint Mary-of-the-Woods. Ở đó các nữ tu đã xây dựng một nhà nguyện đơn sơ bằng gỗ giữa rừng. Các nữ tu quì gối trước Thánh Thể và tạ ơn, xin Thiên Chúa hướng dẫn cơ sở mói này.
Với lòng tín thác cao trong Chúa Quan Phòng, Mẹ Théodore đã lướt thắng nhiều thách đố và bền đỗ trong công việc Chúa đã kêu gọi ngài làm. Lúc ngài chết năm 1856, các Nữ Tu đã điều hành các trường học và những cô nhi viện khắp Tiểu Bang Indiana.
Trong những lời nói của ngài, “Biết bao điều tốt đã được thực hiện bởi các Nữ Tu Saint Mary-of-the-Woods (tạm dịch :Các Nữ Tu Thánh Maria giữa Núi Rừng!) Biết bao điều tốt hơn họ có khả năng làm nếu họ trung thành với ơn gọi thánh của mình!”
Mẹ Théodore Gurin là một gương mặt thiêng liêng đẹp và là một kiểu mẫu đời sống Kitô hữu. Ngài đã luôn luôn cởi mở đối với những sứ mạng Giáo Hội đã phó thác cho ngài, và ngài đã gặp được sức mạnh và sự táo bạo để đặt chúng (các sứ mạng) trong thực hành nhờ Thánh Thể, nhờ sự cầu nguyện và nhờ một sự tín thác vô cùng trong Chúa Quan Phòng. Sức mạnh nội tâm của ngài thúc đẩy ngài lưu ý cách riêng tới những kẻ nghèo, và hơn hết tới trẻ con.
Anh Chị Em thân mến, chúng ta cảm tạ ơn Chúa vì ân huệ của sư thánh thiện mà ngày nay sáng chói trong Giáo Hội với vẻ đẹp đặc biệt.
Chúa Giêsu cũng mời chúng ta, như các vị Thánh này, theo Người hầu có được một gia sản trong sự sống đời đời. Mong sao chứng từ nên gương của các ngài soi sáng và an ủi cách riêng giới trẻ, ngõ hầu họ có thể để mình được thuyết phục bởi Chúa Kitô, bởi sự nhìn đầy yêu thương của Người.
Xin Đức Maria, Nữ Vương các Thánh, tăng số lượng giữa người kitô hữu, về những người nam và người nữ như thánh Rafael Guizar y Valencia, Thánh Filippo Smaldone, Thánh Rose Venerini và thánh Théodore Gurin, sẵn sàng bỏ mọi sự vì Nước Chúa, sẵn sàng biến của cải mình thành logic của ân huệ và sự phục vụ, điều duy nhất cứu chữa thế gới . Amen