THỜ PHƯỢNG THIÊN CHÚA VÀ THÁNH HÓA CON NGƯỜI
Điểm khác biệt cốt yếu giữa bí tích và phụng vụ là ở chỗ một bên nhằm thánh hóa con người, một bên nhằm thờ phượng, tôn vinh Thiên Chúa. vì thế, thiết tưởng nên đề cập đến vai trò thánh hóa của bí tích và tôn thờ Thiên Chúa của phụng vụ, nhằm làm nổi bật điểm khác biệt cốt yếu giữa đôi bên, dựa vào hai động tác đi ngược chiều với nhau của bí tích và phụng vụ.
Quả vậy, động tác của phụng vụ đi từ phía con người lên tới Thiên Chúa còn động tác của bí tích thì lại từ phía Thiên Chúa đến với con người.
Phụng vụ là cách thế con người dùng để bày tỏ lòng mến yêu thần phục của mình đối với Thiên Chúa như một thọ tạo đối với Đấng Tạo hóa, là lời cầu nguyện của con người đi đến gặp gỡ Thiên Chúa, là lễ dâng hiến toàn thân với tất cả hiện hữu và sở hữu của mình cho Thiên Chúa. Nói tóm lại, phụng vụ là việc kính thờ chính thức của Giáo hội dâng lên Thiên Chúa.
Còn trái lại, bí tích là động tác từ phía Thiên Chúa đến với con người ; Thiên Chúa dùng các bí tích để thông ban ân sủng và chính sức sống của Người cho chúng ta hay nói khác đi, bí tích là phương tiện Thiên Chúa dùng để thánh hóa con người.
Thực ra, thế ngược chiều đó xem ra chỉ ở bề mặt mà thôi vì cụ thể Thiên Chúa thánh hóa con người và con người tôn vinh Thiên Chúa : hai việc đó liên hệ mật thiết với nhau ; cả hai hành vi đó đều là những góc cạnh có tương quan với nhau và thuộc về cùng một thực tại. Sở dĩ như vậy vì giữa hoạt động của Thiên Chúa và cách đáp ứng của con người trong công trình thánh hóa nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa, có sự hội nhập mật thiết. (Dom Cyprien Vagaggini, Initiation théologique à la liturgie I, trang 91) Lý do là :
Thiên Chúa không làm nghi thức trên một con người bất động, mà là kêu gọi con người sống động hợp tác với ơn thánh. Chỉ chừng nào con người sẵn sàng, cởi mở, đón nhận, hợp tác với ơn Chúa, chừng đó hoạt động thánh hóa của Thiên Chúa mới hữu hiệu.
Vả lại, mọi việc thờ phượng đều thuộc phạm vi siêu nhiên, vì đến với Thiên Chúa, đi tới chỗ gặp gỡ Người là một hành vi vượt trên khả năng tự nhiên của chúng ta và là điều không thể làm được, nếu không có ơn trợ giúp. Vì thế, nếu muốn thờ phượng Thiên Chúa, thì cần phải có ơn thánh hóa của Người tác động. Chúng ta chỉ cần rút kinh nghiệm từ những khi cầu nguyện cũng đủ rõ, vì cầu nguyện không phải là điều dễ dàng, nếu chúng ta không có sẵn xu hướng va tinh thần cởi mở để Thiên Chúa đến dùng môi miệng và lòng trí chúng ta mà làm công việc đó.
Trong thiên khảo luận về đức thờ phượng, thánh Tô-ma phân biệt hai loại hành vi thuộc nhân đức này :
* những việc chúng ta làm để dâng hiến Chúa một cái gì ;
* những việc chúng ta làm để đón nhận ơn thánh
Việc dâng hiến Chúa một cái gì ở đây bao hàm việc dâng hiến bên trong là dâng ý riêng của chúng ta cho Thiên Chúa mà thánh Tô-ma gọi là devotio và việc dâng hiến bên ngoài biểu lộ ra bằng những cử chỉ lễ bái tôn thờ hay bằng các lễ vật. Cao điểm của lối dâng hiến này là lễ tế hy sinh, một hình thức dâng hiến tuyệt hảo, vì lễ vật dâng hiến cho Thiên Chúa được thiêu đốt thành hương thơm bay lên trước Thánh Nhan, khiến người ta không còn có thể dùng vật đó vào việc gì khác nữa.
Hai động tác này kết hiệp với nhau cách rất tự nhiên. Trong hầu hết các tôn giáo, sau lễ tế, người ta thường ngồi ăn chung với nhau của lễ đã dâng hiến, để tỏ dấu hiệp thông với vị thần họ tôn kính, qua trung gian lễ vật đã được dâng cho vị đó và kể như đã thành của riêng vị đó rồi.
Trong Ki-tô giáo, thánh lễ, trung tâm điểm của đời sống Ki-tô hữu vừa là lễ tế của Đức Ki-tô vừa là sự hiệp thông với lễ vật dâng hiến, nguồn mạch chính yếu để làm cho con người nên thánh.
Điều đáng lưu ý đặc biệt là trong thánh lễ, khi bánh và rượu được hiến thánh thì Đức Ki-tô hiện diện một cách nhiệm mầu. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì sự hiện diện này. Bởi vậy, tạ ơn là một hình thức cốt yếu chứng tỏ thái độ đáp lễ của con người đối với Thiên Chúa.
Thật thế, nếu đọc lại những lời tường thuật việc thiết lập bí tích Thánh Thể trong công thức truyền phép như “Này là mình Thầy, Này là máu Thầy” từ miệng Đức Ki-tô nói ra, thì rõ ràng đó là những lời khẳng định với các môn đệ. Thánh Phao-lô và thánh Lu-ca dùng chữ “đang khi tạ ơn” để diễn tả việc bánh hóa thành mình và rượu hóa thành máu Chúa ; còn thánh Mát-thêu và Mác-cô lại dùng một kiểu đồng nghĩa để diễn tả là : “đọc lời chúc tụng”
Chúng ta thường hiểu bản văn trong kinh nguyện thánh thể như sau : Người cầm lấy bánh, tạ ơn và làm phép bằng dấu thánh giá vẽ trên bánh, nhưng hiểu như vậy là không đúng. Theo Tin Mừng, Đức Ki-tô không làm phép bánh mà là chúc tụng Thiên Chúa. Chữ benire sau mới biến nghĩa mà thành ra làm phép, còn nghĩa sâu sắc ban đầu là nói hay, nói tốt, ca ngợi, tạ ơn. Như vậy khi thấy dùng chữ benire trong tiếng La tinh và bénir trong tiếng Pháp không nên hiểu là chúc lành hay làm phép mà là ca tụng, tạ ơn, tôn vinh Thiên Chúa vì một ơn huệ hay kỳ công nào đó của Người. Qua cử chỉ này, con người hướng lòng lên cùng Thiên Chúa, có một thái độ tôn thờ, cảm tạ rất phù hợp với ý nghĩa nguyên thủy của chữ Eucharistia là tạ ơn mà thường chúng ta vẫn dịch là phép Thánh Thể hay phép Mình Thánh Chúa. Tiếng này tuy không sai nhưng không lột tả được ý nghĩa tạ ơn.
Do đó, chúng ta thấy rằng tôn thờ Thiên Chúa và thánh hóa con người không phải là hai thái độ đối chọi hoặc có thể tách biệt nhau được.
Nếu xét cho kỹ hơn nữa thì lý do bất khả phân ly giữa việc thờ phượng Thiên Chúa và thánh hóa con người, căn bản là ở nơi Đức Ki-tô.
Quả vậy, không có một ơn hay tác động thánh hóa nào mà lại không do Đức Ki-tô. Chúng ta được ơn nào thì cũng là do công nghiệp của Người, được thông ban cho ơn nào thì cũng đều bởi nhân tính của Người. Mọi hoạt động thánh hóa đều do Đức Ki-tô thực hiện nơi chúng ta, làm cho chúng ta thêm kết hiệp với Người.
Vì thế, không thể tôn thờ Chúa Cha nếu không nhờ Đức Ki-tô và kết hiệp với Người để làm công việc đó. Nói cho đúng hơn, việc tôn thờ của Giáo hội chính là việc tôn thờ của Đức Ki-tô dâng lên Chúa Cha với toàn thân thể mầu nhiệm của Người là Giáo hội, một đoàn thể và một tổ chức rông lớn hằng luôn luôn tiếp tục công việc này.
Nói cho rõ hơn thì việc Đức Ki-tô tôn thờ Chúa Cha đạt tới điểm cao nhất và hoàn thành trong lễ hy sinh trên thập giá, là lễ tế duy nhất bao gồm mọi thứ lễ tế khác và từ đó phát xuất ra mọi giá trị cho những lễ tế đó, vì từ thập giá phát ra mọi hoạt động thánh hóa như từ một nguồn suối duy nhất.
Như vậy thiết tưởng đã đủ để nói được rằng việc thờ phượng thánh hóa con người và con người được thánh hóa nhờ việc theo mẫu mực Đức Ki-tô đã đặt để và chỉ vẽ cho chúng ta.