CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN (B)

Ai thực sự là kẻ mù lòa ?



Dẫn nhập đầu lễ :

Qua các chỉ dẫn của Lời Chúa sắp được công bố, chúng ta có thể tìm thấy trọng tâm của sứ điệp phụng vụ hôm nay đó chính là : đức tin, một cuộc lên đường tiến về ánh sáng. Nói cách khác, Lời Chúa hôm nay gọi mời chúng ta hãy biến cuộc hành trình đức tin thành một cuộc “hội ngộ” với Đức Kitô là nguồn ánh sáng, hãy mau mắn thực hiện cuộc đổi đời từ bóng tối của đui mù lầm lạc tội lỗi tiến về “chân trời cứu độ” ngập tràn rạng rỡ tin yêu.

Thánh lễ hôm nay vừa là một gọi mời vừa là một cơ hội để chúng ta một lần nữa đặt niềm tin vào Thiên Chúa, một Thiên Chúa “đã cứu thoát dân Người”, một lần nữa tiến về gặp gỡ Đức Kitô, một Đức Kitô sẵn sàng đưa mắt đoái thương và chữa lành những thân phận “Bar-ti-mê” mù lòa bất hạnh.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi để xứng đáng cử hành Thánh lễ.

Giảng Lời Chúa :

1/. Đức tin : một chọn lựa trước hai ngã đường : ánh sáng hay bóng tối.

Nổi bi đát nhất của một tù nhân đó là ngày vĩnh viễn bị ném vào ngục tối để không còn được nhìn thấy ánh sáng của ban ngày; và giây phút kinh hoàng nhất của môt tên tử tội là phút giây đợi chờ hành quyết để vĩnh biệt ánh sáng cuộc sống dương gian và bị đẩy vào đêm đen của miền âm u sự chết !

Quả thật, Ánh Sáng – Bóng Tối đó là hai đối cực tượng trưng cho hai cuộc sống, hai thế giới, hai lãnh vực hoàn toàn đối nghịch nhau, cách xa nhau, triệt tiêu nhau. Và trong ngữ nghĩa Kinh Thánh, ánh sáng là tượng trưng cho chân lý và sự sống, cho vinh quang Thiên Chúa, cho niềm tin yêu hy vọng, cho ơn cứu độ…Còn bóng Tối là quê hương của lầm lạc, tội lối, ma quỷ, gian ác. Nếu Thiên Chúa ngay từ đầu đã dựng nên ánh sáng như thực tại đầu tiên của công trình sáng tạo : “Thiên Chúa phán : hãy có ánh ánh, ánh sáng liền có !” (St 1,3); thì vào chiều Thứ Sáu, đỉnh cao của tội lỗi loài người : khi Con Chúa bị giết chết trên đồi Sọ thì bóng tối đã bao trùm không gian : “Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Mặt trời tối đi” (Lc 23,44-45). Chính vì thế, các Sứ ngôn không ngần ngại loan báo viễn tượng về một “ngày mai rực sáng của thời đại Thiên Sai” để bỏ lại những ngày “lưu đầy sống kiếp lầm than lầm lũi bước đi trong miền âm u tử địa” (Is 9,1) : “Nầy Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, qui tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ : tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo…” (Gr 31,8), BĐ 1). Và khi thời Tân ước đến, Thánh Gioan đã không ngần ngại gọi Đức Kitô là “ánh sáng cho nhân loại, ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối không diệt được ánh sáng…là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1, 3-9), hay cụ thể như cuộc chữa lành của Đức Kitô dành cho anh chàng mù Bar-ti-mê mà Tin Mừng Mác-cô tường thuật hôm nay : “Lòng tin của anh đã cứu chữa anh !”. Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi”. (Mc 10, 52).

Đức tin, tiên vàn đó chính là sự chọn lựa đi về hướng của ánh sáng, tiến về quê hương của Thiên Chúa, miền “Đất Hứa” của cuộc tái sinh, là tiến bước trên lộ trình của Đấng là Đường, là Chân lý, là ánh sáng…Rẽ lối khác với con đường nầy, thụt lùi lại với “củ hành củ tỏi Ai Cập” là dấn bước vào kiếp sống nô lệ tội lỗi, là ở lại trong bóng tối của đui mù lầm lạc.

Nếu có lần nào trong cuộc sống, vì yếu đuối và lầm lạc tôi đã chọn đi trên nẽo đường của bóng tối tội lỗi, của nô lệ đam mê và dục vọng, của ích kỷ hận thù, nhỏ nhen và ghen ghét…thì hôm nay tôi phải quay đầu trở lại, chọn đi trên nẽo đường của ánh sáng, của Tin Mừng, của yêu thương và phục vụ, của bao dung và tha thứ, của khiêm nhu và quảng đại…

2. Để chọn lựa ánh sáng phải “vứt bỏ áo choàng mạnh mẽ đứng lên…”

Ánh sáng có rực sáng bao nhiêu, ban ngày có rạng thế nào, thì đối với người mang đôi mắt mù, tất cả cũng chỉ là bóng tối. Cũng vậy, Thiên Chúa có toàn năng làm sao, có nhân hậu thế nào, và ơn cứu độ của Ngài có quí giá cần thiết mấy chăng nữa, mà con người không có được “đôi mắt sáng đức tin” thì mãi mãi cũng tự giam hảm cuộc sống trong đui mù lầm lạc. Chính vì thế, điều quan trọng đầu tiên để có được ánh sáng, để nhìn thấy ánh sáng đó chính là biết khát khao cầu nguyện như anh chàng mù Bar-ti-mê ngày nào :“Lạy Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được”. Quả thật, tất cả chúng ta đều cần được chữa lành để có “đôi mắt nhìn thấy được”, tức là đôi mắt của lòng tin, cậy mến, là đôi mắt của lòng khiêm hạ, sám hối ăn năn, là đôi mắt của trái tim yêu thương quảng đại. Để có được “đôi mắt sáng thiêng liêng” nầy, ngoài hồng ân nhưng không đến từ Thiên Chúa, chúng ta còn phải gắng sức thanh lọc cái nhìn, gột rửa phán đoán, tẩy trừ thiên kiến, để ánh nhìn về Thiên Chúa và nhìn đến anh em càng ngày càng rõ nét hơn, trong sáng hơn, chính xác hơn. Cũng chính vì mang nặng những chiếc “mặt nạ cồng kềnh”, những “đôi kính đen” của giả hình, kiêu căng, hợm hĩnh, đầy đố kỵ ghen ghét hận thù, mà với với bao nhiêu dấu lạ cả thể, như với dấu lạ “người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt” trong chuyện kể của Tin mừng Gioan (Ga 9 28-34), những ông biệt phái vẫn không nhận ra “Đấng Thiên Sai Cứu Thế nơi con người Giêsu Na-da-rét” để cuối cùng hè nhau đóng đinh Ngài vào thập giá : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi”. Trong khi đó, người mù vừa được chữa lành, bằng một đức tin đơn sơ khiêm hạ, lần đầu tiên diện kiến đã “quỳ xuống thân thưa : “Lạy Ngài Con Tin”. (Ga 9,38).

Sống và thể hiện niềm tin, phải chăng đó là biết không ngừng vứt bỏ “chiếc mặt nạ cồng kềnh”, “đôi kính đen tăm tối”, “tấm áo choàng hôi hám cũ mòn” của cái tôi tội lối, biếng lười, gian dối, ích kỷ, ghen ghét, tham lam…và bao nhiêu tính hư tật xấu khác, để mang lấy “đôi mắt mới của Thiên Chúa”, chiếc áo mới của Đức Kitô là niềm tin sống động, đức cậy vững bền, đức ái cụ thể, với cõi lòng sám hối khiêm hạ, với nhiệt tình phục vụ yêu thương, với quyết tâm hy sinh từ bỏ…Hình ảnh anh chàng mù Bar-ti-mê “vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà lao đến gần Đức Giêsu” đã minh họa rõ nét thái độ đức tin nầy.

Vâng, phải mạnh mẽ đứng lên, phải nhanh chân lao về phía trước, phải biết mở lòng ra, phải biết quỳ xuống, phải gặp gỡ Thiên Chúa, phải đối diện với Đức Kitô, phải để Ngài chạm đến. Đó chính là tiếng kèn giục giã của bao mùa phụng vụ, bao ngày Chúa Nhật, của bao “dịp thuận tiện và ngày cứu độ” đã đi ngang qua cuộc đời của mỗi người chúng ta. Mà Thiên Chúa nào ở đâu xa lạ : Ngài có đây trong bí tích Thánh Thể, Ngài có đây, trong cuộc họp mặt cầu kinh của gia đình, Ngài có đây nơi Tòa Giải tội, Ngài có đây, nơi tràng hạt Mân Côi, Ngài có đây nơi những người ăn xin ta gặp hằng ngày, Ngài có đây trong những nghĩa cử hy sinh và chung thủy của vợ chồng, trong vâng lời hiếu thảo của con cái, trong tha thứ khoan dung của bạn bè…Ngài có đây trong những phục vụ âm thầm nhưng chan chứa yêu thương khiêm hạ, những quyết tâm đầy can đảm nói “không” trước những cám dỗ của ươn lười xác thịt… Tóm lại, cuộc sống đức tin, cuộc hành trình tiến về vĩnh cửu chỉ thực sự có giá trị, chỉ thực sự đứng hướng và chắc chắn đạt tới cùng đích, khi chúng ta biết tiến bước trên lộ trình của Thiên Chúa, theo vết chân của chính Đấng Là Đường, là chân lý, là Ánh sáng cho trần gian, biết mở mắt quan chiêm các kỳ công của tình yêu Thiên Chúa phản ảnh qua muôn vạn biến cố đời thường để dâng lên lời ca khen chúc tụng. Lời kể của một bà mẹ sau đây muốn chứng minh diều đó :

Tôi có một đứa con mù từ lúc mới sinh. Khi cháu được 20 tháng, lần đầu tiên tôi đưa cháu đến một siêu thị. Cứ vài bước, nó lại dừng lại để lắng nghe những tiếng động chung quanh: tiếng chân của những người đi bộ, tiếng xe chạy, tiếng chim đang hót, tiếng gió mát từ xa thổi đến…

Trên đường về, tôi nhận thấy con tôi vui vẻ rộn rã hơn bao giờ hết. Nụ cười của nó nói với tôi rằng buổi sáng hôm đó là buổi sáng đẹp nhất đối với nó vì nó đã khám phá được những điều mới mẻ kỳ diệu.

Riêng tôi, tôi tự hỏi: con tôi và tôi, ai thực sự là kẻ mù loà ? (Chờ đợi Chúa)

Mà cho đến hôm nay, nếu đúng tôi là một kẻ mù lòa, thì cũng không có gì để thất vọng, không lúc nào bị chối từ vì đến trễ, bởi vì Đức Kitô, “Vị Thượng Tế hằng biết cảm thương những nổi yếu hèn của chúng ta” (BĐ 2) sẽ “trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,7-10), là Đấng luôn đưa mắt, hướng tai về phía của những người bất hạnh như anh chàng mù ăn xin bên vệ đường Bar-ti-mê để dõng dạc công bố một Tin Mừng : “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh !”. Chúng ta cũng sẽ nhận được tin vui như thế trên từng cây số cuộc đời khi chúng ta biết “vứt áo choàng, đứng lên và lao thẳng về phía của Ngài với niềm tin yêu trông cậy”.

GiuseTrương Đình Hiền