CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN B

XIN MỞ RỘNG MẮT CON

(Mc 10, 46-52)

Thưa quý vị.

Hoạ hiếm lắm chúng ta mới được nghe giọng điệu lạc quan từ môi miệng tiên tri Giêrêmia, người mà các lãnh đạo Dothái thời ông gán cho biệt danh “Kinh hoàng tứ phía”: “Đức Chúa phán thế này: reo vui lên mừng Giacóp, hãy hoan hô dân đứng đầu các dân. Nào loan tin, ca ngợi và công bố: Đức Chúa đã cứu thoát dân Người, số còn sót lại của Israel.” Có vài bổn phận quan trọng trong lời sấm hôm nay, nhưng không nặng nề lắm. Bài đọc không nói đến phải thực hành nghi lễ tôn giáo, phải dâng lễ vật hy sinh, phải xây dựng đền thờ nguy nga để làm đẹp lòng Thiên Chúa hà khắc. Trái lại đòi hỏi của vị tiên tri là đầy niềm hoan hỷ reo vui: nhảy mừng lên và ngợi khen Đức Chúa. Tất cả chỉ có vậy. Lý do tại sao?

Vì tiên tri viết cho những người từ cuộc lưu đày Babilon trở về. Họ là nhóm nhỏ còn sót lại của dân tộc, luôn trung thành với Đức Chúa. Họ quá yếu đuối không thể tự giải thoát, quá nghèo nàn và dễ bị tổn thương, thiếu thốn đến độ không có phương tiện trở về từ phương Bắc. Họ hoàn toàn phải nhờ vào quyền năng Đức Chúa: “Này ta sẽ đưa chúng từ đất bắc trở về, qui tụ chúng tự tận cùng trái đất.” Họ là những kẻ trở về để xây dựng đất nước? Xin nghe Giêrêmia liệt kê: “trong chúng có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ.” Bàn tay xây dựng lại Israel là những đui mù, chứ không phải các thanh niên cường tráng! Làm thế nào họ có được khả năng xây dựng lại quốc gia? Thanh niên, người khoẻ mạnh đã bị đế quốc tiêu diệt hết trong các lao động khổ sai. Cho nên họ phải cáng đáng công việc xây dựng lại tổ quốc. Việc này hoàn toàn thuộc quyền năng Thiên Chúa: “nếu như Chúa chẳng xây dựng cửa nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công. Thành kia mà Chúa không gìn giữ, năm canh trường thức đủ năm canh.” Liệu chúng ta có học được bài học? Hay vẫn nghênh ngang kiêu căng cậy vào tài năng sức lực mình? xin tự xét và trả lời câu hỏi!

Luôn nhớ đây là sự thật Kinh Thánh, chứ không phải chuyện bịa đặt để hù doạ kẻ non gan. Kiến trúc sư và bàn tay chính xây dựng lại Giêrusalem là Thiên Chúa. Người tác thành Hội Thánh chính yếu là Chúa Giêsu chứ không phải ông A bà B. Công tác biến đổi thế gian này “thành trời mới đất mới” là việc của Thiên Chúa chứ không phải do nỗ lực loài người. Thiên Chúa không đặt nền tảng trên các đổ nát cũ, mà hoàn toàn tác tạo mới. Từ không Ngài xây nên một quốc gia theo thánh ý mình. Chúng ta phải cộng tác với Ngài theo trương trình của Thiên Chúa. Tác giả Dianne Bergant nhận xét: “ Phụ nữ mang thai và các bà mẹ tuy yếu ớt, dễ bị tổn thương nhưng cũng là biểu tượng của phong phú và hy vọng. Họ nắm giữ tương lai trong bản thân mình. Khi họ rời bỏ chốn lưu đày về đất hứa, họ mang theo khả năng sinh sản và khởi sự một tương lai mới.” Vậy chúng ta không loại bỏ công sức loài người trong việc khôi phục quốc gia. Lại môt bài học nữa cho những kẻ còn sót lại. Chúng ta phải nỗ lực hết mình cộng tác với Thiên Chúa trong việc vực lại nhân loại về luân lý đạo đức, công bình và bác ái, thánh thiện siêu nhiên. Mặc cho thế giới này sa đoạ đến đâu, mặc cho gièm pha độc ác của kẻ giả hình.

Tuy nhiên xin có một nhắc nhớ nhỏ: Israel lạc quan cử hành ngày trở về hạnh phúc. Nhưng đây chỉ là lời tiên báo chứ chưa trở thành hiện thực. Lúc này đất nước đang bị bại trận, tuyển dân đang tan nát và lưu đày. Lời tuyên sấm của Giêrêmia là về tương lai. Ông nói lên sự thật của Đức Chúa cho đất nước. Còn hiện thời ông đang than vãn và sầu khổ về tính ương ngạnh của các cấp lãnh đạo và tình hình đen tối. Thiên Chúa chưa giải phóng dân tộc đâu, còn tới 70 năm trường nữa lời hứa mới được thực hiện. Tuy nhiên Ngài không quên dân riêng mình mà sẽ đưa họ về đất hứa. Tất cả những sự kiện đó Ngài là tác nhân chính. Ngài sẽ dùng “các tay thợ” xây dựng đặc biệt: phụ nữ mang thai, người mẹ nuôi con, kẻ què người mù, kẻ nghèo khó để hoành thành kế hoạch tái thiết. Tin tưởng vào sự trung tín của LỜI CHÚA, nên vị tiên tri báo trứơc tương lai, ngõ hầu tuyển dân không tuyệt vọng. Trái lại cậy trông vào Đức Chúa. Thánh Phao lô gọi hy vọng này là đánh cược với hão huyền. Xin noi gương lòng trông cậy của tổ tiên ta trong đức tin.

So sánh với bài đọc một, người ta nhận ra ý nghĩa thâm trầm mà thánh Marcô muốn gửi tới các tín hữu trong câu truyện anh mù thành Giêricô, tên là Bartimê. Thánh nhân nói rõ tên của người mù kẻo chúng ta đẩy chuyện của mình cho người khác. Mọi người chúng ta đều có tên. Và Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa của Ngài trong Đức Giêsu Kitô. Bác thợ thành Nazareth thu thập một đám đông nghèo khổ nhất với các môn đệ đủ màu sắc lập thành nhóm thợ xây dựng quốc gia mới mà ông gọi là “nước trời”. Họ kéo nhau lên Giêrusalem. Như vậy qua Chúa Giêsu chúng ta được chứng kiến tận mắt Thiên Chúa đang thực hiện điều tiên tri Giêrêmia đã loan báo: “này ta sẽ đưa chúng từ đất bắc trở về, qui tụ chúng lại từ tận cùng trái đất, trong chúng có kẻ đui người mù, kẻ què, kẻ mang thai, người ở cữ: tất cả cùng nhau trở về. Cả một đại hội đông đảo.” Dọc đường Bartimê được chữa lành khỏi tật mù loà. Chúng ta cũng được chữa lành như anh qua bí tích rửa tội. Các môn đệ cũng được ban ơn ấy và trông xem rõ Thiên Chúa đang hành động nơi Chúa Giêsu. Bệnh mù loà của chúng ta hiện nay là tự ý. Bởi vì câu truyện trên đường đi là Chúa cố gắng chữa các môn đệ khỏi tối tăm. Bartimê đúng là biểu tượng cho quyền năng của Chúa Giêsu đối với các môn đệ. Nhưng các ông không nắm bắt được ý nghĩa, trong khi Bartimê ngộ ra: “Lạy ông Giêsu con vua Đavit xin thương xót tôi.” Người ta chỉ mô tả cho anh, Chúa Giêsu chẳng qua là một kẻ rao giảng lang thang, người thành Nazareth. Nazareth nào có cái chi hay? Các môn đệ nghĩ như vậy. Dân chúng cũng có thái độ tương tự: khinh thường Nazareth. Họ chẳng bao giờ mong đợi điều chi vĩ đại từ thôn xóm nghèo nàn tối tăm ấy. Họ gọi Chúa Giêsu người Nazareth là có ý như vậy. Nhưng Bartimê lại tinh mắt hơn, gọi ông rao giảng lang thang là Giêsu con vua Đavít. Một tước vị cao trọng. Rõ thật kẻ sáng trở nên mù và người mù lại sáng mắt. Bartimê tinh tường hơn những thân cận của Chúa Giêsu. Ông có những phẩm chất mà Chúa Giêsu hằng mong đợi nơi các môn đệ ngài! Phúc Âm kể: “Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Chúa Giêsu.” Liệu các môn đệ có làm đươc như thế không? Vất bỏ mọi sự mà theo Chúa? Chiếc áo choàng thời ấy là cả một gia tài, nhất là đối với một hành khất: ngày làm chiếu, tối làm chăn! Tiếng nói run run của anh Bartimê phải là của chúng ta: “Thưa thày, xin cho con được thấy”. Chúa Giêsu cho anh đi và anh đã chọn con đường theo Chúa: “Tức khắc anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.” Xin trích nguyên văn kẻo thiên hạ cho là bịa đặt. Câu văn kế tiếp kể về việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, cuộc hành trình chấm dứt. Các môn đệ được Chúa đào tạo, nhưng vẫn lưỡng lự đi theo con đường của Chúa, ngược với anh mù Bartimê. Anh ta được Chúa chữa lành ban cho ánh sáng, và đã sẵn lòng vào thành với Ngài. Ôi bài học đắt giá cho mỗi người chúng ta. Tự xưng mình theo Chúa nhưng ăn ở như kẻ phản bội, tham lam tiền bạc, danh vọng, từ chối hy sinh, hãm mình.

Các tuần lễ vừa qua, chúng ta đã theo dõi Chúa Giêsu lên Giêrusalem, chứng kiến Ngài làm phép lạ, dạy dỗ các môn đệ về phẩm chất tông đồ. Chúng ta cùng đi với Ngài và Giêrusalem đang hiện ra trước mắt. Con đường sẽ tận cùng ở đó. Chúa chịu chết hoàn toàn thất bại trước mắt người đời, rồi sống lại hiển vinh, toàn thắng tội lỗi và tử thần. Chúng ta đánh giá thấp các yếu đuối và hèn nhát của các tông đồ, mong ước họ có được đôi mắt tinh tường hơn để nhìn ngắm Chúa Giêsu. Nhưng liệu chúng ta hơn họ? Nếu không hơn thì xin suy gẫm kỹ phép lạ hôm nay. Ngay trước khi vào thành thánh, Chúa chữa người thanh niên mù loà con ông Timê, xin Chúa cũng chữa lành chúng ta khỏi bệnh mù trầm kha thiêng liêng. Mở mắt chúng ta nhìn cho rõ cuộc hành trình của Chúa lên Giêrusalem mà sống xứng đáng phẩm chất là môn đệ Chúa trong mỗi bước quanh của cuộc đời. Chúng ta vật lộn với những cám dỗ yếu đuối, ngước mắt nhìn gương Chúa, can đảm từ bỏ thói quen, nếp sống nhung lụa mà đi theo con đường thánh giá Chúa kêu gọi. Luôn luôn ý thức đường mình đi là lối Chúa đã đi. Và cũng nhận ra nếu chúng ta theo ý mình, tìm kiếm lợi lộc, tiền tài, chức quyền danh vọng thì chúng ta đang chọn sự tối tăm sẽ đưa mình tới phản bội và diệt vong. Than ôi, chúng ta còn tối tăm biết bao mà cứ tự phụ sáng suốt. Xin Chúa Giêsu ban cho chúng ta nhiều ánh sáng hơn nữa, ngõ hầu chúng ta nhìn tỏ hơn cuộc sống hàng ngày của mình. Thí dụ trong các cuộc bầu cử, chúng ta ưa chọn những chính trị gia bênh vực cho lợi ích cá nhân, bè đảng, phe nhóm mà quên đi quyền lợi quốc gia, quốc tế. Chúng ta nên chọn những tấm lòng phục vụ người nghèo, kẻ bơ vơ thất nghiệp, những người tứ thế cô thân, trẻ mồ côi, đàn bà goá bụa… những người chủ trương công lý hoà bình quốc gia thế giới, những lãnh đạo thăng tiến xã hội, bài trừ tệ đoan thói xấu, những người bênh vực công nhân lương thấp, nhập cư bất hợp pháp vì nghèo đói thiếu ăn. Sáng suốt là như vậy chứ không phải mánh khoé để được giàu có ăn ngon mặc đẹp, đi xe hơi …

Tóm lại câu truyện Phúc Âm hôm nay không phải của một gã ăn mày mù loà bên vệ đường Giêricô được Chúa chữa lành cho sáng mắt. Mà là câu truyện của mỗi chúng ta trên mọi nẻo đường đời tiến về ngày thẩm phán. Chúng ta cần được Chúa Giêsu ban cho đôi mắt tinh tường để làm những chọn lựa phản ánh đúng tinh thần Chúa Giêsu. Ngõ hầu Thiên Chúa sẽ giải thoát mình khỏi các vong thân, tiến về quê trời, đúng như tiên tri Giêrêmia loan báo trước cho tuyển dân Do Thái khi xưa. Qua Chúa Giêsu, đôi mắt của chúng ta sẽ được mở rộng để nhìn thấy con đường Chúa đã đi và như Bartimê: tức khắc đứng dậy và đi theo Người trên con đường Người đi. Amen.