CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN (B)

Gia đình : trang Tin Mừng được viêt cho thời đại



Dẫn nhập đầu lễ :

Kính thưa cộng đoàn,

Cho dù không phải là một thánh lễ có ban bí tích Hôn Phối, sứ điệp Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay lại tập chú vào chủ đề hôn nhân-gia đình, một nội dung giáo lý đặc biệt liên quan đến phần đông kitô hữu. Bởi vì thành phần đông đảo nhất trong cộng đoàn Dân Chúa vẫn là những người chọn bậc sống hôn nhân gia đình.

Đứng trước những cám dỗ và áp lực nặng nề đe dọa nền tảng của gia đình và sự thánh thiện bền vững của bí tích hôn nhân, đứng trước những nguy cơ rạn nứt và đỗ vỡ của nhiều gia đình kitô hữu, nhất là các gia đình kitô hữu trẻ, chúng ta hãy xin Chúa ban xuống muôn ơn trên các gia đình, và xin Thánh Thần tình yêu hướng dẫn các đôi bạn trẻ tiến tới việc xây dựng gia đình trong ý thức và niềm tin yêu.

Giờ đây, chúng ta hãy thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.

Giảng Lời Chúa :

Ở đây, trong ngôi Thánh đường nầy, chúng ta đã có rất nhiều dịp để chia sẻ cho nhau về tình yêu đôi lứa, về bí tích Hôn Phối, về đời sống hiôn nhân-gia đình. Và dĩ nhiên nội dung của các đề tài trên đều là tốt đẹp thánh thiêng : tình yêu là thánh thiện, cao quí vì bắt nguồn từ Thiên Chúa và phản ảnh chính tình yêu Thiên Chúa. Bí tích Hôn nhân là cao trọng và cần thiết vì do chính Chúa Kitô thiết lập để ban ơn cho đôi vợ chồng. Gia đình là thánh thiêng vì là tế bào nền tảng của xã hội và Giáo Hội…Vâng, làm sao ở giữa cái không gian nầy, cái bầu khí nầy mà chúng ta lại nói khác được, cho dù trong hiện thực đời thường, hình như không phải tất cả trăm phần trăm đều đúng y như thế.

Nói cách khác : cho dù tình yêu là bắt nguồn từ Thiên Chúa và Hôn Nhân là ý định của Đấng Tối Cao thì vẫn có những tình yêu đã sớm phai màu và những đôi uyên ương đã rẽ cánh chia tay khi thời gian chung bước chỉ được mấy Mùa Xuân hay thậm chí, chỉ mới vài con trăng le lói. Và cho dù Bí tích Hôn Phối là phương thế tối hảo để Chúa Kitô chúc lành và thánh hóa lứa đôi, thì cũng không ít những lứa đôi với cử hành Hôn Phối linh đình trọng thể, với soirê lướt thướt đắt tiền, với camêra quay không thiếu một chi tiết nhỏ, với phù rễ phù dâu hàng tá cùng với những bài thánh ca hay nhất được chọn để ca khen…thì chỉ sau khi cử hành Bí tích một khoảng thời gian ngắn chàng và nàng đã vội đưa nhau ra tòa án dân sự để anh đi đường anh tôi đi đường tôi.

Nói như thế không phải để chúng ta nghi ngờ chân lý : tình yêu vốn bắt nguồn từ Thiên Chúa và xem thường hiệu quả đích thực của Bí tích Hôn Phối, nhưng để chúng ta tỉnh táo nhận diện đâu là tình yêu đích thực phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa, và đâu là những phương thế tối hảo để bảo vệ và thăng tiến đời sống hôn nhân-gia đình

1. Tình Yêu Hôn Nhân bắt nguồn từ Thiên Chúa

Dựa vào ánh sáng và uy tín của Lời Chúa vừa được công bố, chúng ta có thể phác thảo một vài nét chính yếu cho thấy một tình yêu đôi lứa bắt nguồn từ Thiên Chúa, chứ không là kết quả của một cảm xúc bốc đồng hay một giao ước bất đắc dĩ để thỏa mãn những âm mưu và vụ lợi.

v Một tình yêu đôi lứa bắt nguồn từ Thiên Chúa khi cả hai đều nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa trong nhân vị của mỗi người vì như lời sách Sáng thế dạy :

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ…” (St 1,27-28)

Khi người nam nhìn người nữ chỉ là một “món hàng để sở hữu”, một “dụng cụ để thỏa mãn”, một “tôi tớ để phục vụ”, một “công cụ để sinh lợi và sinh con”…thì làm sao cho đó là tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Cũng vậy, khi người vợ xem người chồng chỉ là một vật để gây giống, một thứ công nhân không trả lương, một tên ăn hại, một gã khờ…thì thử hỏi trong tình yêu kiểu đó có chút nào là tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa ! Và dĩ nhiên, thứ tình yêu như thế, vợ chồng xem nhau như thế, nếu còn ở với nhau ngày nào sẽ chỉ là thời gian của địa ngục và điểm đến chắc chắn đó chính là xa nhau.

- Một tình yêu hôn nhân bắt nguồn từ Thiên Chúa khi người chồng và người vợ khắng khít và nên một trong tâm trí, trong dự phóng, trong những nhõ nhặt của đời thường hay trong những sự kiện và biến cố quan trọng trên từng cây số cuộc sống, như lời dạy của sách Sáng Thế :

“Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói : “Phen nầy, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà; vì đã rút từ đàn ông ra”. Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,22-24)

Làm sao gọi được một tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa khi chồng nói một đàng vợ hiểu một nẽo, chồng theo ý chồng vợ theo ý vợ. Không bao giờ biết gọi nhau bằng một tiếng “Mình” trong khi đó mỗi người thi đua ăn riêng, tiêu riêng, chơi riêng, làm riêng. Một tình yêu không phấn đấu để trở nên mỗi ngày hiệp nhất hơn, ý hợp tâm đầu hơn, liên kết hơn, mà chỉ thấy nơi mỗi người toàn những khác biệt, những tính hư tật xấu, những trói buộc làm mất tự do, những keo kiệt và bũn xĩn mang đầy ích kỷ hẹp hòi…Một tình yêu như thế làm sao bền vững được, keo sơn được, vì tự bản chất, đã không có chút nào giống với tình yêu của Thiên Chúa, một Thiên Chúa Ba Ngôi, sắt son, hiệp nhất, bất khả phân lý và hoàn toàn nên một.

- Một tình yêu hôn nhân bắt nguồn từ Thiên Chúa khi vợ chồng biết hy sinh cho nhau, biết trao ban và nhận lãnh như chính Thiên Chúa đã làm gương và đã dạy :

“Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nổi đã ban Con Một” (Ga 3,16), “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,12-13)

Làm sao gọi được là một tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa và phản ảnh chính tình yêu của Ngài khi người chồng coi vợ chẳng khác nào đứa ở, lúc nào cũng mắng nhiếc, nhục mạ, đánh đập và bắt vợ phải cung phụng trà nước cháo cơm, thức khuya dậy sớm trong khi cứ phây phây nhậu nhẹt say xỉn với bạn bè thâu đêm suốt sáng, hết quán bia ôm nầy tới quán karaôkê khác; hay vợ lúc nào cũng biếng lười xảnh xẹ, đua đòi hết kiểu áo nầy đến kiểu dép kia, hết tứ sắc lại bài cào, bắt chồng lao tâm khổ tứ nắng dãi mừa dầm mà không hề chìa tay đỡ cho nhau một chút, vác cho nhau một khúc…Tình yêu như thế thì làm sao ăn đời ở kiếp với nhau, cho dù có “mười bí tích Hôn Phối’ cũng phải chào thua !

2. Cầu nguyện : phương thế để bảo vệ đời sống Hôn nhân-gia đình:

Để minh họa cho nội dung nầy, có một giai thoại nhỏ xin được chia sẻ :

Một thanh niên Scốt-len tìm được một chân làm vườn trong một gia đình giàu có. Nhưng chỉ hai tuần sau, anh xin thôi việc. Một người bạn hỏi :

- Có phải công việc quá cực nhọc không?

- Không, công việc rất nhàn.

- Có phải lương qúa ít không?

- Không, lương khá lắm.

- Hay anh không thích đồ ăn ở đó?

- Cũng không phải. Đồ ăn rất ngon.

- Vậy tại sao anh thôi việc?

- Vì nhà đó không có mái che.

Đối với người Scốt-len, thành ngữ “nhà không có mái che” nghĩa là gia đình không biết cầu nguyện.(Tonne).

Quả thật, một gia đình không có thói quen thực hành việc cầu nguyện chung hay đã đánh mất sinh hoạt thiêng thánh nầy, chắc chắn sẽ đối diện với những trận phong ba bảo táp của sự dữ, những tác dụng tiêu cực xảy ra hằng ngày mà không có một phương tiện nào để che chắn bảo vệ. Trước những đe dọa và áp lực thường xuyên của nền văn minh sự chết thông qua các tệ nạn như : ly dị, phá thai, cái chết êm dịu, kiểm soát sinh sản toàn diện, kết hôn đồng phái…gia đình kitô hữu phải là một ‘trung tâm cầu nguyện”, phải là một “cung thánh” như chính lời nhắn nhủ của Đức Cố Giáo hoàng G.P II trong huấn từ ngày 25.01.2003 :

“Nếu các con ước mong trở thành “Tin Mừng cho thiên niên kỷ thứ ba”, thì đừng quên rằng cầu nguyện trong gia đình là con đường vững chắc để luôn hiệp nhất trong một lối sống hòa hợp với thánh ý Thiên Chúa…”

Nói theo ngôn ngữ của cuộc đại hội quốc tế gia đình lần thứ IV tại Manila tháng 01.2003, thì tại mỗi gia đình cần có 3 cái “bàn thờ” : Bàn thờ thứ nhất thiết đặt ở trung tâm, là nơi toàn thể gia đình sớm hôm họp nhau cử hành cầu nguyện. Không có bàn thờ nầy gia đình sẽ không còn là một cung thánh, sẽ không phát triển và thăng hoa sự hiệp thông giữa các thành viên, sẽ nghèo nàn đời sống tin cậy mến, sẽ nhạt mờ tình yêu đối với Chúa Kitô và Hội Thánh, sẽ mù mờ và dốt nát các chân lý đức tin. Nói cách khác, sẽ đẫy Chúa đi xa vì không còn có cơ hội cho Chúa đến viếng thăm và hiện diện như Ngài đã từng nhắc khéo : “Ở đâu có hai ba người họp lại vì Danh ta, sẽ có ta hiện diện”.

Bàn thờ thứ hai là “mâm cơm”. Bữa cơm gia đình với sự hiện diện của các thành viên sẽ là nơi để tất cả dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, là nơi để chia sẻ và hàn hyên tâm sự, là nơi để đón nhận và trao ban những kinh nghiệm, những lời huấn đức hay những học hỏi cần thiết về đức tin va cuộc sống…

Bàn thờ thứ ba là “cái giường ngủ”. Chính nơi bàn thờ đặc biệt nầy mà tình yêu và lòng chung thủy vợ chồng được biểu lộ, sự trinh khiết trong đời sống hôn nhân được thể hiện cụ thể, mối giây kết hiệp nhiệm mầu “nên một” của hai nhân vị được hiện thực hóa. Cũng chính nơi đây, con cái lãnh lấy phép lành của Cha mẹ trước khi an giấc và đôi vợ chồng sẽ sống lại cái phút giây nhiệm mầu và hạnh phúc luôn mới mẻ và tinh khôi của bí tích Hôn Nhân. Phải lấy lại sự thánh thiện của không gian nầy và phải biến nơi đây thành cung thánh, thành bàn thờ, thành nơi hiện diện và chúc lành của Thiên Chúa tình yêu.

3. Gia đình là “trung tâm truyền giáo” :

Cécil Northcott trong quyển "Chúa hiển hiện đời nay" thuật lại một cuộc thảo luận trong trại hè dành cho thanh thiếu niên đại diện nhiều quốc gia trên thế giới : "Một đêm mưa khi các trại sinh thảo luận về nhiều phương cách khác nhau làm sao nói cho người khác biết về Chúa Giê-su. Họ hỏi một nữ trại sinh Phi châu : "Ma-ri-a, ở nước cô thì cô làm thế nào ?" Ma-ri-a trả lời : "Chúng tôi không có hội truyền giáo, cũng không phát truyền đơn về đạo. Chúng tôi chỉ sai một hoặc hai gia đình tín hữu đến sống, làm việc trong làng. Khi dân làng thấy cuộc sống Ki-tô như thế nào, họ đều muốn thành ki-tô hữu."

Câu trả lời của cô Maria người Phi Châu trên đã nói lên tất cả cái sứ mệnh cao quí của các gia đình kitô hữu : sứ mệnh chứng nhân giữa dòng đời, sứ mệnh truyền giáo. Quả thật, như Đức Thánh Cha Phaolô VI phát biểu : “Ngày nay người ta tin các chứng nhân hơn các thầy dạy. Sở dĩ họ tin các thầy dạy vì các thầy dạy chính là các chứng nhân”. Chính vì thế, công cuộc phúc âm hóa thế giới hôm nay, công cuộc loan Tin Mừng và giới thiệu Đức Kitô cho nhân loại được trao gởi cho các gia đình như một sứ mệnh cốt yếu và một phương thế tối hảo. Vì thế, gia đình chính là “trang Tin mừng được viết cho thời đại” như cách nói của Đức G.P.II

Để xác tin về những điều chúng ta vừa chia sẻ, và cũng để kết thúc bài chia sẻ hôm nay, chúng ta hãy cùng lắng nghe những lời nhắn nhủ của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, trong cuộc gặp gỡ các gia đình ngày 25.01.2003 :

“Các gia đình Kitô hữu thân mến, hãy hân hoan công bố cho thế giới kho tàng kỳ diệu mà các con sở hữu trong tư cách là Hội Thánh tại gia ! Hỡi các gia đình Kitô hữu, trong Đức Kitô, hãy trở nên ánh sáng của thế giới, nhờ sự hiệp thông trong sự sống và tình yêu, nhờ hiến thân cho nhau và quảng đại đón nhận con cái. Trên hết mọi sự, các con hãy là “Tin Mừng” cho thiên nien kỷ thứ ba bằng cách trung thành ở lại trong ơn gọi của mình. Các cặp vợ chồng Kitô hữu thân mến, hãy là “Tin Mừng cho thiên niên kỷ thứ ba” bằng một cuộc sống làm chứng có sức thuyết phục và dai bền cho sự thật về gia đình. Nếu các con ước mong trở thành “Tin Mừng cho thiên niên kỷ thứ ba”, thì đừng quên rằng cầu nguyện trong gia đình là con đường vững chắc để luôn hiệp nhất trong một lối sống hòa hợp với thánh ý Thiên Chúa. Và cuối cùng : nhờ cơn Thiên Chúa giúp, các con hãy đặt Tin Mừng làm nguyên lý hướng dẫn gia đình mình, và hãy làm cho gia đình các con trở thành một trang Tin Mừng được viết ra cho thời đại chúng ta !”