Tái Khám Phá Nghệ thuật sửa chữa trong Hôn Nhân
"Cả hai sẽ thành một Xương một Thịt" St 2: 18-24; Dt 2:9-11; Mark 19:2-16
ROMA -- Bản dịch bài giảng của cha giảng Phủ Giáo Hoàng, Cha Capuchin Raniero Cantalamessa, về các bài đọc từ phụng vụ của Chúa nhật XVII này.
Chủ đề Chúa Nhật thứ 27 này Múa Thường Niên là hôn nhân. Bài đọc một (St 2:18-24) bắt đầu với những lơi được nhiều người biết đến: “Đức Chúa là Thiên Chúa đã phán, ‘ Con ngườI ở một mình thì không tốt; Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó.”
Trong thời đại chúng ta, cái xấu của hôn nhân là sự phân lý và sự ly dị, đang khi trong thời Chúa Giêsu đó là sự rẫy bỏ (repudiation). Trong một nghĩa nào đó, sự cuối cùng là một sự dữ xấu hơn, bởi vì nó cũng bao hàm một sự bất công đối với người nữ, sự bất công đó, buồn thay, vẫn tồn tại trong một số văn hoá. Trên thực tế, con người có quyền từ bỏ vợ mình, nhưng người vợ không có quyền từ bỏ chồng mình.
Có hai ý kiến đối nghịch trong đạo Do thái, liên quan đến sự từ bỏ. Theo một ý kiến, điều hợp pháp là bỏ vợ mình vì bất cứ lý do gì, như vậy, theo sự quyết định của người chồng. Nhưng theo ý kiến thứ hai, cần có một lý do quan trọng, do luật ấn định.
Ngày kia người ta đặt với Chúa Giêsu câu hỏi này, hy vọng Người sẽ chấp nhận một vị trí thuận cho luận điểm này hay luận điểm kia. Nhưng, họ đã nhận một câu trả lời họ không ngờ: “Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Moisen mới viết điều răn đó cho các ông. Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ, vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.’ Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.”
Luật ông Moisen về sự bỏ vợ được Chúa Giêsu xem như là một xu hướng Thiên Chúa không mong muốn, nhưng dung tha (như sự đa thê và những rối loạn khác), vì sự cứng lòng và sự chưa trưởng thành nhân bản. Chúa Giêsu không công kích ông Moisen vì sự nhượng bộ của ông; Người công nhận rằng trong vấn đề này nhà làm luật nhân bản trên thực tế không thể thiếu sự suy nghĩ tới thực tại.
Dâu sao, Người đã tái-đề nghị cho mọi người lý tưởng nguyên thủy của sự hợp nhất không thể phân lý giữa người nam và người nữ—một xương một thị”—điều đó, ít nhất đối với các môn đệ của Người, phải là một hình thức duy nhất có thể của hôn nhân.
Dầu sao, Chúa Giêsu không tự hạn chế trong việc tái-khẳng định luật, Người đã thêm ân sủng cho luật đó. Điều này có nghĩa là những vợ chồng Kitô hữu không những có nhiệm vụ ở trung tín cho đến chết, họ còn có những sự trợ giúp cần thiết để làm như vậy. Từ sự chết cứu độ của Chúa Kitô đến một sức mạnh—Chúa Thánh Thần—sức mạnh đó thâm nhiễm mọi phương diện sự sống người tín hữu, kể cả hôn nhân. Hôn nhân cũng được nâng lên phảm giá một bí tích và một hình ảnh sống động của sự hợp nhật vợ chồng với Giáo Hội trên thánh giá (Eph. 5:31-32).
Nói rằng hôn nhân là một bí tích không những có nghĩa—như thường tin—là trong hôn nhân sự hợp nhất phái tính được phép, được làm và tốt, sự hợp nhất đó ngoài hôn nhân sẽ là môt rối loạn và là sự tội; còn có nghĩa cao hơn, tức là hôn nhân trở nên môt phương thế kết hợp với Chúa Kitô nhờ tình yêu của người kia, một con đường thật sự của sự thánh hoá.
Quan điểm tích cực này là một quan điểm Đức Benedict XVI may thay đã nói rõ trong thông điệp của ngài “Deus Caritas Est” về tình yêu và đức bác ái. Trong thông điệp đó Đức giáo Hoàng không so sánh sự kết hợp bất khả phân ly trong hôn nhân với một hình thức khác của ái tình; nhưng ngài trình bày nó như là hình thức trưởng thành nhất và tron lành nhất, không những theo quan điểm Kitô hữu mà còn theo quan điểm nhân bản.
“Hôn nhân là phần của sự trưởng thành tình yêu tới những mức độ cao hơn và sự thanh luyện nội tâm mà hiện giờ tình yêu tìm kiếm trở thành quyết định, và nó làm như vậy trong hai nghĩa: trong nghĩa tuyệt dối ( người đặc biệt này mà thôi) và trong nghĩa của sự ‘đời đời.’ Tình yêu ôm đồm toàn diện sự sống trong mỗi chiều kích của nó, kể cả chiều kích thời gian. Khó mà xảy ra cách khác, bởi vì lời hứa của nó nhìn tới mục đích dứt khoát của nó: tình yêu nhìn về sự đời đời” (No 60).
Lý tưởng của sự trung thành vợ chồng không bao giờ dễ (tội ngoài tình là một từ vang dội đáng ngại cả trong Kinh Thánh). Nhưng ngày nay nền văn hóa dễ dãi và theo chủ nghĩa khoái lạc trong đó chúng ta sống, đã biến sự trung thành khó hơn hết sức. Cơn khủng hoảng gây sợ hãi mà thể chế hôn nhân đang trải qua trong xã hội chúng ta thì dẽ thấy cho mọi người.
Những luật dân sự, như tại Tây-ban-nha, cho phép (và gián tiếp, bằng cách này, khuyến khích!) bắt đầu những thủ tục ly dị chỉ một vài tháng sau khi sống chung. Những lời như: “Tôi bịnh về sự sống này,” “Tôi đang đi,” “Nếu là như vậy, mỗi lời tự nó!” được thốt ra giữa vợ chồng ngay sự khó đầu tiên.
Xin phép được nói qua: Tôi tin rằng những vợ chống Kitô hữu có lẽ cáo mính khi xưng tội về sự kiện đơn giản đã nói một trong những lời này, bởi vì chỉ sự kiện nói những lời đó là một sự xúc phạm tính hợp nhất, và làm nên một tiền lệ tâm lý nguy hiểm.
Trong hôn nhân này, người ta bị tâm lý chung “sử dụng hay thải bỏ. ” Nếu một thiết bị hay một dụng cụ có bị hư hao hay bị mẻ, không có nghỉ phải sửa chữa nó—những kẻ đã làm những sự sửa chữa như vậy đã biến mất—chỉ còn ý nghĩ thay đổi nó. Được áp dụng cho hôn nhân, tâm lý này gây chết người.
Có thể làm gì để kiềm chế được khuynh hướng này, là nguyên nhân của nhiều sự dữ cho xã hội và rất nhiều đau buồn cho con cái? Tôi có một gợi ý: Tái khám phá nghệ thuật sửa chữa!
Thay thế tâm lý “sử dụng và thải bỏ” bằng tâm lý “sử dụng và sửa chữa.” Hầu như không ai sửa chữa bây giờ. Nhưng nếu nghệ thuật sửa chữa này không còn áp dụng cho dồ mặc, thì phải được thực hiện trong hôn nhân. Sửa chữa những chỗ rách to, và sửa chữa chúng liền.
Thánh Phao đã cho những lời khuyên rất tốt về phương diện này: “Anh em nổi nóng ư? Đừng phạm tội; chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn, đừng để ma quỉ thừa cơ lợi dụng,” “hãy chịu đựng nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia phải tha thứ cho nhau,” “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau” ( Eph. 4:26-27; Colossians 3:13; Galatians 6:2).
Điều quan trọng là phải hiểu rằng trong quá trình xé rách và sửa chữa này, trong quá trình những khủng hoảng và những ngăn trở được vượt qua này, hôn nhân không bị cạn kiệt, nhưng được tinh lọc và cải thiện. Tôi thấy một sự tương tự giữa quá trình dẫn tới một hôn nhân thành công và quá trình dẫn tới sự nên thánh.
Trên con đường nên trọn lành của các ngài, các thánh thường đi qua cái được gọi là đêm tối các giác quan, trong đó các ngài không còn cảm nghiệm một cảm giác nào, hay một cảm xúc nào.
Các thánh cảm nghiệm sự khô khan, các ngài trống rổng, làm mọi việc chỉ nhờ quyền lực ý muốn và với sự cố gắng. Sau đó, tới :đêm tối của tinh thần,” trong đó không những các cảm giác bị khủng hoảng, mà còn lý trí và ý chí. Có cả sự hồ nghi người ta có đi đúng đàng không; nếu không phải lầm lạc chút nào; sự đen tối hoàn toàn, những cơn cám dỗ vô tận. Các thánh tiến bước chỉ nhờ đức tin.
Có phải mọi sự chấm dứt lúc đó chăng? Ngược lại! Tất cả sự đó là sự thanh luyện. Sau khi các thánh qua những khủng hoảng này, các ngài nhận thức tình yêu Chúa của các ngài sâu xa va vị tha dường nào, sánh với tình yêu lúc đầu.
Đối với nhiều đôi vợ chồng, không khó mà thừa nhận kinh nghiệm riêng của họ, Họ cũng thường đã đi qua đêm tối các giác quan trong hôn nhân của họ, trong đó những giác quan không có sự vui sướng xuất thần, và nếu có, thì đó chỉ là một ký ức về qua khứ. Một số vợ chồng cũng cảm nghiệm đêm tối tinh thần, tình trạng trong đó sự chọn lựa sâu xa nhất đang bị khủng hoảng, và xem ra không còn cái gì chung nữa.
Nếu với thiện chí và sự giúp đỡ của ngưới nào đó mà những khủng hoảng này được vươt qua, người ta thấy sự thúc đẩy và sự nhiệt tình của những ngày đầu đã tới điểm nào nhưng ít sánh được với tình yêu và sự hiệp thông bền vững đã trưởng thành theo năm tháng.
Nếu lúc đầu vợ chồng yêu nhau bằng thích mà hôn nhân cho phép, có lẽ ngày nay họ yêu nhau hơn một chút với một tình yêu dịu dàng, không ích kỷ và biết cảm thông; họ yêu nhau vì những sự họ đã trải qua và chịu khổ với nhau.
"Cả hai sẽ thành một Xương một Thịt" St 2: 18-24; Dt 2:9-11; Mark 19:2-16
ROMA -- Bản dịch bài giảng của cha giảng Phủ Giáo Hoàng, Cha Capuchin Raniero Cantalamessa, về các bài đọc từ phụng vụ của Chúa nhật XVII này.
Chủ đề Chúa Nhật thứ 27 này Múa Thường Niên là hôn nhân. Bài đọc một (St 2:18-24) bắt đầu với những lơi được nhiều người biết đến: “Đức Chúa là Thiên Chúa đã phán, ‘ Con ngườI ở một mình thì không tốt; Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó.”
Trong thời đại chúng ta, cái xấu của hôn nhân là sự phân lý và sự ly dị, đang khi trong thời Chúa Giêsu đó là sự rẫy bỏ (repudiation). Trong một nghĩa nào đó, sự cuối cùng là một sự dữ xấu hơn, bởi vì nó cũng bao hàm một sự bất công đối với người nữ, sự bất công đó, buồn thay, vẫn tồn tại trong một số văn hoá. Trên thực tế, con người có quyền từ bỏ vợ mình, nhưng người vợ không có quyền từ bỏ chồng mình.
Có hai ý kiến đối nghịch trong đạo Do thái, liên quan đến sự từ bỏ. Theo một ý kiến, điều hợp pháp là bỏ vợ mình vì bất cứ lý do gì, như vậy, theo sự quyết định của người chồng. Nhưng theo ý kiến thứ hai, cần có một lý do quan trọng, do luật ấn định.
Ngày kia người ta đặt với Chúa Giêsu câu hỏi này, hy vọng Người sẽ chấp nhận một vị trí thuận cho luận điểm này hay luận điểm kia. Nhưng, họ đã nhận một câu trả lời họ không ngờ: “Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Moisen mới viết điều răn đó cho các ông. Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ, vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.’ Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.”
Luật ông Moisen về sự bỏ vợ được Chúa Giêsu xem như là một xu hướng Thiên Chúa không mong muốn, nhưng dung tha (như sự đa thê và những rối loạn khác), vì sự cứng lòng và sự chưa trưởng thành nhân bản. Chúa Giêsu không công kích ông Moisen vì sự nhượng bộ của ông; Người công nhận rằng trong vấn đề này nhà làm luật nhân bản trên thực tế không thể thiếu sự suy nghĩ tới thực tại.
Dâu sao, Người đã tái-đề nghị cho mọi người lý tưởng nguyên thủy của sự hợp nhất không thể phân lý giữa người nam và người nữ—một xương một thị”—điều đó, ít nhất đối với các môn đệ của Người, phải là một hình thức duy nhất có thể của hôn nhân.
Dầu sao, Chúa Giêsu không tự hạn chế trong việc tái-khẳng định luật, Người đã thêm ân sủng cho luật đó. Điều này có nghĩa là những vợ chồng Kitô hữu không những có nhiệm vụ ở trung tín cho đến chết, họ còn có những sự trợ giúp cần thiết để làm như vậy. Từ sự chết cứu độ của Chúa Kitô đến một sức mạnh—Chúa Thánh Thần—sức mạnh đó thâm nhiễm mọi phương diện sự sống người tín hữu, kể cả hôn nhân. Hôn nhân cũng được nâng lên phảm giá một bí tích và một hình ảnh sống động của sự hợp nhật vợ chồng với Giáo Hội trên thánh giá (Eph. 5:31-32).
Nói rằng hôn nhân là một bí tích không những có nghĩa—như thường tin—là trong hôn nhân sự hợp nhất phái tính được phép, được làm và tốt, sự hợp nhất đó ngoài hôn nhân sẽ là môt rối loạn và là sự tội; còn có nghĩa cao hơn, tức là hôn nhân trở nên môt phương thế kết hợp với Chúa Kitô nhờ tình yêu của người kia, một con đường thật sự của sự thánh hoá.
Quan điểm tích cực này là một quan điểm Đức Benedict XVI may thay đã nói rõ trong thông điệp của ngài “Deus Caritas Est” về tình yêu và đức bác ái. Trong thông điệp đó Đức giáo Hoàng không so sánh sự kết hợp bất khả phân ly trong hôn nhân với một hình thức khác của ái tình; nhưng ngài trình bày nó như là hình thức trưởng thành nhất và tron lành nhất, không những theo quan điểm Kitô hữu mà còn theo quan điểm nhân bản.
“Hôn nhân là phần của sự trưởng thành tình yêu tới những mức độ cao hơn và sự thanh luyện nội tâm mà hiện giờ tình yêu tìm kiếm trở thành quyết định, và nó làm như vậy trong hai nghĩa: trong nghĩa tuyệt dối ( người đặc biệt này mà thôi) và trong nghĩa của sự ‘đời đời.’ Tình yêu ôm đồm toàn diện sự sống trong mỗi chiều kích của nó, kể cả chiều kích thời gian. Khó mà xảy ra cách khác, bởi vì lời hứa của nó nhìn tới mục đích dứt khoát của nó: tình yêu nhìn về sự đời đời” (No 60).
Lý tưởng của sự trung thành vợ chồng không bao giờ dễ (tội ngoài tình là một từ vang dội đáng ngại cả trong Kinh Thánh). Nhưng ngày nay nền văn hóa dễ dãi và theo chủ nghĩa khoái lạc trong đó chúng ta sống, đã biến sự trung thành khó hơn hết sức. Cơn khủng hoảng gây sợ hãi mà thể chế hôn nhân đang trải qua trong xã hội chúng ta thì dẽ thấy cho mọi người.
Những luật dân sự, như tại Tây-ban-nha, cho phép (và gián tiếp, bằng cách này, khuyến khích!) bắt đầu những thủ tục ly dị chỉ một vài tháng sau khi sống chung. Những lời như: “Tôi bịnh về sự sống này,” “Tôi đang đi,” “Nếu là như vậy, mỗi lời tự nó!” được thốt ra giữa vợ chồng ngay sự khó đầu tiên.
Xin phép được nói qua: Tôi tin rằng những vợ chống Kitô hữu có lẽ cáo mính khi xưng tội về sự kiện đơn giản đã nói một trong những lời này, bởi vì chỉ sự kiện nói những lời đó là một sự xúc phạm tính hợp nhất, và làm nên một tiền lệ tâm lý nguy hiểm.
Trong hôn nhân này, người ta bị tâm lý chung “sử dụng hay thải bỏ. ” Nếu một thiết bị hay một dụng cụ có bị hư hao hay bị mẻ, không có nghỉ phải sửa chữa nó—những kẻ đã làm những sự sửa chữa như vậy đã biến mất—chỉ còn ý nghĩ thay đổi nó. Được áp dụng cho hôn nhân, tâm lý này gây chết người.
Có thể làm gì để kiềm chế được khuynh hướng này, là nguyên nhân của nhiều sự dữ cho xã hội và rất nhiều đau buồn cho con cái? Tôi có một gợi ý: Tái khám phá nghệ thuật sửa chữa!
Thay thế tâm lý “sử dụng và thải bỏ” bằng tâm lý “sử dụng và sửa chữa.” Hầu như không ai sửa chữa bây giờ. Nhưng nếu nghệ thuật sửa chữa này không còn áp dụng cho dồ mặc, thì phải được thực hiện trong hôn nhân. Sửa chữa những chỗ rách to, và sửa chữa chúng liền.
Thánh Phao đã cho những lời khuyên rất tốt về phương diện này: “Anh em nổi nóng ư? Đừng phạm tội; chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn, đừng để ma quỉ thừa cơ lợi dụng,” “hãy chịu đựng nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia phải tha thứ cho nhau,” “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau” ( Eph. 4:26-27; Colossians 3:13; Galatians 6:2).
Điều quan trọng là phải hiểu rằng trong quá trình xé rách và sửa chữa này, trong quá trình những khủng hoảng và những ngăn trở được vượt qua này, hôn nhân không bị cạn kiệt, nhưng được tinh lọc và cải thiện. Tôi thấy một sự tương tự giữa quá trình dẫn tới một hôn nhân thành công và quá trình dẫn tới sự nên thánh.
Trên con đường nên trọn lành của các ngài, các thánh thường đi qua cái được gọi là đêm tối các giác quan, trong đó các ngài không còn cảm nghiệm một cảm giác nào, hay một cảm xúc nào.
Các thánh cảm nghiệm sự khô khan, các ngài trống rổng, làm mọi việc chỉ nhờ quyền lực ý muốn và với sự cố gắng. Sau đó, tới :đêm tối của tinh thần,” trong đó không những các cảm giác bị khủng hoảng, mà còn lý trí và ý chí. Có cả sự hồ nghi người ta có đi đúng đàng không; nếu không phải lầm lạc chút nào; sự đen tối hoàn toàn, những cơn cám dỗ vô tận. Các thánh tiến bước chỉ nhờ đức tin.
Có phải mọi sự chấm dứt lúc đó chăng? Ngược lại! Tất cả sự đó là sự thanh luyện. Sau khi các thánh qua những khủng hoảng này, các ngài nhận thức tình yêu Chúa của các ngài sâu xa va vị tha dường nào, sánh với tình yêu lúc đầu.
Đối với nhiều đôi vợ chồng, không khó mà thừa nhận kinh nghiệm riêng của họ, Họ cũng thường đã đi qua đêm tối các giác quan trong hôn nhân của họ, trong đó những giác quan không có sự vui sướng xuất thần, và nếu có, thì đó chỉ là một ký ức về qua khứ. Một số vợ chồng cũng cảm nghiệm đêm tối tinh thần, tình trạng trong đó sự chọn lựa sâu xa nhất đang bị khủng hoảng, và xem ra không còn cái gì chung nữa.
Nếu với thiện chí và sự giúp đỡ của ngưới nào đó mà những khủng hoảng này được vươt qua, người ta thấy sự thúc đẩy và sự nhiệt tình của những ngày đầu đã tới điểm nào nhưng ít sánh được với tình yêu và sự hiệp thông bền vững đã trưởng thành theo năm tháng.
Nếu lúc đầu vợ chồng yêu nhau bằng thích mà hôn nhân cho phép, có lẽ ngày nay họ yêu nhau hơn một chút với một tình yêu dịu dàng, không ích kỷ và biết cảm thông; họ yêu nhau vì những sự họ đã trải qua và chịu khổ với nhau.