Thiên Chúa Đang Chiến Thắng
Tôn Giáo Từ Chối Biến Mất Đi Trong Một Thế Giới Hiện Đại
NEW YORK (Zenit.org).- Chẳng có vẽ gì là mờ nhạt cả dưới bóng râm của sự tân tiến và thịnh vượng, sự hăng hái về tôn giáo, thật sự mà nói, đang ngày càng phát triển lên. Đây chính là kiểu lập luận của một bài báo có nhan đề, “Tại Sao Thiên Chúa Đang Chiến Thắng?” (Why God Is Winning?) được xuất bản trong số ra Tháng 7 và 8 của tạp chí Chính Sách Ngoại Giao (Foreign Policy).
Các tác giả của bài bào gồm Timothy Samuel Shah và Monica Duffy Toft, giải thích rằng một trong những khẳng định mới nhất về lý luận của họ chính là sự chiến thắng của đảng Hamas trong cuộc bầu cử vào Tháng 01/2006 vừa qua tại Palestine.
Sau cuộc bầu cử, một ủng hộ viên của Hamas đã thay lá cờ tung bay trên nghị viện bằng một biểu ngữ tuyên bố về Mohammad. Chẳng bao lâu sau đó rất nhiều cuộc phản đối trong bạo động đã bùng nổ ra tại nhiều quốc gia qua việc xuất bản của các tranh biếm họa về Mohammad, và việc đó đã cung cấp thêm bằng chứng cho thấy được sức mạnh của lòng nhiệt huyết Hồi Giáo.
Shah và Toft cho rằng, đây không phải là một sự cố riêng lẽ hoặc ngẫu nhiên gì cả. Họ nói: “Mọi tiếng nói đòi hỏi uy quyền tối cao đang tràn ngập lấy các quãng trường công cộng và đang chiến thắng được những cuộc thử thách chính trị lớn.”
Kiểu chính trị được phấn khích lên từ tôn giáo đã từng đóng một vai trò rất quan trọng trong những tình huống như: cuộc chiến đấu chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc apartheid tại Nam Phi, và chiến thắng của những người theo chủ nghĩa dân tộc của đạo Hindu tại Ấn Độ vào năm 1998.
Tại Hoa Kỳ, những người Tin Lành đã đóng một vai trò ngày càng quan trọng hơn trong các cuộc bầu cử vào những năm vừa đây. Bài báo nhận xét rằng: “Nền Dân Chủ đang tạo cho các dân tộc trên thế giới có được tiếng nói riêng của họ, và họ muốn nói về Thiên Chúa.”
Sự củng cố của tôn giáo đang xảy ra vào thời điểm mà nền dân chủ và sự tự do đã được lan tràn trên khắp thế giới. Việc cởi mở của các tiến trình chính trị tại những quốc gia như: Ấn Độ, Nigeria, Thổ Nhĩ Kỳ, và Indonêsia trong suốt thập kỷ vừa qua đã dẫn đến một sự ảnh hưởng mạnh mẽ hơn của tôn giáo trong đời sống chính trị.
Một khuynh hướng tương tự cũng đã xảy ra trong đời sống kinh tế. Thậm chí mặc dầu sự nghèo đói vẫn còn là một vấn nạn trầm trọng tại nhiều quốc gia, thế nhưng càng ngày càng có nhiều người được thoải mái hơn về mặt kinh tế. Thế nhưng khi dân số thế giới trở nên giàu có hơn và được giáo dục nhiều hơn, thì họ nhìn chung, vẫn chưa hề quay lưng lại với Thiên Chúa. Một trường hợp điển hình chính là sự phát triển kinh tế vượt bậc tại Trung Cộng, dẫn theo sự gia tăng mạnh mẽ về tín ngưỡng tôn giáo.
Bằng việc dẫn chứng ra các dữ liệu thâu thập được từ Bộ Bách Khoa Kitô Giáo Thế Giới (World Christian Encyclopedia), bài báo trong tạp chí Chính Sách Ngoại Giao đã nêu ra 2 đức tin Kitô Giáo lớn nhất là Công Giáo và Tin Lành Giáo; và hai tôn giáo lớn nhất không phải là Kitô Giáo đó là Hồi Giáo và Hindu, đã gia tăng tỉ lệ phần trăm trong tổng số dân số thế giới trong năm 2000 so với một thế kỷ trước đây.
Cả 4 tôn giáo này tổng cộng chiếm khoảng 50% tổng dân số toàn cầu vào khởi điểm của thế kỷ thứ 20. Và tình trạng này đã tăng lên gần 64% vào đầu thế kỷ thứ 21, và nó còn có thể tăng lên gần 70% vào năm 2025.
Tân Chính Thống (Neo-Orthodoxy)
Thế nhưng sự gia tăng đột ngột của tôn giáo đã không được phân chia thành một cách đồng đều nhau, như Shah và Toft đã chỉ ra như vậy. Họ lập luận rằng: “Sự gia tăng đột ngột của tôn giáo trong thời đại ngày nay ít trở về với sự chính thống nguyên thủy của tôn giáo mà là một sự bùng nổ về các kiểu ‘tân chính thống’ mới.”
Những nhóm này đều có chung khả năng để tổ chức tốt và hiểu rõ được các chính sách. Họ cũng nhanh chúng áp dụng các kỷ thuật mới để đến được với những người có niềm tin tiềm năng, và diển dịch ra con số của họ thành sức mạnh chính trị. Thì đây đúng là trường hợp của những nhóm theo đạo Hindu tại Ấn Độ, nhóm Thân Hữu Hồi Giáo (Muslim Brotherhood) tại Ai cập, nhóm Hamas tại các lãnh thổ của Palestine và nhóm Trào Lưu Chính Thống (Pentecostal) tại Ba Tây.
Tuy nhiên, cũng có những quan ngại rằng những nhóm như vậy có thể quá cực đoan qua các quan điểm của họ và rằng họ có thể khởi sự những cuộc xung đột dân sự. Thế nhưng, thậm chí nếu có những khía cạnh tiêu cực vốn xuất phát từ việc sử dụng lòng nghiệt huyết tôn giáo đi chăng nữa, thì tôn giáo đã đóng một vai trò tích cực trong việc ủng hộ nền dân chủ và nhân quyền tại rất nhiều quốc gia.
Shah và Taft giải thích thêm về trường hợp của họ trong bài phỏng vấn được tải trên trang Web của Diễn Đàn Pew (Pew Forum) về Đời Sống Tôn Giáo và Công Cộng (Religion and Public Life). Trong bản văn của bài phỏng vấn đề ngày 18 tháng 7, họ ghi nhận rằng sự chú ý gấn đây được hướng về Hồi Giáo. Tuy nhiên, đây không phải là một vấn đề của Hồi Giáo, mà vấn đề của Hồi Giáo cần phải được hiểu trong một bối cảnh tôn giáo rộng lớn hơn trên thế giới.
Họ cũng nhìn nhận rằng một số các quốc gia tại Phương Tây, trong số đó có các quốc gia tại Châu Âu, Canada, và Nhật Bổn, chính là những quốc gia hoàn toàn theo đường lối trần tục. Thậm chí ngay cả như thế, thì những cuộc tranh luận về tôn giáo và các nhóm tôn giáo vẫn đóng một vai trò nào đó tại những quốc gia tục trần này. Chẳng hạn, tại Châu Âu, rất nhiều cuộc tranh luận vừa mới đây về những vấn đề như việc Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập vào Cộng Đồng Châu Âu hay vấn đề về di dân, vốn bao gồm luôn cả Hồi Giáo và vai trò của tôn giáo trong căn tính của Châu Âu.
Trong nổ lực minh chứng để minh chứng về sức mạnh của tôn giáo, Shah và Taft cho rằng (opine) một sự thay đổi đã bắt đầu vào cuối những năm thuộc thập niên 1960 và gia tăng lên vào những năm của thập niên 1970 và 1980. Tại phần thế giới đang phát triển, những nhà lãnh đạo và những ý thức hệ trần tục, vốn hứa hẹn có sự tiến bộ, đã bị hỏng đi. Đó là trường hợp tại cả hai nước: Ai Cập và Irăn.
Thất bại xảy ra kế tiếp của chủ nghĩa Cộng Sản Sô Viết đã làm tăng tốc lên tiến trình này, tạo ra một khoảng trống mà các nhóm tôn giáo có thể điền vào. Thêm vào đó, một số nhà lãnh đạo tôn giáo “tiên tri,” từ Gioan Phaolô Đệ Nhị đến các nhân vật Hồi Giáo, đã thể hiện sự ảnh hưởng rộng lớn của các vị này nơi những người có niềm tin trong những năm vừa qua. Việc huy động hóa những người có niềm tin tôn giáo tại Hoa Kỳ cũng đã là một yếu tố quan trọng trong việc gây ra ảnh hưởng về đời sống xã hội và chính trị, với những hệ quả cả bên trong lẫn bên ngoài Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, mãi cho đến gần đây, vai trò của tôn giáo đã được các nhà phân tích phần nào chú ý đến. Điều này đã làm thay đổi cả cục diện lý thuyết, và giờ đây các chính phủ đang phải chú trọng đến tôn giáo một cách nghiêm túc hơn.
Sự Hồi Sinh Toàn Cầu (Global Resurgence)
Một quan điểm khác về tôn giáo trong thế giới hiện đại đến từ Ronald Inglehart, chủ tịch của Công Ty Nghiên Cứu Các Giá Trị Thế Giới (World Values Survey), và là một Giáo Sư tại trường Đại Học Michigan. Một bản sao của bài phỏng vấn với Inglehart tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia (National Press Club) vào ngày 8 tháng 5, cũng có thể được tìm thấy trên trang Web của Pew. Cuộc nghiên cứu về những giá trị mới đây nhất, tức cuộc nghiên cứu lần thứ 5, hiện đang được thực hiện, với các kết quả sẽ được xuất bản vào năm tới.
Inglehart nhấn mạnh đến tính đa dạng của tình huống có liên quan đến tôn giáo. Tại rất nhiều quốc gia, tôn giáo đang sụt giảm. Thế nhưng, theo Ông, “ngày hôm nay càng ngày càng có nhiều người vẫn còn sống với những tín ngưỡng tôn giáo truyền thống hơn bầt kỳ thời gian nào khác trong lịch sử, và họ chiếm tỉ lệ rất lớn trong tổng số dân số thế giới hơn là cách đây 20 năm qua.”
Sự trần tục hóa thường gắn liền với những thay đổi về mặt kinh tế, mặc dầu Hoa Kỳ, chính là một ngoại lệ của tiến trình này. Thế nhưng, sự trần tục hóa chủ yếu xảy ra vào thời kỳ công nghiệp hóa, và nó vẫn còn đang được tiếp tục tại một số quốc gia mãi cho đến ngày hôm nay. Điều này đã dẩn tới một sự sút giảm về tôn giáo tại nhiều quốc gia và làm suy yếu đi những tổ chức tôn giáo đã được thành hình một cách quy củ trước đây. Tại rất nhiều quốc gia Tây Phương, chẳng hạn, việc đi dự Thánh Lễ cũng đã giảm xuống.
Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi khác đi tại các xã hội hậu thời kỳ công nghiệp hóa và dựa trên chất xám. Tại những quốc gia này, đang có một cuộc tranh luận ngày càng gia tăng lên về những vấn đề có liên quan đến các giá trị tôn giáo, chẳng hạn như, về vấn đề hôn nhân đồng tính.
Do đó, trong khi các giáo hội truyền thống có lẽ còn diện đối với rất nhiều thách đố, thế nhưng vẫn có sự thích thú rất lớn trong đại bộ phận dân số về các vấn đề có liên quan đến đời sống tâm linh. Tuy nhiên, những vấn đề của nền văn hóa và tôn giáo, có trọng lượng đáng kể hơn trong thế giới ngày nay.
Inglehart cũng nêu ra rằng có một sự khác biệt rõ ràng giữa các nước có nền kinh tế phát triển và các quốc gia đang phát triển. Sự thích thú mới về tôn giáo tại những quốc gia đã phát triển hoàn toàn khác hẳn vì họ ít chấp nhận về quyền tối cao và cố liên kết nó vào những tín ngưỡng của thời đại mới. Tuy nhiên, tại các quốc gia đang phát triển, có một sự nhấn mạnh có ý nghĩa về tôn giáo truyền thống và điều này đã không hề thay đổi trong những năm vừa qua. Đúng ra, họ không bị trần tục hóa và đang nhấn mạnh nhiều vào tôn giáo truyền thống.
Theo nhận xét của Inglehart, sự khác nhau trong các thái độ về tôn giáo này có thể là một nguồn xung đột.. Xung đột này là có thể được tránh khỏi, mặc dầu rất có tiềm năng xảy ra. Chính vì thế việc toàn cầu hóa vẫn chưa mang lại cùng với nó một sự phù hợp và hội tự rộng lớn hơn xét về các giá trị văn hóa và tôn giáo. Một tình huống như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ được cẩn thận nghiên cứu đến trong các năm tới.
Tôn Giáo Từ Chối Biến Mất Đi Trong Một Thế Giới Hiện Đại
NEW YORK (Zenit.org).- Chẳng có vẽ gì là mờ nhạt cả dưới bóng râm của sự tân tiến và thịnh vượng, sự hăng hái về tôn giáo, thật sự mà nói, đang ngày càng phát triển lên. Đây chính là kiểu lập luận của một bài báo có nhan đề, “Tại Sao Thiên Chúa Đang Chiến Thắng?” (Why God Is Winning?) được xuất bản trong số ra Tháng 7 và 8 của tạp chí Chính Sách Ngoại Giao (Foreign Policy).
| Giáo sư Ronald Inglehart |
Sau cuộc bầu cử, một ủng hộ viên của Hamas đã thay lá cờ tung bay trên nghị viện bằng một biểu ngữ tuyên bố về Mohammad. Chẳng bao lâu sau đó rất nhiều cuộc phản đối trong bạo động đã bùng nổ ra tại nhiều quốc gia qua việc xuất bản của các tranh biếm họa về Mohammad, và việc đó đã cung cấp thêm bằng chứng cho thấy được sức mạnh của lòng nhiệt huyết Hồi Giáo.
Shah và Toft cho rằng, đây không phải là một sự cố riêng lẽ hoặc ngẫu nhiên gì cả. Họ nói: “Mọi tiếng nói đòi hỏi uy quyền tối cao đang tràn ngập lấy các quãng trường công cộng và đang chiến thắng được những cuộc thử thách chính trị lớn.”
Kiểu chính trị được phấn khích lên từ tôn giáo đã từng đóng một vai trò rất quan trọng trong những tình huống như: cuộc chiến đấu chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc apartheid tại Nam Phi, và chiến thắng của những người theo chủ nghĩa dân tộc của đạo Hindu tại Ấn Độ vào năm 1998.
Tại Hoa Kỳ, những người Tin Lành đã đóng một vai trò ngày càng quan trọng hơn trong các cuộc bầu cử vào những năm vừa đây. Bài báo nhận xét rằng: “Nền Dân Chủ đang tạo cho các dân tộc trên thế giới có được tiếng nói riêng của họ, và họ muốn nói về Thiên Chúa.”
Sự củng cố của tôn giáo đang xảy ra vào thời điểm mà nền dân chủ và sự tự do đã được lan tràn trên khắp thế giới. Việc cởi mở của các tiến trình chính trị tại những quốc gia như: Ấn Độ, Nigeria, Thổ Nhĩ Kỳ, và Indonêsia trong suốt thập kỷ vừa qua đã dẫn đến một sự ảnh hưởng mạnh mẽ hơn của tôn giáo trong đời sống chính trị.
Một khuynh hướng tương tự cũng đã xảy ra trong đời sống kinh tế. Thậm chí mặc dầu sự nghèo đói vẫn còn là một vấn nạn trầm trọng tại nhiều quốc gia, thế nhưng càng ngày càng có nhiều người được thoải mái hơn về mặt kinh tế. Thế nhưng khi dân số thế giới trở nên giàu có hơn và được giáo dục nhiều hơn, thì họ nhìn chung, vẫn chưa hề quay lưng lại với Thiên Chúa. Một trường hợp điển hình chính là sự phát triển kinh tế vượt bậc tại Trung Cộng, dẫn theo sự gia tăng mạnh mẽ về tín ngưỡng tôn giáo.
Bằng việc dẫn chứng ra các dữ liệu thâu thập được từ Bộ Bách Khoa Kitô Giáo Thế Giới (World Christian Encyclopedia), bài báo trong tạp chí Chính Sách Ngoại Giao đã nêu ra 2 đức tin Kitô Giáo lớn nhất là Công Giáo và Tin Lành Giáo; và hai tôn giáo lớn nhất không phải là Kitô Giáo đó là Hồi Giáo và Hindu, đã gia tăng tỉ lệ phần trăm trong tổng số dân số thế giới trong năm 2000 so với một thế kỷ trước đây.
Cả 4 tôn giáo này tổng cộng chiếm khoảng 50% tổng dân số toàn cầu vào khởi điểm của thế kỷ thứ 20. Và tình trạng này đã tăng lên gần 64% vào đầu thế kỷ thứ 21, và nó còn có thể tăng lên gần 70% vào năm 2025.
Tân Chính Thống (Neo-Orthodoxy)
Thế nhưng sự gia tăng đột ngột của tôn giáo đã không được phân chia thành một cách đồng đều nhau, như Shah và Toft đã chỉ ra như vậy. Họ lập luận rằng: “Sự gia tăng đột ngột của tôn giáo trong thời đại ngày nay ít trở về với sự chính thống nguyên thủy của tôn giáo mà là một sự bùng nổ về các kiểu ‘tân chính thống’ mới.”
Những nhóm này đều có chung khả năng để tổ chức tốt và hiểu rõ được các chính sách. Họ cũng nhanh chúng áp dụng các kỷ thuật mới để đến được với những người có niềm tin tiềm năng, và diển dịch ra con số của họ thành sức mạnh chính trị. Thì đây đúng là trường hợp của những nhóm theo đạo Hindu tại Ấn Độ, nhóm Thân Hữu Hồi Giáo (Muslim Brotherhood) tại Ai cập, nhóm Hamas tại các lãnh thổ của Palestine và nhóm Trào Lưu Chính Thống (Pentecostal) tại Ba Tây.
Tuy nhiên, cũng có những quan ngại rằng những nhóm như vậy có thể quá cực đoan qua các quan điểm của họ và rằng họ có thể khởi sự những cuộc xung đột dân sự. Thế nhưng, thậm chí nếu có những khía cạnh tiêu cực vốn xuất phát từ việc sử dụng lòng nghiệt huyết tôn giáo đi chăng nữa, thì tôn giáo đã đóng một vai trò tích cực trong việc ủng hộ nền dân chủ và nhân quyền tại rất nhiều quốc gia.
Shah và Taft giải thích thêm về trường hợp của họ trong bài phỏng vấn được tải trên trang Web của Diễn Đàn Pew (Pew Forum) về Đời Sống Tôn Giáo và Công Cộng (Religion and Public Life). Trong bản văn của bài phỏng vấn đề ngày 18 tháng 7, họ ghi nhận rằng sự chú ý gấn đây được hướng về Hồi Giáo. Tuy nhiên, đây không phải là một vấn đề của Hồi Giáo, mà vấn đề của Hồi Giáo cần phải được hiểu trong một bối cảnh tôn giáo rộng lớn hơn trên thế giới.
Họ cũng nhìn nhận rằng một số các quốc gia tại Phương Tây, trong số đó có các quốc gia tại Châu Âu, Canada, và Nhật Bổn, chính là những quốc gia hoàn toàn theo đường lối trần tục. Thậm chí ngay cả như thế, thì những cuộc tranh luận về tôn giáo và các nhóm tôn giáo vẫn đóng một vai trò nào đó tại những quốc gia tục trần này. Chẳng hạn, tại Châu Âu, rất nhiều cuộc tranh luận vừa mới đây về những vấn đề như việc Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập vào Cộng Đồng Châu Âu hay vấn đề về di dân, vốn bao gồm luôn cả Hồi Giáo và vai trò của tôn giáo trong căn tính của Châu Âu.
Trong nổ lực minh chứng để minh chứng về sức mạnh của tôn giáo, Shah và Taft cho rằng (opine) một sự thay đổi đã bắt đầu vào cuối những năm thuộc thập niên 1960 và gia tăng lên vào những năm của thập niên 1970 và 1980. Tại phần thế giới đang phát triển, những nhà lãnh đạo và những ý thức hệ trần tục, vốn hứa hẹn có sự tiến bộ, đã bị hỏng đi. Đó là trường hợp tại cả hai nước: Ai Cập và Irăn.
Thất bại xảy ra kế tiếp của chủ nghĩa Cộng Sản Sô Viết đã làm tăng tốc lên tiến trình này, tạo ra một khoảng trống mà các nhóm tôn giáo có thể điền vào. Thêm vào đó, một số nhà lãnh đạo tôn giáo “tiên tri,” từ Gioan Phaolô Đệ Nhị đến các nhân vật Hồi Giáo, đã thể hiện sự ảnh hưởng rộng lớn của các vị này nơi những người có niềm tin trong những năm vừa qua. Việc huy động hóa những người có niềm tin tôn giáo tại Hoa Kỳ cũng đã là một yếu tố quan trọng trong việc gây ra ảnh hưởng về đời sống xã hội và chính trị, với những hệ quả cả bên trong lẫn bên ngoài Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, mãi cho đến gần đây, vai trò của tôn giáo đã được các nhà phân tích phần nào chú ý đến. Điều này đã làm thay đổi cả cục diện lý thuyết, và giờ đây các chính phủ đang phải chú trọng đến tôn giáo một cách nghiêm túc hơn.
Sự Hồi Sinh Toàn Cầu (Global Resurgence)
Một quan điểm khác về tôn giáo trong thế giới hiện đại đến từ Ronald Inglehart, chủ tịch của Công Ty Nghiên Cứu Các Giá Trị Thế Giới (World Values Survey), và là một Giáo Sư tại trường Đại Học Michigan. Một bản sao của bài phỏng vấn với Inglehart tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia (National Press Club) vào ngày 8 tháng 5, cũng có thể được tìm thấy trên trang Web của Pew. Cuộc nghiên cứu về những giá trị mới đây nhất, tức cuộc nghiên cứu lần thứ 5, hiện đang được thực hiện, với các kết quả sẽ được xuất bản vào năm tới.
Inglehart nhấn mạnh đến tính đa dạng của tình huống có liên quan đến tôn giáo. Tại rất nhiều quốc gia, tôn giáo đang sụt giảm. Thế nhưng, theo Ông, “ngày hôm nay càng ngày càng có nhiều người vẫn còn sống với những tín ngưỡng tôn giáo truyền thống hơn bầt kỳ thời gian nào khác trong lịch sử, và họ chiếm tỉ lệ rất lớn trong tổng số dân số thế giới hơn là cách đây 20 năm qua.”
Sự trần tục hóa thường gắn liền với những thay đổi về mặt kinh tế, mặc dầu Hoa Kỳ, chính là một ngoại lệ của tiến trình này. Thế nhưng, sự trần tục hóa chủ yếu xảy ra vào thời kỳ công nghiệp hóa, và nó vẫn còn đang được tiếp tục tại một số quốc gia mãi cho đến ngày hôm nay. Điều này đã dẩn tới một sự sút giảm về tôn giáo tại nhiều quốc gia và làm suy yếu đi những tổ chức tôn giáo đã được thành hình một cách quy củ trước đây. Tại rất nhiều quốc gia Tây Phương, chẳng hạn, việc đi dự Thánh Lễ cũng đã giảm xuống.
Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi khác đi tại các xã hội hậu thời kỳ công nghiệp hóa và dựa trên chất xám. Tại những quốc gia này, đang có một cuộc tranh luận ngày càng gia tăng lên về những vấn đề có liên quan đến các giá trị tôn giáo, chẳng hạn như, về vấn đề hôn nhân đồng tính.
Do đó, trong khi các giáo hội truyền thống có lẽ còn diện đối với rất nhiều thách đố, thế nhưng vẫn có sự thích thú rất lớn trong đại bộ phận dân số về các vấn đề có liên quan đến đời sống tâm linh. Tuy nhiên, những vấn đề của nền văn hóa và tôn giáo, có trọng lượng đáng kể hơn trong thế giới ngày nay.
Inglehart cũng nêu ra rằng có một sự khác biệt rõ ràng giữa các nước có nền kinh tế phát triển và các quốc gia đang phát triển. Sự thích thú mới về tôn giáo tại những quốc gia đã phát triển hoàn toàn khác hẳn vì họ ít chấp nhận về quyền tối cao và cố liên kết nó vào những tín ngưỡng của thời đại mới. Tuy nhiên, tại các quốc gia đang phát triển, có một sự nhấn mạnh có ý nghĩa về tôn giáo truyền thống và điều này đã không hề thay đổi trong những năm vừa qua. Đúng ra, họ không bị trần tục hóa và đang nhấn mạnh nhiều vào tôn giáo truyền thống.
Theo nhận xét của Inglehart, sự khác nhau trong các thái độ về tôn giáo này có thể là một nguồn xung đột.. Xung đột này là có thể được tránh khỏi, mặc dầu rất có tiềm năng xảy ra. Chính vì thế việc toàn cầu hóa vẫn chưa mang lại cùng với nó một sự phù hợp và hội tự rộng lớn hơn xét về các giá trị văn hóa và tôn giáo. Một tình huống như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ được cẩn thận nghiên cứu đến trong các năm tới.